Hôm nay,  

Hội Liếm Tem

12/10/202220:48:00(Xem: 4211)
Phiếm


stamp

Nếu mọi chuyện suôn sẻ thì nhà in sẽ giao Đặc san vào ngày thứ Sáu. Tôi đề nghị các anh chị mau triệu tập lập Hội “Liếm Tem” vào sáng Chủ nhật này để kịp gửi báo đi.

(Trích từ thư người bạn)

*    

Cứ quanh cái thành phố San Jose này, ta thử đếm xem có bao nhiêu hội, bao nhiêu đoàn và bao nhiêu hội đoàn nhỉ? Chắc phải là nhiều lắm, nhiều như lá rụng mùa thu. Nay, nếu có ai muốn lập thêm một hội mới nữa ở đây thì dù nó có cái tên thật hấp dẫn như Hội Liếm Tem thì cũng chẳng sao, cũng chẳng có gì đặc biệt và cũng chẳng làm ai chú ý tới.

 

Đã là hội thì phải có cái tên hội đã đành, hội còn phải có cả nội quy lẫn chủ trương, đường lối hoạt động đàng hoàng nữa chứ. Mấy thứ này thì riêng tôi không biết, ai muốn biết, xin cứ hỏi thẳng ông Chủ tịch hội tương lai.

 

Tuy nhiên, cứ hiểu theo nghĩa thông thường, không có ý nghĩa ẩn dụ đằng sau thì ta cứ hiểu Hội Liếm Tem như thế này:

 

Hội Liếm Tem được thành lập chỉ có một mục đích đơn giản là dùng lưỡi để liếm vào mặt sau con tem, gọi là lưng hay đít tem (những danh từ chuyên môn của tem), rồi dán lên phong bì thư, hay báo chí, hay những kiện hàng gửi đi qua dịch vụ bưu điện. Khi người ta phải làm công việc ấy với số lượng cao thì một người làm không xuể mà phải cần có nhiều người góp lưỡi, góp nước bọt vào. Và từ đó, nhu cầu lập hội được phát sinh.

 

Công tác sơ khởi của Hội Liếm Tem này là giải quyết đống báo vừa in xong cần phải được gửi đi cho đúng ngày ấn định. Đấy là công việc trước mắt, công việc sau đó là gì nữa thì hẳn còn được dấu kín. Tôi chỉ là hội viên dự khuyết hay thân hữu của Hội nên không có quyền táy máy, tò mò hay bàn tán tới.

 

Trong khi chờ đợi Hội ra mắt chính thức với bản tuyên ngôn quan trọng trong một ngày gần đây, một ngày trọng đại đáng ghi nhớ, đáng ghi nhớ như nhân loại ghi nhớ ngày "Quốc tế nhân quyền", hay ít ra cũng đáng ghi nhớ như nhân dân Hoa Kỳ ghi nhớ ngày tuyên bố bản "Tuyên ngôn độc lập" của sứ Cờ Hoa này vậy.

 

Nay, tôi chỉ xin nêu lên một vài nhận xét bên lề của Hội:

 

Hội Liếm Tem, chữ "Liếm Tem" ở đây phải hiểu nó là một danh từ kép và là danh từ riêng, riêng vì nó đã được trình tòa, không thể có ai được dùng nó nữa. Nhưng nếu ta đem cặp chữ "Liếm Tem" ra khỏi chữ “Hội” thì “Liếm Tem” có thể tách làm hai, chữ Liếm nó lại trở thành một hành động cụ thể là liếm, một động từ; Tem là một vật thể có thật được gọi là tem, một danh từ chung, chung vì ai dùng cũng được, chung cho mọi người.

 

Mà nói đến động từ liếm thì phải nghĩ ngay đến cái lưỡi. Không có lưỡi thì không thể liếm được. Lưỡi ở trong mồm, mồm gồm có lưỡi, răng và môi. Ba phần tử ấy có khi hoạt động riêng rẽ, có khi lại phối hợp với nhau một cách hài hoà. Khi "mút" ta chỉ dùng môi, khi "" là ta chỉ dùng môi và tí sức trong bụng hút vào, khi "cắn" hay chơi đòn "cẩu quyền" thì dùng răng, khi "liếm" như liếm môi, liếm mép là công việc riêng của lưỡi. Nhưng khi ta ăn, ta nói, ta gọi, ta thưa thì phải phối hợp chúng lại với nhau. Ta chớ nên lầm lẫn đấy nhé. 

