Hôm nay,  

Chiếc xe cũ

25/09/202216:49:00(Xem: 4726)
Truyện ngắn

xecu

Vợ chồng chị Bông quyết định bán chiếc Acura cũ với giá 4,500 đồng. Thời buổi dịch bệnh Covid làm kinh tế thế giới đảo điên, mọi thứ đều lên giá ầm ầm, nhà cửa xe cộ nơi nào cũng hot, cũng cao giá. Như thuở yên lành “xưa” thì chiếc xe đời cũ này phải vừa bán vừa cho với giá rẻ bèo.  Ban đầu định rao bán trên net trên báo cho nhanh nhưng chị Bông chợt nhớ đến Mohamed, lần đến nhà sửa xe Acura cho chị Bông gần đây nhất Mohamed đã dặn dò: Khi nào chị muốn bán xe này thì gọi tôi. Thế là chị Bông liền nhắn tin cho anh ta.

 

Mohamed là thợ sửa xe chuyên nghiệp làm việc cho một tiệm sửa xe của đồng hương anh ta trong thành phố này. Mohamed là hàng xóm chị Bông trước kia, sau anh ta dọn nhà nơi khác gần trường học con cái nhưng tình hàng xóm vẫn còn nhờ những lần xe cộ hư hỏng vợ chồng chị Bông đều gọi Mohamed đến tận nhà xem xét hay sửa chữa nếu có thể, anh ta biết điều, luôn làm việc chân thật và giá cả hợp lý nên chị Bông rất tin cậy.

 

Mohamed đến cùng với thằng con trai tuổi độ đôi mươi, anh ta xem xét trong ngoài chiếc xe lần nữa, cho thằng con tha hồ chạy thử trong khi đứng nói chuyện với vợ chồng chị Bông ngoài sân. Người di dân đạo Hồi này chăm chỉ làm ăn và dành dụm như người Việt tị nạn chúng ta, Mohamed từng kể ước mơ khi đến Mỹ là các con sẽ ăn học nên người. Nước Mỹ chẳng phải là thiên đường hoàn hảo, cũng có bao chuyện đau buồn, nhưng nước Mỹ vẫn là thiên đường ước mơ của bao di dân trên thế giới. Thằng con lớn của Mohamed đang học đại học dự tính sẽ học y khoa. Nó đang cần có một chiếc xe.

 

Chiếc Acura đời 1999 nhưng mới chạy hơn 130 ngàn mile. Thằng con đã lái thử xe cả chục phút mới quay về, nó vừa ý thế là Mohamed trả giá chiếc xe xuống còn 4,000 đồng. Chị Bông đồng ý bán, dù có rẻ hơn ý muốn của mình nhưng chiếc xe Acura thân yêu của chị vào nhà Mohamed chị yên tâm, xe sẽ luôn luôn được sửa chữa tu bổ, sẽ chạy thêm cả chục năm nữa và nhất là có ngày chị sẽ gặp Mohamed là có ngày chị sẽ gặp lại chiếc xe. Mohamed ký check trả tiền, chị Bông trao giấy xe cho anh ta. Hai cha con ra về. Chị Bông bỗng nhiên bồi hồi, từ giây phút này người ngồi vào xe không là mình nữa khi nhìn thằng con của Mohamed mở cửa xe ngồi vào chiếc ghế mà chị đã từng ngồi và cái tay lái kia chị đã từng quen thuộc bàn tay đặt chỗ nào thoải mái nhất, thuận tiện nhất. Nó lái xe vèo một cái ra khỏi góc phố, chị phản ứng tự nhiên chạy theo vài bước làm anh Bông phải ngạc nhiên… níu áo cản lại:

 

– Ơ kìa! Bà tính chạy đi đâu đấy?

 

– Chiếc xe Acura… của em!

 

– Xe nào của bà? Title xe đã đưa cho Mohamed, tiền người ta trả bà còn cầm trong tay kìa.

