Hôm nay,  

Mồ chôn tình yêu

01/10/202211:21:00(Xem: 3542)

Truyện ngắn

couple-in-trouble

Thế rồi cái ngày mơ ước ấy cũng đến, đám cưới thật linh đình, nhạc xập xình mấy ngày liền. Y rạng rỡ hanh phúc, dáng thẳng thớm hãnh diện làm cây tùng bên cô dâu e lệ khép nép. Họ hàng và bạn bè chúc tụng quá trời, hoa lá bày biện khắp trong nhà ngoài ngõ, quà cáp, bao thơ ngập mặt luôn. Y ngỡ mình đang ở thiên đàng, một thiên đàng sung sướng hạnh phúc có thật trên mặt đất. Y thầm nghĩ mình có phước cưới được vợ hiền, cuộc sống phong lưu đầy đủ, đời đẹp như thế thì còn có gì hơn!

 

Thế rồi những ngày trăng mật cũng qua nhanh như nước chảy qua cầu. Y trở lại mặt đất bước ra khỏi thiên đàng để tiếp tục cuộc sống thực tại, tuy nhiên dư âm mật ngọt của thiên đường vẫn còn nên cứ tủm tỉm cười một mình, mặt mày sáng láng tươi tắn chưa có dấu hiệu gì để nhận biết là khuôn mặt của đời thường. Y thường đọc sách và nhớ đâu đó bên tây hay bên Tàu có danh nhân đã từng nói: “Hôn nhân là mồ chôn của tình yêu”hoặc giả là “Hôn nhân là dịch bài thơ ra văn xuôi”… Y không tin, y phản bác mạnh lắm. Y bảo: “Chắc khứa lão nói câu ấy bị bà hành quá nên quạu”. Ngay từ hồi còn yêu chưa cưới vợ, y đã tin chắc là vị danh nhân nào nói câu đó hoàn toàn sai, chỉ vì ông ta không được hạnh phúc trong đời sống vợ chồng.

 

Thế rồi thời gian qua mau như nước chảy mây bay, trăng mật ong dần dần chuyển thành mật gấu, mật cóc, mật cá trắm...Y thấm dần, cứ như thể mưa dầm thấm lâu, sự cảm nhận thẩm thấu  mật gấu của y cũng thế, từ từ từng chút một, ấy vậy mà cũng đến lúc đầy lên tận cổ.

 

Thực tình mà nói thì vợ y cũng xinh, mắt môi thanh tú, dáng nhỏ lưng ong, đã thế hay lam hay làm, đảm đang chăm chỉ, thủy chung, đứng đắn, đo ngắn cắn dài, ghen dai nhớ kỹ, tính toán chi li, diễn suy bá láp, rập khuôn thủ cựu… hễ y mà ra khỏi nhà là lập tức điện thoại cầm tay đổ chuông liên hồi, vợ gọi tới tấp, bất kể giờ giấc nơi chốn mà y đang có mặt. Y từng nhắc vợ đừng gọi khi đang bận họp, vợ không quan tâm. Khi đang lái xe, vợ cũng mặc kệ. Vợ gọi là gọi, nhiều lúc đang nhậu với bạn bè, vợ gọi gắt quá. Bạn nhậu cười: –

 

– Rồi, bà lớn đang nóng ruột, mẹ thằng cu sợ bố thằng cu ngửi hoa bắt bướm.

 

Bạn nhậu ghẹo quá, y bèn tắt điện thoại cá nhân, đêm ấy về, vợ không mở cửa, y phải dùng chìa khóa phụ để mở cửa vào, cả mấy ngày sau tổ uyên ương lạnh như hang băng của gấu tuyết. Vợ đóng mặt lạnh như hình sự điều tra. Y phải thấp giọng hạ mình xuống năn nỉ:

 

– Em yêu, anh chỉ nhậu với bạn bè thôi mà! Hổng có bướm hoa gì hết ráo.