    

Cứ nói như thế thì cái hình ảnh biểu tượng (logo) của Hội Liếm Tem, không thể thiếu được, phải là cái lưỡi, hình ảnh cái lưỡi thập thò giữa đôi môi chúm chím đỏ choét.

 

Lưỡi có nhiều hình thể như có cái dầy, cái mỏng; có cái dài, cái ngắn và độ cứng mềm khác nhau. Cái lưỡi nếu có kich thước to hay nhỏ khác thường thì khi nói hay hát, âm thanh bị sai lạc đi, trở thành khó nghe. Có những trường hợp, người ta nói "con bé ấy ăn nói như người thụt lưỡi ấy" hay "thằng ấy lưỡi đầy mồm"... là như vậy.

 

Nói đến cái lưỡi mà không nhắc đến một câu chuyện trong quyển "Quốc văn Giáo khoa thư" lớp Sơ đẳng (lớp Ba) ngày nào thì thật là thiếu sót. Câu chuyện ấy đại khái được tóm lược như thế này:

 

Một hôm, gia đình nọ có vị khách quý đến chơi, chủ nhân sai người đầy tớ mổ lợn và dặn "Mày đem cái gì tốt nhất của con lợn lên đây để tao đãi khách". Sau khi làm thịt xong con lợn người đầy tớ đem lên cho chủ một cái lưỡi lợn để đãi khách. Lần sau, một ông khách khác đến chơi, chủ nhân lại sai người đầy tớ mổ lợn và dặn "Mày đem cái gì xấu nhất của con lợn lên đây để tao đãi khách". Lần này người đầy tớ cũng vẫn mang lên cái lưỡi. Ông chủ tức giận hỏi người đầy tớ "Tao nói mày mang cái gì tốt nhất của con lợn, mày đem cái lưỡi, cái gì xấu nhất, mày cũng lại đem cái lưỡi, mày nói rõ lý do cho ta nghe". Người đầy tớ bình tĩnh trả lời "Dạ, thưa ông, cái lưỡi có thể nói lên những điều tốt đẹp nhất và cái lưỡi cũng có thể nói ra những điều xấu xa nhất".

 

Câu chuyện tôi đọc đã lâu, không còn nhớ rõ, nhưng đại khái nội dung của nó là như thế. Ý nghĩa chuyện kể về cái lưỡi ở trên thật sâu sắc và thâm thúy là bao.

 

“Liếm” thì cũng không chỉ đơn giản như liếm tem. Có nhiều cách liếm khác nhau tùy theo hoàn cảnh, đối tượng và tùy theo cá tính của mỗi người. Cũng như khi ta mút từ từ thì gọi là "mút mát", còn khi liếm từ từ, liếm một cách nhâm nhi hay nhẩn nha thì người ta gọi là "liếm láp".

 

Thế còn tem thì là cái gì? Xin miễn dài dòng về tem, muốn biết, xin các anh cứ hỏi sở Bưu điện. Tôi chỉ biết tem có cả vạn loại khác nhau, khác nhau về hình ảnh, khác nhau về giá tiền in trên tem, khác nhau về giá trị của nó qua sự định giá của những người sưu tầm tem. Về kich thước của tem thì ngoài cái “size” bình thường, có cái “King size” to bản như cái lá mit, có cái hẹp và dài như cái tre. Những cái tem “King size”, ắt hẳn phải tốn nhiều nước bọt. Nước bọt chắc phải quý lắm nên các cụ ta mới nói tới một nghề, nghề "bán nước bọt". Chẳng biết hội này có làm kinh tài bằng cái nghề buôn bán này không.

 

Dựa theo những hiểu biết của tôi như thế thì ắt hội này cũng phải "ra gì" lắm chứ chẳng phải chơi đâu. Nhưng có một điều tôi cứ thắc mắc mãi, thời buổi này, tem đã có “hồ” sẵn, chỉ việc lật tem ra bóc "yếm" là dán được ngay rồi, liếm láp làm chi cho mệt, chỉ trừ những con tem cổ như tem bà Hoàng Hậu Nam Phương nước ta hay tem bà Nữ Hoàng Đệ Nhất nước Anh ngày xửa ngày xưa mới phải lật lưng hay đít tem ra mà liếm láp trước khi dán thôi. Tôi đoán già đoán non là hội này toàn các ông già đã về hưu hoặc sắp về hưu vì thích hướng về đồ cổ.