 

Chị Bông vẫn còn ngẩn ngơ như người vừa… mất của:

 

– Nhưng sao em vẫn cứ tiếc chiếc xe. Em quên mất… em quên mất…

 

Anh Bông cũng ngẩn ngơ:

 

– Bà làm gì mà thất thần lên thế? Bà quên gì trong xe? Bà có vàng bạc kim cương gì đâu chứ.

 

– Em quên lúc nãy không đứng bên cạnh chiếc xe chụp vài tấm hình làm kỷ niệm giây phút cuối chiếc xe còn thuộc về mình, ở bên mình trước khi chúng ta đồng ý bán cho Mohamed.

 

Anh Bông kêu lên:

 

– Ôi giời, bán chiếc xe cũ mà bà cũng đa sầu đa cảm. Tôi biết thế nào bà cũng sẽ làm bài thơ than thở thương thương nhớ nhớ chiếc xe cũ rích ấy.

 

Chị Bông rưng rưng:

 

– Cuộc đời phù du quá, nay của mình mai của người khác.

 

Là sự trao đổi mua bán. Bà chỉ nói chuyện huề vốn. Anh Bông chỉ tay vào garage:

 

– Đó, bà tha hồ chụp hình với xe Honda Accord kia đi, sau này thành xe cũ có bán đi bà sẽ có một đống hình kỷ niệm.

 

Anh Bông vô tâm chẳng hiểu vợ gì cả. Đúng là một chiếc xe cũ rích, chiếc Acura đời 1999 ấy, người khác thì đã bán nó từ hồi nào rồi thế mà chị Bông vẫn yêu thích đi chiếc xe Acura. Nó là kỷ niệm của thằng con, là chiếc xe đầu tiên trong đời nó, khi vừa ra trường là mua ngay chiếc xe mới tinh để đi làm. Xe kiểu thể thao hai cửa, mui xe có thể mở ra đóng vào. Nó đã yêu thích nâng niu giữ gìn chiếc xe không một vết dơ bẩn từ trong ra ngoài làm chị Bông thương con thương cả… xe của con. Vậy mà đi được mấy năm nó chán và muốn mang ra dealer đổi xe khác. Chị Bông luôn thương tiếc kỷ niệm và tiếc chiếc xe còn mới mang ra dealer sẽ bị trả rẻ nên chị đưa tiền cho con để “mua lại” chiếc Acura. Bây giờ con sống ở tiểu bang khác, chiếc xe Acura càng là kỷ niệm chị chẳng muốn rời xa.

 

Thế là chiếc xe Acura thể thao đã thuộc về chị Bông người luôn lái xe với tốc độ khiêm nhường trên đường phố đôi khi bị người xe sau bực mình bóp còi giục giã. Nhà vẫn có hai xe khác, một Toyota của chị Bông và một xe truck của anh Bông mà hai vợ chồng vẫn lái đi làm, bây giờ chị Bông lái thêm chiếc Acura, đi chợ và quanh quẩn trong thành phố. Mười mấy năm qua chị vẫn dùng cả hai xe cho đến khi chiếc xe Toyota bị tai nạn, người xe sau không kịp thắng đã tông xe vào đuôi xe Toyota làm hư hỏng khá nặng nên chị Bông đã bán đi. Chiếc xe Acura còn ở lại, dù đã thuộc hàng “đồ cổ” nhưng tuổi mile thì vẫn còn trẻ.

 

Vợ chồng chị Bông đã mua một chiếc xe Honda Accord đời mới nhưng chị Bông không nỡ phế thải chiếc xe Acura ân tình này dù anh Bông đã nhiều lần thúc giục bán xe cũ để chỉ đi xe mới.

Chị Bông đã sử dụng chiếc xe Acura nhiều hơn chiếc Honda Accord. Chiếc xe Acura đã đưa chị Bông đi làm, đi các chợ búa, văn phòng bác sĩ, v.v... Chiếc xe đã trải qua bao mùa cùng chị rong ruổi ngoài đường, lúc gấp gáp hay lúc thong thả vừa lái xe vừa nhìn trời mây, nhìn cây lá bên đường. Mỗi mùa Đông chiếc xe vẫn tử tế nổ máy ngon lành dù nằm ở ngoài trời cửa kính xe lạnh đến đông đá, thành ra chiếc Honda Accord vẫn nằm thường trú trong garage thỉnh thoảng vợ chồng chị Bông mới dùng đến hay mỗi lần người thân từ phương xa về chơi chị Bông đều đưa xe Honda Accord để người nhà đi cho thoải mái và cho xe… nóng máy.

