Hôm nay,  

Chuyện lẩm cẩm

29/10/202212:30:00(Xem: 4398)
Phiếm

Người-già-cô-đơn-a2


Tôi có một người bạn già cứ tự trách mình lẩm cẩm vì hai câu chuyện đã xảy ra cho anh: mất đôi giầy khi đi “gym” tập thể dục, và tìm không ra món quà tặng vợ đêm Giáng Sinh vì
giấu kỹ quá. Tôi viết đùa để trêu anh bạn khi nghe kể lại hai câu chuyện trên.

 

Câu chuyn lm cm thứ nhất: Mất đôi giầy số 6

 

Kể từ ngày về hưu, rảnh rỗi chẳng biết làm gì, tôi hay ngồi viết thư cho bạn  bè hoặc viết tán nhảm với mấy cô hàng xóm. Và trong những lá thư gửi đi ấy, tôi toàn nói chuyện phịa (chuyện giả tưởng). Tôi phịa ra đủ mọi thứ chuyện, từ chuyện to cho đến chuyện nhỏ, từ chuyện trong nhà ra đến chuyện ngoài đường. Tôi phịa nhiều quá đến nỗi tôi cũng bị “hỏa mù” với chính tôi, chẳng biết lúc nào tôi thật lúc nào tôi giả nữa. Nghe chuyện của người tôi cũng bị rơi vào trạng thái hỗn mang, khật khừ hư thật, nửa đúng nửa sai, nửa nạc nửa mỡ, nửa trắng nửa đen, lúc nào cũng chỉ thấy toàn là giả tưởng.

 

Nhân đọc thư anh kể lể về chuyện anh đi tập thể dục ở “gym” gần nhà đã mất đôi giầy số 6 (size 6) do một tên nào đó đi nhầm hay “cầm nhầm”. Tôi bèn tưởng tượng ra nếu cái thằng tôi mất giầy hôm đó. Tôi sẽ làm sao? Tôi sẽ loay hoay, ngơ ngác, tìm tìm kiếm kiếm “đôi giầy số 6”. Đôi giầy mang tên số 6 ấy cứ như mang cái bí danh hay ám số trong truyện trinh thám hay giả tưởng nào đó mà tôi đã đọc từ cái thời còn đi học, cái thời học thì ít mà liếc thì nhiều, liếc sang bàn bên cạnh nhìn mấy em ở lứa tuổi “ô mai” thập thò ăn vụng me chua trong lớp.

 

Này nhé, tôi sẽ lục tủ này, kéo tủ kia, moi moi móc móc, hớt hơ hớt hải, lăng xa lăng xăng chạy ra chạy vào, chạy tới chạy lui đi tìm; rồi nghi ngờ, bực tức cái đứa nào dám “lẩm cẩm” đi nhầm đôi giầy của ông. Ông sẽ tìm cho ra bằng được cái thằng nhãi ranh ở tuổi 13 hay con bé xinh xinh ở cái tuổi 15, 16 trăng tròn đi vừa đôi giầy số 6 ấy. Thế rồi, với đôi chân trần giống như trong phim “Nữ Bá Tước Đi Chân Không”(1) ngày nào, tôi cứ đảo qua đảo lại, mắt trước mắt sau, nhìn ngược nhìn xuôi, nhìn từ trên xuống dưới, nhìn cả những chỗ không thể đi giầy được trên thân thể của những đứa tôi nghi.

 

Thế rồi tôi thất vọng, chán chường, mỏi mệt vì không tìm ra được cái đứa lẩm cẩm ấy. Thế rồi (lại thế rồi), tôi đi ra “front desk”, mượn một chiếc dép mòn (như lời kể trong thư của anh), một chiếc thôi, thất tha thất thểu, chân thấp chân cao, khập khà khập khiễng bước ra xe.