 

Y kì kèo năn nỉ mãi vợ mới chịu mở miệng, lên giọng:

 

– Tại sao anh không bắt phone?

 

– Em gọi nhiều quá, bạn bè ghẹo nên anh mới tắt máy.

 

– Anh coi bạn hơn vợ à?

 

– Đâu phải vậy, bạn là bạn vợ là vợ, sao mà so sánh được hả?

 

– Anh trọng ăn nhậu bù khú bạn bè hơn vợ ở nhà, vậy anh theo bạn nhậu luôn chứ về làm gì?

 

– Hổng phải đâu em, vợ là nhất rồi nhưng sống ở đời cũng cần có bạn bè giao tiếp chứ!

 

– Bạn gì? Toàn bọn ăn nhậu dê xồm, uống đã đời rồi gái gú bậy bạ ai mà biết.

 

– Trời, nhậu vui thôi em, rất trong sáng, hổng có gái gú ghệ gì đâu.

 

– Ai àm biết được nhóm đàn ông mấy anh, ngoài bàn nhậu thì sáng mà trong phòng tối hù, coi chừng có ngày bị si đa, giang mai, lậu… à nha.

 

Có những ngày sau buổi làm việc, y đi tập gym cho khỏe mạnh, bớt uể oải sau những giờ ngồi lì ở văn phòng. Vợ chẳng những không thông cảm mà lại còn mỉa mai:

 

– Tập tành gì? Bày đặt đi gym để đàn đúm, hổng chừng đi riết rồi thành bóng xà bang.

Vợ nói mặc vợ, y cứ đi tập gym sau mỗi buổi làm, vợ nói riết mỏi miệng thì thôi. Y tham gia mấy nhóm văn thơ trên mạng, cũng sáng tác tối tạo dăm ba bài thơ cho vui vẻ, nâng cao thẩm mỹ và đời sống tinh thần. Vợ thấy thế dè bỉu:

 

– Văn thơ ấm ớ phù phiếm, toàn mấy trự lãng mạn rồi ngoại tình tư tưởng, thủ dâm tinh thần…

 

Nghe riết rồi quen, tuy nhiên nhiệt huyết tham gia hoạt động xã hội cũng tiêu tan, Y đi làm về nằm nhà ôm tivi hay laptop cho nó lành, ấy vậy mà cũng không yên với vợ. Vợ nghi ngờ:

 

– Dạo này thường xuyên siêng lên mạng quá hén! Chắc là tìm gà tơ, mèo non hay nạ dòng? Suốt ngày chát chít tầm phào vô tích sự!

 

Đến nước này thì y giơ hai tay kêu trời, thiếu điều khóc rống lên ba tiếng rồi cười khàn ba hơi như những chí sĩ chịu oan khốc vì quốc gia đại sự.

 

Thế rồi cuộc sống cứ như thế, những cuộc chiến tranh nóng, chiến tranh lạnh liên miên, ba ngày tiểu chiến bảy ngày đại chiến. Y cố sức nhịn nhục nhưng vợ chẳng biết điều, càng ngày càng làm già. Y muốn ấm êm trong gia đình nhưng vợ ngỡ mình là bà chủ nên ngày càng quá quắt, nhiều lúc y thấm mệt muốn buông mà vợ lại không hiểu nên càng quản chặt hơn. Tiền bạc tiếng là của chung nhưng vợ giữ khư khư như mèo giấu cứt, mỗi tuần vợ nhét vào bóp của y một khoản nhỏ đủ để cà phê thuốc lá thôi. Nhiều lúc y muốn làm việc nọ việc kia hay giúp người này người khác thì đành bó tay, hễ đụng đến tiền là vợ tru tréo lên làm như đói kém khổ sở ngay lập tức vậy.

 

Một hôm y định nói với vợ về quê thăm bà già ít ngày, vợ y lập tức dảnh mỏ:

 

– Bày đặt thăm bà già, bả sờ sờ ra đó chứ có mất cộng lông nào, chẳng qua là lấy cớ đề về thăm con mèo hồi xưa chứ gì.

