Hôm nay,  

Chuyện lẩm cẩm

29/10/202212:30:00(Xem: 4410)
Phiếm

Người-già-cô-đơn-a2


Tôi có một người bạn già cứ tự trách mình lẩm cẩm vì hai câu chuyện đã xảy ra cho anh: mất đôi giầy khi đi “gym” tập thể dục, và tìm không ra món quà tặng vợ đêm Giáng Sinh vì
giấu kỹ quá. Tôi viết đùa để trêu anh bạn khi nghe kể lại hai câu chuyện trên.

 

Câu chuyn lm cm thứ nhất: Mất đôi giầy số 6

 

Kể từ ngày về hưu, rảnh rỗi chẳng biết làm gì, tôi hay ngồi viết thư cho bạn  bè hoặc viết tán nhảm với mấy cô hàng xóm. Và trong những lá thư gửi đi ấy, tôi toàn nói chuyện phịa (chuyện giả tưởng). Tôi phịa ra đủ mọi thứ chuyện, từ chuyện to cho đến chuyện nhỏ, từ chuyện trong nhà ra đến chuyện ngoài đường. Tôi phịa nhiều quá đến nỗi tôi cũng bị “hỏa mù” với chính tôi, chẳng biết lúc nào tôi thật lúc nào tôi giả nữa. Nghe chuyện của người tôi cũng bị rơi vào trạng thái hỗn mang, khật khừ hư thật, nửa đúng nửa sai, nửa nạc nửa mỡ, nửa trắng nửa đen, lúc nào cũng chỉ thấy toàn là giả tưởng.

 

Nhân đọc thư anh kể lể về chuyện anh đi tập thể dục ở “gym” gần nhà đã mất đôi giầy số 6 (size 6) do một tên nào đó đi nhầm hay “cầm nhầm”. Tôi bèn tưởng tượng ra nếu cái thằng tôi mất giầy hôm đó. Tôi sẽ làm sao? Tôi sẽ loay hoay, ngơ ngác, tìm tìm kiếm kiếm “đôi giầy số 6”. Đôi giầy mang tên số 6 ấy cứ như mang cái bí danh hay ám số trong truyện trinh thám hay giả tưởng nào đó mà tôi đã đọc từ cái thời còn đi học, cái thời học thì ít mà liếc thì nhiều, liếc sang bàn bên cạnh nhìn mấy em ở lứa tuổi “ô mai” thập thò ăn vụng me chua trong lớp.

 

Này nhé, tôi sẽ lục tủ này, kéo tủ kia, moi moi móc móc, hớt hơ hớt hải, lăng xa lăng xăng chạy ra chạy vào, chạy tới chạy lui đi tìm; rồi nghi ngờ, bực tức cái đứa nào dám “lẩm cẩm” đi nhầm đôi giầy của ông. Ông sẽ tìm cho ra bằng được cái thằng nhãi ranh ở tuổi 13 hay con bé xinh xinh ở cái tuổi 15, 16 trăng tròn đi vừa đôi giầy số 6 ấy. Thế rồi, với đôi chân trần giống như trong phim “Nữ Bá Tước Đi Chân Không”(1) ngày nào, tôi cứ đảo qua đảo lại, mắt trước mắt sau, nhìn ngược nhìn xuôi, nhìn từ trên xuống dưới, nhìn cả những chỗ không thể đi giầy được trên thân thể của những đứa tôi nghi.

 

Thế rồi tôi thất vọng, chán chường, mỏi mệt vì không tìm ra được cái đứa lẩm cẩm ấy. Thế rồi (lại thế rồi), tôi đi ra “front desk”, mượn một chiếc dép mòn (như lời kể trong thư của anh), một chiếc thôi, thất tha thất thểu, chân thấp chân cao, khập khà khập khiễng bước ra xe.

 

Trong lòng tôi có chút gì lo lắng, bồi hồi khi lái xe về nhà. Và tôi cũng cảm thấy có chút gì bẽn lẽn, ngập ngừng khi gặp “nàng đang đứng ngoài ngưỡng cửa chờ chồng, mắt nàng lơ đãng nhìn về cõi xa xăm. Tôi ngoẹo đầu, một tay xòe ra đưa về phía trước khua khua ra dấu như đứa trẻ con vừa mất kẹo, một tay chỉ xuống đôi bàn chân trần, buông thõng một câu “mất rồi” như để phân bua. Nàng lạnh lùng nhìn tôi mà chẳng nói, ngoảnh mặt bước vào nhà lẩm bẩm điều gì tôi không nghe rõ. Tôi rụt rè len lén theo sau, trong lòng lại thoáng có cái gì vui vui, hí hửng. Hí hửng vì ngày mai được mua đôi giầy mới. Với ý nghĩ ấy, tôi xoa hai tay, miệng cười chúm chím, thu mình, khom lưng nhún nhẩy bước vào phòng tắm, khẽ huýt sáo với bản tình ca ướt át.