 

Trong lòng tôi có chút gì lo lắng, bồi hồi khi lái xe về nhà. Và tôi cũng cảm thấy có chút gì bẽn lẽn, ngập ngừng khi gặp “nàng đang đứng ngoài ngưỡng cửa chờ chồng, mắt nàng lơ đãng nhìn về cõi xa xăm. Tôi ngoẹo đầu, một tay xòe ra đưa về phía trước khua khua ra dấu như đứa trẻ con vừa mất kẹo, một tay chỉ xuống đôi bàn chân trần, buông thõng một câu “mất rồi” như để phân bua. Nàng lạnh lùng nhìn tôi mà chẳng nói, ngoảnh mặt bước vào nhà lẩm bẩm điều gì tôi không nghe rõ. Tôi rụt rè len lén theo sau, trong lòng lại thoáng có cái gì vui vui, hí hửng. Hí hửng vì ngày mai được mua đôi giầy mới. Với ý nghĩ ấy, tôi xoa hai tay, miệng cười chúm chím, thu mình, khom lưng nhún nhẩy bước vào phòng tắm, khẽ huýt sáo với bản tình ca ướt át.

 

Tôi biết tôi không lẩm cẩm, mà chỉ là nạn nhân của cái tên đi vừa đôi giầy số 6 mà tôi đã mua cách đây hai năm và đã rách. “Đi nhầm” một đôi giầy cũ nát của tôi mà không thèm trả lại, tên này mới đích thực là lẩm cẩm.

 

Tôi xin chấm dứt câu chuyện về thằng tôi chứ không phải là chuyện của ông bạn già cứ tự cho mình là lẩm cẩm.

 

Chắc là tôi lại đang phịa đây rồi! Đùa anh một tý cho vui thôi nhé. [Cười].

 

Câu chuyn lm cm thứ hai: Món quà Giáng Sinh

 

Câu chuyện lẩm cẩm thứ nhất về “đôi giầy số 6” của anh xảy ra chưa được bao lâu, dư hương của cái mùi “không thể thơm được” của đôi giầy cũ vẫn còn phảng phất đâu đây. Ấy thế, một câu chuyện khác được cho là chuyện lẩm cẩm thứ hai của anh lại xảy ra cho anh vào đúng đêm Giáng Sinh.

 

Câu chuyện anh cho là “lẩm cẩm thứ hai” được anh kể như sau: Anh mua một món quà Giáng Sinh tặng vợ. Để tạo bất ngờ, anh đã cất món quà đó quá kỹ, kỹ đến độ tới giờ quan trọng thì tìm nó không ra. Anh cứ tự trách mình là lẩm cẩm.

 

Tôi xin mở đầu câu chuyện để bàn theo kiểu “Mao Tôn Cương” về cái lẩm cẩm thứ hai như thế này nhé. Lại “phịa”!

 

Nhân một buổi sáng, tôi lái xe về tới gần nhà, ngang qua một trạm xe buýt công cộng của thành phố, tôi thấy một người đàn ông đi đôi giầy vải / tennis shoes hiệu Bata mới toanh, dáng người khỏe mạnh, ắt hẳn ông ta phải là người đi tập thể dục hằng ngày. Người ấy cúi đầu đi vòng quanh bên chiếc ghế dài dành cho khách chờ xe với một vận tốc đều đều, không nhanh mà cũng không chậm. Ông ta có vẻ trầm ngâm, thỉnh thoảng ngừng lại ngắm nghía đôi giầy mới đang đi rồi ngửng đầu, cái đầu tóc bạc muối tiêu rất đẹp, nhìn lên trời cao cười cười và lầu bầu một mình như đang nói chuyện với ai.

 

Tôi thấy lạ, ngừng xe quan sát. Ông ta cứ lặp đi lặp lại cái động tác ấy, nghĩa là vẫn bước đi đều đều quanh chiếc ghế, cúi đầu trầm tư, ngắm nghía đôi giầy mới, ngửng đầu nhìn lên trời cười cười rồi lẩm bẩm một mình.