 

Anh Bông nói phải chi nhà mình ở trong farm đất rộng riêng tư thì sẽ dành một chỗ làm… bảo tàng viện cho chị Bông trưng bày chiếc xe Acura làm kỷ niệm suốt đời. Anh năn nỉ chị Bông bán xe cho đỡ chật sân thậm chí đe dọa nếu không đi xe Honda Accord thì năm mười năm nữa chiếc xe Honda Accord lại là tuổi đời già nhưng tuổi mile trẻ, lại là chiếc xe kỷ niệm, là “đồ cổ” trong nhà không bao giờ dứt thì chị Bông mới đành lòng đồng ý bán chiếc xe Acura.

 

Chị Bông vào nhà mà lòng vẫn ngậm ngùi thương tiếc chiếc xe Acura. Cầm vài ngàn trong tay sẽ tiêu hết nhưng hình ảnh thân thương thì đã xa. Chiếc xe Acura đến với nhà này khi còn mới còn trẻ và chỉ hư cũ già đi theo thời gian, gần gũi như người thân, là chiếc xe may mắn và dễ thương, suốt 20 năm trời không xảy ra tai nạn lớn nhỏ nào.

 

Chị Bông hỏi thầm một mình: “Xe ơi, về với người mới rồi có nhớ tôi không? Cám ơn xe đã là “bạn đường” đầu tiên và yêu mến của con tôi, ghi dấu thời điểm con tôi mới đi làm kiếm tiền, ngày ngày xe đã đưa nó đi làm và về nhà. Cám ơn xe lại là “bạn đường” của tôi, đã cùng tôi đi tiếp bao nhiêu dặm đường, bao nhiêu tháng năm, bao lúc thời tiết nóng lạnh gió mưa trong thành phố nhỏ này. “Bạn đường” ơi, bạn đã gần gũi mẹ con tôi, đã đưa chúng tôi đi đến nơi về đến chốn bình yên thế nào thì nay về với người ta cũng yên bình thế ấy nhá”.

 