 

Tôi biết tôi không lẩm cẩm, mà chỉ là nạn nhân của cái tên đi vừa đôi giầy số 6 mà tôi đã mua cách đây hai năm và đã rách. “Đi nhầm” một đôi giầy cũ nát của tôi mà không thèm trả lại, tên này mới đích thực là lẩm cẩm.

 

Tôi xin chấm dứt câu chuyện về thằng tôi chứ không phải là chuyện của ông bạn già cứ tự cho mình là lẩm cẩm.

 

Chắc là tôi lại đang phịa đây rồi! Đùa anh một tý cho vui thôi nhé. [Cười].

 

Câu chuyn lm cm thứ hai: Món quà Giáng Sinh

 

Câu chuyện lẩm cẩm thứ nhất về “đôi giầy số 6” của anh xảy ra chưa được bao lâu, dư hương của cái mùi “không thể thơm được” của đôi giầy cũ vẫn còn phảng phất đâu đây. Ấy thế, một câu chuyện khác được cho là chuyện lẩm cẩm thứ hai của anh lại xảy ra cho anh vào đúng đêm Giáng Sinh.

 

Câu chuyện anh cho là “lẩm cẩm thứ hai” được anh kể như sau: Anh mua một món quà Giáng Sinh tặng vợ. Để tạo bất ngờ, anh đã cất món quà đó quá kỹ, kỹ đến độ tới giờ quan trọng thì tìm nó không ra. Anh cứ tự trách mình là lẩm cẩm.

 

Tôi xin mở đầu câu chuyện để bàn theo kiểu “Mao Tôn Cương” về cái lẩm cẩm thứ hai như thế này nhé. Lại “phịa”!

 

Nhân một buổi sáng, tôi lái xe về tới gần nhà, ngang qua một trạm xe buýt công cộng của thành phố, tôi thấy một người đàn ông đi đôi giầy vải / tennis shoes hiệu Bata mới toanh, dáng người khỏe mạnh, ắt hẳn ông ta phải là người đi tập thể dục hằng ngày. Người ấy cúi đầu đi vòng quanh bên chiếc ghế dài dành cho khách chờ xe với một vận tốc đều đều, không nhanh mà cũng không chậm. Ông ta có vẻ trầm ngâm, thỉnh thoảng ngừng lại ngắm nghía đôi giầy mới đang đi rồi ngửng đầu, cái đầu tóc bạc muối tiêu rất đẹp, nhìn lên trời cao cười cười và lầu bầu một mình như đang nói chuyện với ai.

 

Tôi thấy lạ, ngừng xe quan sát. Ông ta cứ lặp đi lặp lại cái động tác ấy, nghĩa là vẫn bước đi đều đều quanh chiếc ghế, cúi đầu trầm tư, ngắm nghía đôi giầy mới, ngửng đầu nhìn lên trời cười cười rồi lẩm bẩm một mình.

 

Vừa khi chiếc xe buýt trờ tới. Tôi nghĩ thế nào người đàn ông ấy cũng lên xe khi cửa chiếc xe vừa mở ra. Nhưng không, ông ta chỉ đứng nhìn chiếc xe buýt một cách bâng quơ, lơ đãng. Khi chiếc xe từ từ đóng cửa trở lại và chuyển bánh thì ông mới hấp tấp đuổi theo, phóng mình, bấu víu, đu lên. Tôi lắc đầu mỉm cười:

 

– Lẩm cẩm thật!

 

Về tới nhà, tôi ngồi đọc thư anh, thấy anh tự than thở là mình lẩm cẩm đã không tìm ra món quà tặng vợ vào đêm Giáng Sinh vì cất kỹ quá, rồi quên. Tôi thấy anh có lẩm cẩm gì đâu. Tôi cố gắng hình dung ra một cái gì lẩm cẩm nơi anh thì thú thật tôi không đào đâu ra được cái hình ảnh ấy. Nói theo kiểu thầy bàn “Mao Tôn Cương” thì anh được xếp loại “khôn bỏ mẹ” chứ chẳng phải chơi đâu. Anh mà có lẩm cẩm thì khối cô “thèm” cái lẩm cẩm ấy của anh.

 

Nghĩ tới câu “thèm cái lẩm cẩm”, tôi chợt nhớ một câu chuyện và xin kể cho anh nghe. Chuyện có thật đấy nhé! [Cười].

 

Số là thế này. Một hôm, cô hàng xóm đầu ngõ nhà tôi, tên Mộng, nghĩa là cái cô “to lớn đẫy đà làm sao” như tôi đã nhắc tới vài lần, nhân dịp sinh nhật của cô, cô mời tất cả các ông hàng xóm lẫn các cô hàng xóm tới nhà cô ăn bánh “cake” và hát hỏng “ca ra là OK”. Bữa đó, tôi cũng được mời và đang ngồi đấu láo với mấy ông hàng xóm khác tại phòng khách. Câu chuyện cứ ngon trớn, nổ ran. Chợt đâu, tôi thấy vài cô hàng xóm trong khu cứ đi qua đi lại trước mặt tôi mà bụm miệng cười. Tôi lấy làm lạ. Cô chủ nhà thì cứ như “gà mắc đẻ”, nhí nháy chỉ trỏ ra hiệu cho tôi điều gì mà tôi không hiểu. Vì không hiểu nên tôi lờ.