 

Vừa khi chiếc xe buýt trờ tới. Tôi nghĩ thế nào người đàn ông ấy cũng lên xe khi cửa chiếc xe vừa mở ra. Nhưng không, ông ta chỉ đứng nhìn chiếc xe buýt một cách bâng quơ, lơ đãng. Khi chiếc xe từ từ đóng cửa trở lại và chuyển bánh thì ông mới hấp tấp đuổi theo, phóng mình, bấu víu, đu lên. Tôi lắc đầu mỉm cười:

 

– Lẩm cẩm thật!

 

Về tới nhà, tôi ngồi đọc thư anh, thấy anh tự than thở là mình lẩm cẩm đã không tìm ra món quà tặng vợ vào đêm Giáng Sinh vì cất kỹ quá, rồi quên. Tôi thấy anh có lẩm cẩm gì đâu. Tôi cố gắng hình dung ra một cái gì lẩm cẩm nơi anh thì thú thật tôi không đào đâu ra được cái hình ảnh ấy. Nói theo kiểu thầy bàn “Mao Tôn Cương” thì anh được xếp loại “khôn bỏ mẹ” chứ chẳng phải chơi đâu. Anh mà có lẩm cẩm thì khối cô “thèm” cái lẩm cẩm ấy của anh.

 

Nghĩ tới câu “thèm cái lẩm cẩm”, tôi chợt nhớ một câu chuyện và xin kể cho anh nghe. Chuyện có thật đấy nhé! [Cười].

 

Số là thế này. Một hôm, cô hàng xóm đầu ngõ nhà tôi, tên Mộng, nghĩa là cái cô “to lớn đẫy đà làm sao” như tôi đã nhắc tới vài lần, nhân dịp sinh nhật của cô, cô mời tất cả các ông hàng xóm lẫn các cô hàng xóm tới nhà cô ăn bánh “cake” và hát hỏng “ca ra là OK”. Bữa đó, tôi cũng được mời và đang ngồi đấu láo với mấy ông hàng xóm khác tại phòng khách. Câu chuyện cứ ngon trớn, nổ ran. Chợt đâu, tôi thấy vài cô hàng xóm trong khu cứ đi qua đi lại trước mặt tôi mà bụm miệng cười. Tôi lấy làm lạ. Cô chủ nhà thì cứ như “gà mắc đẻ”, nhí nháy chỉ trỏ ra hiệu cho tôi điều gì mà tôi không hiểu. Vì không hiểu nên tôi lờ.

 

Hình như có điều gì cô chủ nhà muốn nói với tôi ghê lắm nên cô cứ lấp ló ở phòng trong vẫy vẫy tôi vào. Cũng vì không hiểu nên tôi vẫn lờ.

 

Cô không chịu nổi nữa, gọi tôi toáng lên:

 

– Anh! Anh vào đây em nhờ một tý.

 

Tôi lừng khừng đứng lên đi vào như cố tỏ ra cho mọi người biết mình không quan tâm chi đến mấy cô hàng xóm.

 

Cô vội hỏi to thêm:

 

– Anh uống cà phê loại nào?

 

Tôi nghĩ cô này thật lẩm cẩm, có thế mà cũng làm nhắng lên. Nhưng hỡi ôi! Bên cạnh cái giọng to lớn kia là một giọng tuy nhỏ nhưng rất sắc, thoát ra từ những kẽ răng:

 

– Đóng cửa sổ vào! Đóng vào... nhanh lên!

 

– Đóng cửa sổ nào? Tôi ngớ người hỏi.

 

Cô vội đưa mắt ra dấu xuống nơi “cửa sổ” ấy. Tôi giật mình khi nhận ra sự việc, vội đưa tay kéo đóng cái “cửa sổ” lên cái xoạt.

 

Tôi đỏ mặt chống chế:

 

– Anh cứ hay quên mấy cái “lẩm cẩm” này!