Nguyễn Thị Thanh Dương

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Những dòng ký sự và nhận định sau đây, tường thuật lại những biến cố xảy ra tại Trường Y Sàigòn từ năm 1967-1971 và sau đó...do sự can thiệp của phái bộ Hội Đoàn Bác sĩ Mỹ -American Medical Association tại Saigòn (AMA-SAIGON) vào nội bộ Trường Y Saigon. Những sử liệu của bài nhận định này đều dựa trên những điều tường thuật của quyển sách thời danh SAIGON MEDICAL SCHOOL do 3 người viết: CH William Ruhe MD, Norman Hoover MD và Ira Singer PhD, tất cả ba vị này đều là nhũng người lãnh đạo và cố vấn cho cuộc can thiệp của phái bộ AMA vàoTrường Y Saigon từ năm 1967. Tập sách SAIGON MEDICAL SCHOOL do chính cơ quan AMA, xuất bản tại Mỹ năm 1988.
Dạo đó, đầu thập niên 70, dưới giàn hoa giấy, trong khoảng sân nhỏ nhà chúng tôi, thỉnh thoảng có những người lính thuộc mọi binh chủng của Quân lực VNCH. Họ ngồi hút thuốc, hay tay đàn miệng hát vì trong cư xá Đoàn Văn Cự ở Biên Hòa có khá nhiều chị đang học lớp 12 rất đẹp. Nhà chúng tôi ở đầu cư xá nên các chị thường phải đi ngang nhà chúng tôi trước khi về nhà mình.
Mẹ tôi bán thuốc tây để dành được một ít tiền cho chị em tôi đi vượt biên. Chuyến đầu mẹ cho ba chị em tôi đi nhưng bị đổ bể, đợt hai mẹ cho chị tôi đi với gia đình dì, và được Cap Anamur Đức vớt, đưa đến Đức vào năm 80. Một năm sau mẹ gửi hai anh em tôi cho cô chủ tàu ở Cần Thơ và chúng tôi được đưa lên tàu đánh cá nhỏ có 89 người.Thuyền rời bến, ngày đầu chúng tôi được phát nước uống, qua ngày thứ hai thì không còn giọt nước nào. Lúc đó vào tháng năm, nắng nóng, thuyền lại không có mui che nên ai cũng mệt lả, thuyền đông người lại quá chật hẹp không cựa quậy gì được, tôi chỉ cần nhút nhích một chút là bị người ta nhéo. Lúc đó tôi chỉ thấy chung quanh là biển rộng mênh mông, tôi nhớ nhà và cầu mong sao cho bị bắt để được về nhà lại.Trên thuyền bắt đầu có một chị bị sảng vì thiếu nước uống, rồi thì không biết ai đó lấy lon Guigoz truyền nước uống cho nhau nhưng ai hớp vô rồi cũng phun ra vì đó là nước biển, mặn quá, tôi cũng không ngoại lệ.
Trời Chicago cuối tháng Tư vẫn còn lạnh. Tuy thế anh em đi dự buổi họp điều-trị-tâp-thể đông hơn thường lệ. Nhiều anh em sĩ quan ở các nhóm khác, không phải họp hôm nay, họ cũng đến. Phòng họp dành cho buổi điều-trị-tập-thể của các anh em sĩ quan H.O. tại Asian Human Services -Chicago rộng rãi và tươm tất, được trang hoàng trang nhã với những bức tranh ấn tượng của Claude Monet, màu sắc hàì hòa gợi nhớ về một thuở thanh bình.
Thôi thì khỏi nói, mọi người tay bắt mặt mừng, ai ai cũng vui như hội. Bà Tám đầu hẻm oang oang: - Thằng nhỏ coi bộ phổng phao ghê vậy ta, hồi còn ở đây gầy nhom, da bánh mật. Nó qua bển một thời gian giờ thay da đổi thịt quá, nếu đi ngoài đường chắc tui nhận hổng ra. Cả nhà quây quần tíu tít, bia bọt khui lốp bốp. Tuị bạn ngày xưa bá vai kề cổ giờ cũng ra ông nọ bà kia hết trơn. Chỉ có mỗi thằng An là lẹt đẹt làm anh công chức quèn thôi!
Kính Anh Chị Lê Thanh Tôi nhận được thư anh chị cách đây mươi ngày. Tôi định viết thư trả lời anh chị hay liền, và cám ơn anh chị đã nhiệt tình đỡ đầu hai quyển sách đầu tay của tôi mà tôi tự xuất bản. Nhưng không hiểu tại sao tôi mãi chần chờ. Đêm nay, tự dưng thức giấc, đọc lại thư anh viết, lòng cảm thấy bồn chồn. Lời thư anh mộc mạc, ngắn gọn, chứa chan tình cảm và nhiều suy nghĩ. Suy nghĩ của anh, của người tuổi đã ngoài 70. Anh đã đi qua nhiều chặng đường lịch sử của đất nước.