 

Y không muốn nói gì nữa, biết có nói cũng vô ích, chỉ tổ hại thần mệt thân, nói với cái đầu đông đặc của vợ thà nói với đầu gối của mình còn hơn, trong người tức tối bực bội, một khoảnh khắc vô thức y lầu bầu:

 

– Phụ nữ trước khi cưới là con mèo dễ thương mướt mát, sau khi cưới về thì thành sư tử hết ráo, xù lông trông dữ như cọp beo, mè nheo như vịt cạp.

 

Vợ nghe thấy, lập tức giãy đành đạch:

 

– Anh nói ai sư tử? Ừ, tui là sư tử đó thì sao? Tui sư tử tại vì anh dê xồm, heo nọc.

 

Y không tranh cãi với vợ, chỉ nói khơi khơi như thể bâng quơ:

 

– Con mèo nhỏ nhẻ khiến người ta thương, sư tử xù lông gầm gừ chỉ tổ khiến người ta ngán mà thôi! Khôn ngoan thì cứ làm con mèo ỏn ẻn vẫn hay hơn là sư tử

 

– Tui làm sư tử để giữ hạnh phúc gia đình, tui mà hổng xù lông nhím thì mấy con mèo, mấy con gà móng đỏ khác nó đã phá nát gia đình rồi.

 

– Sư tử nào giữ được hạnh phúc gia đình? Nó khiến cho hạnh phúc bỏ chạy thì có!

 

– Vậy giờ anh muốn gì?

 

– Chẳng muốn gì ngoài hạnh phúc ấm êm như lúc trước.

 

Nói xong y bỏ đi, y biết cãi một lúc nữa thì đĩa bay xuất hiện và cảnh quan trong nhà sẽ giống như bề mặt sao hỏa hay mặt trăng. Sự việc cứ cù nhầy dây dưa buông chẳng đặng dứt không ra. Y vẫn thế, vợ vẫn vậy. Vợ kiểm soát từng chi tiết mặc cho y góp ý hay phản đối và ra tuyên bố quan ngại, cực kỳ quan ngại. Y nhiều lần nhắn tin vợ phải bỏ qua tiểu tiết để giữ lấy đại cục, phải thực hiện tứ tốt thập lục hảo thì gia đình mới hạnh phúc và hữu hảo. Ấy vậy mà vợ chẳng nghe, vẫn chứng nào tật đó, thậm chí càng ngày càng quá quắt hơn, khi thì rình mò xem lén trang mạng cá nhân của y, dò từng tin nhắn của mọi người gởi đến, lúc thì nghe lén khi y phone cho người khác. Có khi y vừa lái xe về thì vợ sờ ghế kế bên xem thử có ấm hay không, nếu còn ấm thì tra vấn đã chở con mèo ỏn ẻn hay con gà móng đỏ nào phải không? Vợ còn xem cây kim bình xăng xuống đến đâu, số dặm hôm nay chạy bao nhiêu, nếu nhiều dặm hơn bình thường thì hôm nay đã đi đâu? Rồi vợ kiểm tra xem có rút tiền trong nhà băng hay không, xét chỗ giấu tiền mặt trong nhà có bị mất dấu hay không...Y biết hết cả nhưng cứ giả dại để qua ải. Mặc dù nhịn như vậy, cố giữ như vậy nhưng vợ không hiểu, không chịu từ bỏ làm sư tử. Nhiều lúc y tự an ủi bản thân: “Có lẽ đã trở thành sư tử rồi thì không thể trở lại làm mèo”. Những lúc rảnh rỗi vợ  vẫn thường khơi khơi:

 

– Mấy con mèo ỏng ẻo nhõng nhẽo coi vậy chứ bạc lắm, hết tiền là nó bỏ ngay lập tức!

 

– Sao em hổng làm mèo mà làm sư tử chi cho mệt vậy?

 

– Í, đâu có được! Em phải làm sư tử để canh chừng những con mèo đó!