 

Cô hàng xóm liếc xéo tôi một cái thật dài, cười cười:

 

– Anh mà lẩm cẩm! Cho em xin cái lẩm cẩm ấy của anh đi.

 

– Cho cái gì? Tôi hóm hỉnh hỏi lại.

 

Cô biết mình lỡ lời.

 

– Never mind (Không có chi)!

 

Cô tất tả bỏ đi để còn tiếp đón những ông hàng xóm kéo tới càng lúc càng đông. Tôi vội bước ra phòng ngoài, để lại phía sau lưng những tiếng cười khúc khích đầy giễu cợt lẫn đú đởn của những cô hàng xóm xinh đẹp khác. Tôi liếc vội xuống dưới đất xem có kẽ hở nào để tôi chui xuống đấy.

 

Tôi hỏi thật anh, trong câu chuyện có thật [lại cười] vừa rồi, tôi có lẩm cẩm không hả? Tôi đâu có lẩm cẩm phải không? Tôi chỉ quên thôi mà. Mà quên thì cũng chỉ là chuyện xẩy ra rất thông thường, thông thường như anh cất món quà Giáng Sinh của chị quá kỹ thành tìm không ra. Có gì lẩm cẩm đâu nhỉ? Cất kỹ thì khác với giấu kỹ đấy nhé. Trăm chuyện vỡ đầu xẻ tai cũng chỉ vì chữ “giấu”. Nhớ cất kỹ chứ đừng giấu cái gì hay điều gì đấy.

 

Có ai trách anh là lẩm cẩm khi anh đang đeo mắt kính trên mắt mà cứ đi tìm kính loạn cả nhà lên đâu. Có ai trách anh khi anh ra mở máy xe rồi cứ chạy vào nhà kiếm chìa khóa xe để ra nổ máy. Có ai trách anh sáng sáng đi làm, ngày nào cũng như ngày nấy, mất cả nửa giờ đồng hồ hớt hơ hớt hải, nào tìm đôi vớ, đôi giầy, nào chùm chìa khóa hay cái ví ở đâu.

 

Giấu đầu hở đuôi” mới thật là lẩm cẩm. Cái lẩm cẩm tệ hại này thì nó chẳng phân biệt tuổi tác hay chủng tộc gì cả. Nó chẳng phân biệt là “nỗi niềm riêng” hay “nỗi niềm chung”, nó cũng chẳng cần biết “một khoảng trời riêng” (tên một thi phẩm ở S.J.) hay “khoảng trời chung”. Cứ giấu mà bị lòi ra là chết, chết một cách rất lẩm cẩm, đau thương. Như giấu vợ để tiêu hết tiền thưởng cuối năm (bonus), rồi lại bất ngờ, trong một ngày đẹp trời nào đó, lẩm cẩm than với vợ là tiền thưởng năm nay ít quá. Trời hôm đó có đẹp cách mấy cũng tối sầm.

 

Nói vậy thôi, không phải cái lẩm cẩm nào cũng đáng sợ cả đâu. Có cái lẩm cẩm cũng rất dễ thương, vì có cái lẩm cẩm nào giống cái lẩm cẩm nào đâu. Như có một lần cô hàng xóm xinh đẹp trước cửa nhà tôi, hỏi tôi một câu thật rất đáng yêu “Em nhớ tối hôm qua, khi đi ngủ em mặc áo phải (áo T shirt), sao sáng nay tỉnh dậy em lại thấy mình mặc áo trái?” Có mà thánh mới biết! Hỏi như thế mới thật là lẩm cẩm.

 

Thôi, tôi “lẩm cẩm” vài câu chuyện với anh một tý, lẩm cẩm như cô hàng xóm hỏi tại sao sáng ra tỉnh dậy lại thấy mình mặc áo trái vậy. [Cười!]