 

Vài hàng gửi đến các anh như một lời kêu gọi gia nhập, đóng góp ý kiến và quảng cáo cho Hội Liếm Tem sắp sửa ra đời nay mai. Hôm nào ra mắt, các anh cho tôi biết để còn để dành tiền mua nước bọt đem tới làm quà. Kể từ ngày về hưu, nước bọt cũng đã cạn rồi, nay tôi chỉ còn biết ngồi viết nhảm tào lao. [Cười.]

 

Nguyễn Giụ Hùng

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Lóng rày tôi hay tẩn mẩn viết về những hồi tưởng tuổi thơ, nhất là những côn trùng ngày xa xưa đó như chuồn chuồn, bươm bướm, ve sầu, dế mèn…Nhiều lúc ngồi nghĩ lẩn thẩn: tại sao vậy? Chắc đó là tâm trạng của người tuổi sắp hết đếm số, tiếc nuối những khi còn cắp sách tới trường. Cắp sách tới trường không phải là chuyện vui nhưng tuổi học trò thì vui thật. Lúc nào, khi nào, chỗ nào cũng toàn thấy chuyện vui chơi. Bạn chơi là người nhưng nhiều lúc là những côn trùng quanh quẩn bên người. Một ông bạn mới gặp nhướng mắt hỏi tôi viết về những bạn chơi nhiều hơn hai chân nhưng chưa thấy nhắc tới bạn của ông ấy. Đó là bọ ngựa. Ông này thuộc loại rắn mắt. Tôi không chung tuổi thơ với ông nhưng chắc ông cũng thuộc loại phá làng phá xóm. Ông kể chuyện ăn me chua trước mấy ông lính thổi kèn trong hàng ngũ khiến mấy ông thợ kèn này chảy nước miếng thổi không được. Tôi thuộc loại hiền nên không có bạn không hiền như bọ ngựa. Ông ta thì khoái bọ ngựa.
“Mày có vợ hồi nào vậy?” chưa kịp chào, mẹ đã ném ra câu hỏi bất ngờ. Tôi lặng thinh. Cục nghẹn trong cổ họng. Tiếng mẹ đã khàn nhưng nghe vẫn quen, vẫn gần gũi, nhưng đặm chút ngạc nhiên và thấp thoáng chút phiền muộn. Hệt như lần hỏi tôi mười mấy năm trước rằng Sao con trốn học. Đường dây điện thoại chợt kêu ù ù, như thể có máy bay hay xe vận tải cơ giới hạng nặng chạy qua chỗ mẹ đứng. Cũng có thể tại tai tôi ù. Tôi cũng không chắc lắm. Giọng nói mẹ chìm vào khối tạp âm hỗn độn. Mẹ lặp lại câu hỏi trong tiếng động cơ rì rầm. Rồi tất cả im vắng bất ngờ. “Hở con?” Mẹ nói.
Bê, con trai của Mẹ, đã theo Mẹ đến giảng đường từ thuở còn trong bụng Mẹ. Suốt thời gian đại học của Mẹ, Bê có nhiều đóng góp khác nhau theo từng thời kỳ. Khi Mẹ làm bài kiểm tra môn Đầu Tư và Tài Chính trong lục cá nguyệt đầu tiên, Bê mới ba tháng tuổi. Mẹ nhẩm tính, bài thi một tiếng rưỡi, đi về từ nhà đến trường thêm một tiếng rưỡi. Như vậy, Bê phải xa Mẹ ít nhất ba tiếng đồng hồ. Mẹ biết tính Bê, mỗi hai tiếng đồng hồ Bê oe oe đòi bú sữa Mẹ. Bê xấu đói lắm, đòi mà không được, Bê nhăn nhó um sùm. Ngày hôm đó, dì Thành đến giữ Bê. Dì Thành rất hồi hộp. Dì chưa có em bé, chẳng biết phải làm sao cho đúng ý Bê. Mẹ thi xong, phóng ra xe về nhà. Mẹ bắt đầu sốt ruột. Mẹ xa Bê đã hơn ba tiếng đồng hồ. Giờ này Bê chắc Bê đã thức giấc. Hy vọng Bê chịu khó nhâm nhi món trà thảo dược cho trẻ sơ sinh trong khi chờ Mẹ về. Thời đó chưa có điện thoại di động. Bởi vậy, có lo cũng để bụng, chứ Mẹ chẳng biết làm sao. Mẹ ba chân bốn cẳng chạy ba tầng lầu. Vừa đến cửa đã nghe tiếng Bê khóc ngằn ngặt.