Như mọi buổi sáng, tôi vừa dùng điểm tâm vừa xem tin tức trên Internet. Sau đó, tôi vào Inbox để xem emails của bạn hữu. Khi thấy youtube tình khúc Hai Vì Sao Lạc – do ông Trần Nắng Phụng chuyển – cũng là lúc tôi chợt nhớ trái avocado để quên nơi bếp. Tôi “bấm” vào youtube rồi rời phòng computer, đi xuống lầu, với dụng ý khi tôi trở lên thì phần nhạc dạo đầu sẽ chấm dút.
Tháng ba, dường như mùa đông chỉ mới bắt đầu sau một tháng thời tiết ấm áp. Nấc đo màu đỏ của hàn thử biểu nằm trên dương độ và có khi vượt qua khỏi con số mười. Mọi người hân hoan cho rằng Paris năm nay không có mùa đông. Nhưng những cơn mưa ướt át, những luồng gió lạnh lẽo từ một cơn bão nào đó đã ào ạt thổi về trên phố từ mấy ngày nay. Con đường trước nhà lúc nào cũng vắng hay tôi chỉ nhìn thấy nó mỗi khi không còn ai. Thói quen trước khi vào giường ngủ và thức dậy khi đêm chuẩn bị tạ từ. Đèn vàng và sương mù, những ngôi nhà, cây cành đổ bóng ngoài khung cửa là nơi của quá khứ tôi, nơi hồi tưởng, dù vui dù buồn. Nhớ lại trong đêm nay… cả trăm điều muốn khóc1, một lời hát lấy từ một bài thơ của một nhà thơ quá cố mà tôi rất thích và tôi nghĩ đâu phải riêng tôi mới có cả trăm điều muốn khóc. Của chúng ta, bao người ly hương, làm gì lại chẳng có những đêm nhớ lại với trăm điều.
Thứ hai 6 tháng 4 South Carolina tiểu bang cuối cùng của các tiểu bang nằm dọc theo phía Đông của sông Mississippi (giòng sông dài thứ nhì của Bắc Mỹ) ban hành lệnh "Shelter in place". Cùng lúc, Indiana kéo dài "lệnh cấm túc" thêm 14 ngày nữa trên toàn tiểu bang.
Bài viết này lấy cảm hứng từ tựa đề của một tác phẩm nổi tiếng trong nền văn học Việt Nam Cộng Hoà. Đó là tựa đề “Những người không chịu chết” (1972), một trong những vở kịch nổi tiếng của kịch tác gia Vũ Khắc Khoan. Lúc vở kịch ra đời, tôi hãy còn nhỏ lắm, nhưng cũng phần nào đủ trí khôn để thưởng thức vở kịch này. Tôi được đọc vở kịch trước rồi sau mới xem kịch trên truyền hình. Đã mấy mươi năm rồi nên bây giờ tôi chỉ còn nhớ lờ mờ rằng vở kịch đó nói về một nhóm tượng người mẫu, cứ đêm đêm đêm lại trở thành người, sống, ăn nói và sinh hoạt như bao con người bình thường khác, với đầy đủ tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, thất tình lục dục. Bài viết này mượn cảm hứng đó để nói về—không hẳn chỉ là những con người—mà còn là những thực thể khác, cũng không hề chịu chết, qua dòng lịch sử nghiệt ngã của nước Việt, tính từ ngày 30 tháng Tư năm 1975.
Tiếng giày cao gót lụp cụp tiếp theo sự xuất hiện của một cô gái làm Vinh ngơ ngẩn đến lặng người. Trời ơi! Sao trên đời lại có người đẹp thế này! Nàng mặc nguyên cái áo dài màu xanh da trời đồng phục của tiếp viên hàng không Air VietNam với huy hiệu rồng vàng nổi bật trên cổ áo ôm lấy một bờ ngực vun đầy và vòng eo chết người. Gương mặt trái soan với đôi má hây hây điểm trên làn da trắng mịn màng, bờ môi mộng đỏ hình trái tim, cộng thêm đôi mắt bồ câu đen long lanh với viền mi cong vút dài rậm(thiệt đúng là chí lớn trong thiên hạ không đong đầy đôi mắt mỹ nhân). Tất cả như muốn nhốt cả hồn Vinh trong ngây dại chìm đắm.
Tiếng niệm chú rì rầm trầm hùng vang rền cả đại điện, bóng các tăng sĩ trong màu áo huyết dụ lắc lư, tay lần tràng hạt trong ánh đèn bơ lung lay trông thành kính vô cùng. Toàn bộ mọi người như nhập thần vào câu chú, thân người ngồi đó mà thần thức như ở cung trời nào chứ chẳng phải trên mặt đất này. Khói trầm phảng phất bay lên, pho tượng Phật trên toà tay bắt ấn kiết tường, mắt mở to như nhìn thấu những tấn tuồng của trò đời, thông suốt những nỗi đau của chúng sanh, biết tường tận tâm can của của mỗi người.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.