 

Nguyễn Giụ Hùng

 

(1) “La Comtesse aux pieds nus” phim do cô đào Ava Gardner và nam tài tử Humphrey Bogart đóng năm 1954.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Là trả lời cho bốn mươi năm, cứ vào thu, hắn chưa bao giờ quên gởi đi một lời chúc sinh nhật, để sau đó thẫn thờ dặn lòng đừng làm thế nữa vì không có ích gì cho cả hai. Hãy để ngày ấy lụi tàn sẽ nhẹ nhàng hơn cho cả hai trong cuộc sống không có đường quay lại mỗi lần nhìn thấy lá vàng rơi là thêm một mùa thu xa cách.
Trong số các bạn, có những người đã ra đi không bao giờ trở lại, em tôi là một trong những người đó. Người dân Miền Nam vẫn luôn giữ hình ảnh hào hùng của các bạn trong trái tim với lòng biết ơn bao la. Thầy Năng Tĩnh ở một mình trong ngôi Chùa nhỏ vùng ngoại ô, rất xa thành phố. Ngôi Chùa chỉ là chiếc “mobile home” trên vài mẫu đất, trước kia là một nông trại bé tí teo, có hàng rào kẽm gai chung quanh để trại chủ nuôi bò. Từ ngày lập Chùa, Thầy chỉ nuôi một con chó nhỏ để làm bạn và mấy con gà trống, thả chạy tự do đặng nghe tiếng gáy cho vui. Sát hàng rào Thầy trồng mấy dây mùng tơi, khổ qua, giàn bầu và mướp trái xum xuê, bên cạnh đó là mấy luống cải xanh, rau thơm, cà pháo. Sân trước, Thầy đào chiếc hồ xinh xinh, có hòn non bộ, đầy đủ cảnh “Sơn Thủy Tùng Đình” với “Ngư Tiều Canh Mục”, trông cũng vui mắt
Tôi có cảm giác mọi người trong xưởng rất thương mến anh em ông chủ hơn sợ chủ đuổi việc, và anh em ông chủ cũng thương mến mọi người như anh em chứ không chủ thợ rạch ròi. Việc đến phải đến, ông chủ mướn người vô chạy máy sỏi đá mà tiếng Anh gọi là “deburr machine” thay cho ông Mỹ đen đã qua đời. Ông này dị tướng nên anh em chờ xem tài của ông vì ông bà mình nói những người dị tướng thường có tài. Nhưng một tuần trôi qua, chỉ có tuần tới tiếp tục chứ không có gì lạ về ông trọ trẹ. Ai cũng biết ông người miền trung nhưng ai hỏi ông là người tỉnh nào ngoài trung thì ông gắt gỏng chứ không trả lời. Ông lên lớp giảng giải cho người miền bắc, người trong nam hiểu ra chính sách chia để trị của thực dân Pháp chứ đất nước Việt nam liền một dải, người dân từ bắc vô nam nói chung một ngôn ngữ là tiếng Việt từ đời cha ông để lại giang sơn gấm vóc nước Việt cho con cháu. Sao người Việt lại nô lệ tự nguyện cho Pháp, đi phân biệt bắc trung nam để chia rẽ chính dân tộc mình…
Ba chục năm trước, Bê đã bắt đầu sự nghiệp thể thao của Bê. Số là, Ba vừa học xong lớp chuyển nghiệp. Thời gian chuẩn bị thi cử, Ba dạy kèm cho một người bạn cùng lớp. Thi đậu, người bạn tạ ơn Ba một cặp vé Musik Konzert. Lúc đó, Bê ở trong bụng Mẹ đã hơn sáu tháng. Mẹ kể, Mẹ đang năm đầu ở đại học. Trời mùa đông, Mẹ đi học, mặc áo khoác dày cui. Bởi vậy, bạn học không ai biết Mẹ sắp sửa có em bé, chỉ ngỡ Mẹ hơi lên cân, zugenommen. Bác bạn của Ba có lẽ không dè vợ của bạn là bà bầu nên mới mời đi Rock Pop Konzert của ca sĩ Jennifer Rush.