Khi chơi những bản nhạc hay, Khang khóc theo giai điệu. Mước mắt chảy, tay kéo tình xuống lên, thân hình diệu dẻo theo cảm hứng. gần như mê cuồng, không biết mình là ai. Tôi cảm nhận được cái hay xuất thần nhưng không hiểu. Khang nói: -- “Cậu Út biết không, cái hay của âm nhạc làm cho lòng sung sướng nhưng cái đẹp của âm nhạc làm cho hồn cảm động. Khi món quà quá lớn, quá sức yêu, không thể cười, chỉ có thể khóc.” Tôi nghĩ, những lúc như vậy, Khang không chơi đàn, mà múa với hồn oan.
Tôi làm việc giữ xe cho một casino ở ngoại ô Toronto, gọi là parking attendant. Đó là nghề mà thanh niên ít chịu làm, phần vì lương thấp, mức tối thiểu, hồi đó 5 đồng một giờ, nhưng lý do chính là vì nó buồn. Bãi đậu xe nằm dưới hầm tối, không nhìn thấy người qua lại, nếu ở ngoài trời cũng sau lưng nhà cao tầng. Không ai làm chỗ đậu xe ở khung cảnh xinh đẹp, nơi ấy dành cho hàng quán. Đi học ban ngày, tôi làm thêm ban đêm là việc thích hợp, có thể thỉnh thoảng ngồi học bài. Nhân viên trong phiên gác trước tôi là cô gái bằng tuổi hoặc cùng lắm lớn hơn một hai tuổi, nhưng không hiểu sao cô vẫn có thói quen gọi tôi là em và xưng chị.
Anh cho xe dừng lại nơi góc đường rồi đi bộ về phía căn nhà. Tuyết đang rơi dầy đặc trắng xóa cả bầu trời, đúng là một White Christmas như nhiều người mong muốn. Những ánh đèn màu trang hoàng trước sân các nhà nhấp nháy vui tươi như đang mừng đón Chúa Hài Đồng giáng trần. Anh bước lên bậc thềm gỗ, bước rón rén đến cửa sổ nhìn qua tấm rèm mỏng, hơi giật mình sựng lại khi thấy ba mẹ con cô ấy đang dọn bữa ăn đêm Noel. Hẳn là họ vừa đi lễ về, anh thầm nghĩ. Nhìn đứa con trai mười ba tuổi và đứa con gái mười một tuổi giúp mẹ sắp xếp bày biện thức ăn trên bàn, anh thoáng chút xúc động và an tâm vì các con đã lớn, có thể đỡ đần mẹ trong nhiều việc nhà, anh cũng thấy bớt đi mặc cảm tội lỗi của mình.
Chuyện xảy ra trên một chuyến xe Greyhound. Xe đò Greyhound có vẽ con chó sói xoải cẳng phi nước đại bên hông là thứ nối liền các thành phố bên Mỹ và Canada. Nhiều người trong chúng ta chắc đã từng ngự trên những chuyến xe xuyên liên bang này. Tôi cũng đã từng xuôi ngược với Greyhound. Từ Montreal qua Washington D.C. thăm bạn bè dân thủ đô nước Mỹ như các ông Dzương Ngọc Hoán, Nguyễn Tường Đằng. Từ Vancouver qua Portland thăm ông Từ Công Phụng. Từ Seattle về Vancouver sau khi cưỡi du thuyền đi Alaska thăm mấy chú gấu tuyết. Nói như vậy để thấy tôi cũng có chút kinh nghiệm khi chen vai thích cánh cùng những người không có hoặc ngại lái xế riêng.