 

– Em cứ là mèo thì những con mèo khác cũng chẳng dám bén mảng tới đâu!

 

– Không được! Em phải làm sư tử mới trị được bệnh dê xồm ong bướm…

 

Thế là sự thể vẫn y nguyên như cái tên nguyễn y vân của y. Y ngán ngẩm dễ sợ, y thấy đời mình đã dịch bài thơ lãng mạn ra văn xuôi rồi, dịch một cách sát nghĩa và trần trụi luôn. Thỉnh thoảng y đùa với bạn bè: “sáng chở cơm đi ăn phở, tối chở phở đi ăn cơm”. Y chỉ có cơm mà là cơm khê nhão mới chết chứ! Trong những lúc bí bách y thầm nghĩ: “Hay là ta đi tìm phở ăn cho bỏ ghét?”nghĩ thế thôi chứ y chưa bao giờ làm vậy. Y thương vợ, thời đại này là thời đại nam nữ bình quyền, thời đại "Lady first". Ngày xưa ông bà mình cũng từng trải kinh qua quá trình dịch bài thơ ra văn xuôi nên đã thấm thía: "Nhất vợ nhì trời”. Ông trời mà còn đứng hàng thứ hai sau vợ thì phải biết, những con sư tử Hà Đông với giấm chua nó ghê gớm như thế nào. Hễ nhớ đến câu “nhất vợ nhì trời”thì y cảm thấy khoái dễ sợ, thấy được an ủi vô cùng. Các cụ tổ Adam nhà mình đã bị các cụ bà Eva hành cho lên bờ xuống ruộng, các lão bà bà ngày xưa cũng đã là những con mèo ỏng ẹo trước khi cưới và trở thành sư tử ngay sau ấy. Nghĩ đến đây y sanh khâm phục khứa lão danh nhân nào đó đã mạnh mồm tuyên bố: “Hôn nhân là mồ chôn của tình yêu”, tuy nhiên y muốn đính chính tí xíu: Hôn nhân là mồ chôn của tình yêu nhưng trong mồ ấy lại đầy thú thương đau ai cũng phải trải qua, càng đau thương thì càng thương mà đau và cũng chẳng có khứa lão hay đực rựa nào đủ can đảm từ chối thú thương đau này! Cũng chả có mấy ai thoát khỏi nấm mồ này, may ra chỉ có những vị tu sĩ". Hỡi những chú nhóc tơ mới lớn  chớ vội săn cho được con mèo bé bỏng để rồi sớm muộn gì nó cũng biến thành con sư tử Hà Đông một khi dại dột cưới về.

 

– Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 09/22)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
New York City đang dần dần hồi sinh. Tháng Tám nầy sẽ có “home coming concert” ở Central Park để ăn mừng, nghe đâu có mời Simon và rất nhiều người tiếng tăm khác.
Châu Về Hợp Phổ - đó là câu nói của Bs Nguyễn Đức Tùng, khi ông có nhã ý trao tặng bức tranh khảm xà cừ để chúng tôi đưa về Mẹ tôi. Chúng tôi thoạt đầu rất áy náy nhưng khi hiểu rõ câu nói và tấm chân tình của ông thì hân hạnh và cảm động được làm người nối tiếp cuộc hành trình 50 năm của bức tranh hy hữu. Bên dưới góc phải của bức tranh là tấm bảng nhỏ ghi tên người tặng là Ba tôi, đại tá Nguyễn Ngọc Khôi đang trong chức vụ thị trưởng Đà Nẵng và người nhận là trung tướng Donn J. Robertson, thuộc Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.
Người đáng sợ hơn ma, chỉ có người mới sân hận thù ghét, chỉ có người mới đâm bị thóc thọc bị gạo, dèm pha phỉ báng; cũng chỉ có người mới tham lam tranh đoạt bằng mọi giá và cũng chỉ có người mới chơi đểu, chơi dơ, chơi xấu... Người hại người mới ghê gớm và tàn bạo.
Anh đậu xe trước chung cư, đèn khẩn cấp nhấp nháy đều đặn. Năm phút rưỡi chờ đợi. Những người qua lại nhìn anh. Những cái nhìn tọc mạch, xét nét. Bốn giờ ba mươi sáu phút, bóng em lấp ló ngoài khung cửa. Mắt em dừng lại ở xe anh. Trời lạnh. Em mặc áo da trông ấm cúng lạ thường. Nhưng anh không cảm thấy thèm được ôm chầm lấy em để hơi ấm hai thân thể hòa lẫn trong nhau như thuở trước. Em thong thả bước xuống những bậc thang xi măng ẩm ướt. Một chiếc xe van dừng lại phía sau anh. Những đầu tóc mầu đen rối bù ló ra khung cửa. Rồi những bàn chân da vàng khẳng khiu bước xuống xe, tất tả. Tiếng cười đùa, gọi nhau ơi ới vang cả một góc đường. Em luống cuống mở cửa xe. Em chào anh. Vẫn giọng nói thì thầm như hơi thở độ nào. Anh cố cười thật tươi đáp lại.
Người ta thường ca tụng tình yêu là vật đẹp muốn mầu (Love is a splendid thing). Quả đúng như thế, vì tình yêu đúng nghĩa cao đẹp của nó là bao gồm hành động bác ái, chỉ biết cho đi mà không cần nhận lại, nào là những lời yêu thương ngọt ngào trìu mến chân thật trao cho nhau, phát xuất từ đáy con tim, chứ không phải bằng đầu môi chóp lưỡi, như người ta vẫn thường nghe thấy.
Không lẽ người Việt giờ chỉ mới lên ba sao? Sao cứ phải ạ khan như thế này? Cứ ạ, ạ, ạ vô tội vạ kiểu này chắc chết! Mà đâu chỉ có ạ, còn bao nhiêu từ ngữ khác nữa, hiểu được chết liền! Tâm tư Michael nghĩ mông lung, cũng may buổi diễn vừa đến hồi kết thúc.
Quay ra cửa, thấy Ba tôi, ông y tá chạy thoát bằng cửa sau, bỏ quên bộ đồ tây của Ba tôi. Dòng kỷ niệm buồn của tôi vừa đến đây, tôi chợt nghe tiếng Ba tôi gọi: “Con!” Quay lại, tôi thấy Ba tôi ngồi xuống chiếc ghế cạnh tôi, vừa chỉ theo ba Bố con đang đi trên đường trước nhà tôi vừa nói: -Cậu đó với hai đứa nhỏ làm Ba nhớ thời gian gia đình mình sống ở Sơn Tịnh và Hà Bằng.
- Anh ấy chung tình lắm chị ạ. Em dám cá bây giờ cho một cô gái thật đẹp sống chung trong nhà thì anh ấy vẫn chỉ biết có em thôi. - Thế em đã thử chưa ? - Cần gì phải thử chị ! Lần này thì Nguyệt nghiêm trang nói: - Không thử sao biết người ta thật chung tình với mình ? Dường như hơi bị đuối lý nhưng Nga vẫn chống chế: - Thử thì cũng được nhưng ngộ nhỡ ? - Ngộ nhỡ tức là người ta đâu thực sự chung tình với mình, có phải vậy không ? - Nhưng làm thế nào để thử ?