Năm đó, 1999, miền Trung Việt Nam nhất là ở Huế đang chịu trận thiên tai bão lụt lịch sử lớn nhât từ trước cho đến thời điểm bấy giò. Trong hội chợ tết, người Việt ở đây San Jose vui Xuân nhưng không quên đồng bào ở quê nhà. Từng đoàn Hướng Đạo Sinh Việt Nam được phân phối nhiệm vụ cầm những thùng lạc quyên để quyên tiền cứu trợ. Đang lang thang trong hội chợ, hai em bé trong đồng phục Hướng Đạo chận tôi lại. Một trai một gái. Bé gái cao hơn bé trai non nữa cái đầu, chửng chạc nói “Chú ơi, ủng hộ đồng bào bảo lụt đi chú”. Trọn một câu tiếng Việt, tuy phát âm không trọn vẹn, nhưng khá rõ ràng. Tôi nhìn hai em, nhất là bé gái đang thắt cái nơ trên đầu cái nơ mầu đỏ! Tôi bỗng thấy lòng bâng khuâng man mác.
Qua sự giới thiệu của phụ huynh học sinh, chiều nay tôi có thêm học trò mới. Tuy tin tưởng vào người giới thiệu, nhưng tôi cũng có sự dè dặt thường lệ. Đây không phải là lớp dạy thêm bình thường, mà là lớp dạy kèm “Anh văn chui” tại nhà. Nếu bị bắt “tại trận”, tôi có thể bị đuổi việc (nhẹ) hoặc cả vào trại tù "miệt thứ" dài hạn như chơi. Tuy rất nguy hiểm, nhưng được sự “bảo mật” của học trò lẫn phụ huynh và nhất là khoản tiền thù lao rất hậu. Lương giáo viên cấp 3 lúc đó (1978-1979) mỗi tháng $70 đồng cộng nhu yếu phẩm, thì mỗi học sinh "dạy thêm" tôi nhận được $80/ tháng. Chỉ cần ba học trò là mỗi tháng tôi có thêm đến $240 đồng. Đối với giáo viên lúc đó không phải nhỏ! Cà phê cà pháo, cơm hàng cháo chợ cuối tháng vẫn dư tiền bỏ ống. Phần nữa, học trò lớp “Anh văn chui” của tôi thông thường chỉ vài ba tháng là “ra đi”, nên cũng thường xuyên thay đổi.
Vừa đi vừa ngắm lá vàng vừa suy nghĩ chuyện cũ mà đến nhà Sarah hồi nào hổng hay. Sarah mở cửa với nụ cười thật tươi, Lệ thấy ngay phòng khách những giỏ táo đầy ắp, Sarah giải thích: - Hễ cuối hè đầu thu là nhà tớ hái toàn bộ các trái táo ngoài vườn sau, một phần để sên mứt, phần sấy khô, và phần làm bánh táo nướng.
Nhà thơ Trần Mộng Tú gửi tới tôi bài “Mùa Hạ Đom Đóm và Dế Mèng” khi tôi muốn cùng các ông bạn đồng lứa tuổi trở về những ngày xưa thật xưa. Chị Tú hình như cũng cùng tâm trạng với các bạn không còn trẻ của tôi: “Tháng sáu, tôi đến chơi với anh tôi ở Virginia. Cái nóng rịn mồ hôi trên thái dương, và khó ngủ lắm, buổi tối, tôi với anh ra ngồi ở bực thềm, nói chuyện. Tôi bỗng thấy thỉnh thoảng có những chớp nho nhỏ như lân tinh sáng lóe lên rồi lại biến mất trong bụi cây thấp trước mặt, hỏi anh tôi, cái gì thế? “Đom Đóm” Tôi lặng người đi một lúc như nghe thấy ai nhắc tên một người bạn thân cũ, nó làm tôi xúc động. Xúc động một cách rất mơ hồ, chẳng có nguyên nhân gì cả, chỉ là cái tên của một loại côn trùng bé tí được gọi lên. Cái tên nhắc nhở một quê hương xa lắc, một dĩ vãng nằm dưới tấm chăn phủ dầy lớp bụi thời gian. Trong bóng tối, tôi ngắm những cái chấm lửa nhỏ nhoi, lóe lên rồi tắt ngóm với trái tim nôn nao trong ngực. Có đến cả hơn bốn mươi năm tôi không được nhìn thấy những đố