Hai chữ giang hồ không mấy xa lạ trong đời sống của mỗi người đều thường đề cập trong thơ, văn, điện ảnh… và cũng là câu nói thường tình với cá nhân, nhóm người trong xã hội. Tác phẩm Thủy Hử ban đầu là Giang Hồ Khách Truyện, sau lấy tên là Thủy Hử vì “căn cứ địa” Lương Sơn là vùng đầm, hồ nên Thủy Hử (bến nước). Truyện nầy qua bản dịch của La Thần và Á Nam Trần Tuấn Khải, gồm 3 cuốn, năm 1973, sau đó với Tử Vi Lang nên rất quen thuộc với độc giả Việt Nam. Trong truyện Thủy Hử của của nhà văn Thi Nại Am (1296-1372) ở Trung Hoa vào triều Nguyên-Mông (1295-1368), kể về câu chuyện của Tống Giang triều nhà Tống, nổi dậy kéo theo “giang hồ hảo hán” gồm 108 người đến núi Lương Sơn. Gọi là anh hùng Lương Sơn Bạc.
Ở Sơn Tây, tôi là khách lạ nhưng mang tâm trạng sâu đậm như người trở về nguồn cội. Đầu tiên tôi tìm mua tấm bản đồ tỉnh lỵ nhưng không ai bán, họ chỉ dẫn địa điểm Thành Cổ rồi theo 4 hướng Đông Tây Nam Bắc của hình vuông ấy là sẽ tìm ra mọi nơi. Hướng Nam đối diện với phố Quang Trung còn gọi là Cửa Tiền, Cửa Hậu ở hướng Bắc có phố Lê Lợi và nếu đi thẳng đến cuối đường sẽ gặp sông Hồng, hướng Đông là Cửa Tả nhìn ra chợ Nghệ và cuối cùng hướng Tây hay Cửa Hữu có phố Ngô Quyền.
Buổi sáng cuối tuần, mùa đông chớm về với những cụm mây xám nhạt, lơ lửng trôi trên bầu trời California, không khí se se lạnh, tôi và Hoàng ngồi ngoài hàng hiên quán Coffee Lovers của Thành phố Hoa vàng nhìn trời hưu quạnh. Bên hai ly cà phê sữa nóng và dĩa bánh Patechaud, Hoàng nói chậm dãi, nhỏ nhẹ, kể cho tôi nghe về quê ngoại của Hoàng thời niên thiếu.
Theo thông lệ trước đây, hằng năm vào đầu tháng 9, CVKer 65 Bok Thân có tổ chức buổi tiệc gây quỹ cho địa phận Kontum. Năm nào Bok Thân cũng thành công mỹ mãn, gởi về quê nhà nhiều số tiền lớn lao dùng cho các hoạt động bác ái của địa phận. Sau dịch cúm Tàu phù, kinh tế trì trệ, dân chúng cũng ngại đám đông nên Bok Thân phải uyển chuyển tổ chức 2 năm một lần; lần này là Đêm Tình Thương lần thứ Sáu.
Memphis là thành phố lớn của tiểu bang Tennessee, nổi tiếng là một trong những cái nôi của dòng nhạc Blues & Jazz của nước Mỹ. Cách đây 4 năm, tôi lái xe đến thăm Memphis chỉ để được nghe nhạc Blues “nguyên chất” tại B.B King’s Blues Club, một trong những “việc đáng làm trong đời” đối với những người mê nhạc Jazz. Nghe nhạc Jazz ở Memphis sẽ thấy được dòng nhạc như chảy trong huyết quản của người da đen ở Miền Nam Hoa Kỳ. Vào đầu tháng 10 năm nay, tôi trở lại thành phố Memphis, nhưng đó không phải là đích đến của chuyến đi. Memphis có phi trường chỉ cách Tu Viện Mộc Lan khoảng hơn một tiếng lái xe. UH, một cô bạn đồng tu đã từng cùng học với một vị thầy, cùng sinh hoạt trong một nhóm Phật tử ở Quận Cam California được chấp nhận vào ni đoàn, làm lễ xuống tóc xuất gia tại Mộc Lan. Tôi cùng một nhóm bạn nhận lời mời đến dự sự kiện trọng đại của một đời người này.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.