Tôi thì thầm với hắn chuyện ấy, thêm chút muối, chút mắm rằng tôi có thể nói giùm để mụ chủ thông cảm chuyện viết lách của hắn. Hắn cám ơn tôi và hào hứng nói thêm rằng một giây phút cảm hứng có thể ghi tên nhà văn vào danh sách vĩnh cửu. Rồi hắn lan man qua chuyện ông Gheorghiu nhà văn nào đó ở nước tôi. Hắn say mê nói về những anh nông dân Johan, những mục sư Kuruga, những nhân vật Traian… (không biết tôi viết tên có đúng không) vớ vẩn trong cuốn “Giờ Thứ Hai Mươi Lăm” nào đó mà tôi chưa bao giờ nghe nói đến chứ đừng bàn đến chuyện đã đọc hay chưa. Nhìn hai con mắt rực rỡ tin yêu của hắn, tôi chỉ thấy tội nghiệp, nhưng hắn không hiểu. Hắn hăng hái bảo mỗi lần tạo ra một nhân vật, hắn phải cố sống trọn vẹn tâm trạng nhân vật ấy. Từ kẻ sát nhân, kẻ anh hùng, người thất nghiệp, gã ăn mày, ăn xin, tên sở khanh, người đứng vất vơ đầu đường xó chợ, kẻ trộm, kẻ cướp, tên hãm hiếp phụ nữ… Tất cả những tâm lý nhân vật ấy hắn đều đã tự đọa đày mình để trải qua, để sống thực, để viết cho “sống”
Câu cá là một thú vui tao nhã và nhàn hạ, nhưng chỉ bắt được ít cá chứ không nhiều. Đánh bắt bằng lưới và tàu thuyền thì được nhiều hơn, nhưng phải sắm sửa vật dụng, tàu bè, chắc chắn tốn kém nhiều tiền. Trong cuộc sống, khi đi làm phải chịu nhiều áp lực công việc, nhiều người chọn câu cá như một thú vui xả căng thẳng ở chỗ làm. Tôi chẳng bao giờ sắm cần câu để tự mình đi câu vì tôi không có số “sát cá”. Tôi đã thử mấy lần theo bạn bè đi câu mà chẳng bao giờ câu được con cá nào. Muốn ăn cá, tôi vào chợ “câu” là chắc ăn. Nhưng có 1 lần trong đời tôi chẳng tốn kém gì mà vẫn bắt được rất nhiều cá, cả 5, 6 bao tải cá, ăn không kịp phải phơi khô. Tôi xin kể cho bạn làm thế nào tôi bắt cá được nhiều, nhưng xin bạn đừng bắt chước theo tôi với kiểu nói quen thuộc trên TV bây giờ: “Do not try this at home”. Những ngày còn trong nước, khoảng thời gian năm 1975, 1976, tại ngã ba cây số 67 trên đường đi ra Bà Rịa, Vũng Tàu, có một vùng kinh tế mới tự túc tên là Bầu Cạn. Thời đó cả nước
Mùa Hè đầu thập niên 60, từ Đà Nẵng, chúng tôi mở cuộc “hành phương Nam” vào thành phố Nha Trang. Dũng có người bà con ở dưới Cầu Đá, đã nhiều lần vào Nha Trang, mô tả vùng trời phương xa thật hấp dẫn, ba đứa còn lại được nghe bạn kể nên rất náo nức, được dịp rủ rê nên chớp ngay cơ hội sau vài ngày nghỉ hè. Bốn đứa mang theo hai chiếc xe đạp để tiện việc di chuyển, đáp chuyến xe đò Phi Long từ mờ sáng, đến Nha Trang vào lúc mặt trời lặn.
Những tàng cây ngả nghiêng trong gió. Lá me xanh rải đầy đường. Cơn đói bò lan ra cả ngoài da. Chỉ còn hai tiếng đồng hồ nữa là tới giờ hẹn. Không còn cách nào khác. Hắn đạp xe vòng quanh con phố. Bụng quặn lên ngàn con sóng. Biển động cấp năm trong bao tử và ruột non ruột già. Nhưng cơn đói hùng hổ như thế cũng chẳng thấm thía gì so với nỗi lo âu đầy nanh vuốt của cái việc phải làm. Hắn quẹo gắt vào con hẻm. Tay lái xe vướng vào quang gánh một người đàn bà bán hàng rong. Cú giật ngược làm hắn lao đao và người đàn bà nhùng nhằng sắp ngã. Chén bát xô vào nhau loảng xoảng hai đầu quang gánh. Người đàn bà trợn ngược con mắt.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.