Tọa lạc trong vùng ngoại ô Saint Maur, kề bên là bờ sông Marne hàng hiên ngang cửa nhà chú, chú đổ đầy đất đen đất vụn phải đi mua từng bao ở siêu thị bán cây trồng đất mua chú đổ vào lưng một cái bac ciment rộng lớn chạy ngang hàng hiên nhà. Trong bac chú trồng đầy hoa vàng, hoa nở thì lớn bằng đồng 50 xu, có năm cánh y hệt mai vàng ở Việt Nam, lá xanh non to bằng bàn tay con nít 5, 3 tuổi. Lá cũng rất thưa, hoa rất đẹp, vàng trong như mai ngày tết. Khi nắng gắt, mầu vàng có đậm thêm tí chút, sáng hé nở, trưa ấm nở rộ. Chiều chiều hoa cúp lại ngủ, ngày mai sáng sớm lại mãn khai, thân cây hoa chỉ cao lắm là đến đầu em bé 5, 6 tuổi. Nên hoa và cây không che vướng tầm nhìn từ trong nhà ra ngoài trời. Chú Phương yêu quý những cây hoa đó lắm. Vun tưới thường xuyên. Hỏi tên hoa đó là hoa gì? Chú trả lời ngon ơ: Đó là hoa vông vang của Đỗ Tốn, Chúng tôi không nhớ và cũng không biết ông Đỗ Tốn là ai
Trong sự bồi hồi xúc động, tay bắt mặt mừng, họ được gặp lại để trò chuyện với những người họ hàng thân yêu, những bạn bè xa gần thân thiết, nhìn thấy tận mắt những làng xưa chốn cũ, nhớ lại những kỷ niệm êm đẹp từ thuở thơ ấu cho đến ngày tạm thời phải rời bỏ những nơi này ra đi, ôi biết bao nhiêu nỗi xúc động trộn lẫn niềm sung sướng vô biên, nói làm sao cho hết được.
Những yếu tố lôi cuốn du khách đi du lịch đến một đất nước bao gồm cảnh đẹp thiên nhiên, văn hóa, thành phố lớn với những lối kiến trúc độc đáo, cuộc sống sôi động, ẩm thực, hoạt động phiêu lưu, kỳ thú ngoài trời, những buổi hòa nhạc, thể thao, nghệ thuật, hay lễ hội, địa điểm hành hương tôn giáo, phương tiện giao thông, vấn đề an ninh và bình yên; trong văn hóa, yếu tố con người chiếm một phần rất lớn khiến du khách khi rời xa, vẫn lưu luyến muốn trở lại lần nữa.
Nếu quý vị độc giả nào đã đọc câu chuyện tình cảm éo le, oan trái tràn đầy nước mắt: "Thằng Cu Tí và Thằng Cu Tèo" và nếu quy vị nào chưa đọc, thì xin hãy mở Google.com sẽ thấy đế tài này thuật lại 2 vị cao niên về thăm VN để hưởng tuần lễ trăng thanh gió mát quê nhà, sau nhiều năm phải rời bỏ quê hương để sống tha hương ngàn trùng xa cách nơi đất khách quê người đi tìm sự tự do. Nay mới có dịp được quay trở về thăm quê cha đất tổ, đồng thời còn được thưởng thức những món ăn đặc sản quê hương


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.