 

Hình như có điều gì cô chủ nhà muốn nói với tôi ghê lắm nên cô cứ lấp ló ở phòng trong vẫy vẫy tôi vào. Cũng vì không hiểu nên tôi vẫn lờ.

 

Cô không chịu nổi nữa, gọi tôi toáng lên:

 

– Anh! Anh vào đây em nhờ một tý.

 

Tôi lừng khừng đứng lên đi vào như cố tỏ ra cho mọi người biết mình không quan tâm chi đến mấy cô hàng xóm.

 

Cô vội hỏi to thêm:

 

– Anh uống cà phê loại nào?

 

Tôi nghĩ cô này thật lẩm cẩm, có thế mà cũng làm nhắng lên. Nhưng hỡi ôi! Bên cạnh cái giọng to lớn kia là một giọng tuy nhỏ nhưng rất sắc, thoát ra từ những kẽ răng:

 

– Đóng cửa sổ vào! Đóng vào... nhanh lên!

 

– Đóng cửa sổ nào? Tôi ngớ người hỏi.

 

Cô vội đưa mắt ra dấu xuống nơi “cửa sổ” ấy. Tôi giật mình khi nhận ra sự việc, vội đưa tay kéo đóng cái “cửa sổ” lên cái xoạt.

 

Tôi đỏ mặt chống chế:

 

– Anh cứ hay quên mấy cái “lẩm cẩm” này!

 

Cô hàng xóm liếc xéo tôi một cái thật dài, cười cười:

 

– Anh mà lẩm cẩm! Cho em xin cái lẩm cẩm ấy của anh đi.

 

– Cho cái gì? Tôi hóm hỉnh hỏi lại.

 

Cô biết mình lỡ lời.

 

– Never mind (Không có chi)!

 

Cô tất tả bỏ đi để còn tiếp đón những ông hàng xóm kéo tới càng lúc càng đông. Tôi vội bước ra phòng ngoài, để lại phía sau lưng những tiếng cười khúc khích đầy giễu cợt lẫn đú đởn của những cô hàng xóm xinh đẹp khác. Tôi liếc vội xuống dưới đất xem có kẽ hở nào để tôi chui xuống đấy.

 

Tôi hỏi thật anh, trong câu chuyện có thật [lại cười] vừa rồi, tôi có lẩm cẩm không hả? Tôi đâu có lẩm cẩm phải không? Tôi chỉ quên thôi mà. Mà quên thì cũng chỉ là chuyện xẩy ra rất thông thường, thông thường như anh cất món quà Giáng Sinh của chị quá kỹ thành tìm không ra. Có gì lẩm cẩm đâu nhỉ? Cất kỹ thì khác với giấu kỹ đấy nhé. Trăm chuyện vỡ đầu xẻ tai cũng chỉ vì chữ “giấu”. Nhớ cất kỹ chứ đừng giấu cái gì hay điều gì đấy.

 

Có ai trách anh là lẩm cẩm khi anh đang đeo mắt kính trên mắt mà cứ đi tìm kính loạn cả nhà lên đâu. Có ai trách anh khi anh ra mở máy xe rồi cứ chạy vào nhà kiếm chìa khóa xe để ra nổ máy. Có ai trách anh sáng sáng đi làm, ngày nào cũng như ngày nấy, mất cả nửa giờ đồng hồ hớt hơ hớt hải, nào tìm đôi vớ, đôi giầy, nào chùm chìa khóa hay cái ví ở đâu.

 

Giấu đầu hở đuôi” mới thật là lẩm cẩm. Cái lẩm cẩm tệ hại này thì nó chẳng phân biệt tuổi tác hay chủng tộc gì cả. Nó chẳng phân biệt là “nỗi niềm riêng” hay “nỗi niềm chung”, nó cũng chẳng cần biết “một khoảng trời riêng” (tên một thi phẩm ở S.J.) hay “khoảng trời chung”. Cứ giấu mà bị lòi ra là chết, chết một cách rất lẩm cẩm, đau thương. Như giấu vợ để tiêu hết tiền thưởng cuối năm (bonus), rồi lại bất ngờ, trong một ngày đẹp trời nào đó, lẩm cẩm than với vợ là tiền thưởng năm nay ít quá. Trời hôm đó có đẹp cách mấy cũng tối sầm.

 

Nói vậy thôi, không phải cái lẩm cẩm nào cũng đáng sợ cả đâu. Có cái lẩm cẩm cũng rất dễ thương, vì có cái lẩm cẩm nào giống cái lẩm cẩm nào đâu. Như có một lần cô hàng xóm xinh đẹp trước cửa nhà tôi, hỏi tôi một câu thật rất đáng yêu “Em nhớ tối hôm qua, khi đi ngủ em mặc áo phải (áo T shirt), sao sáng nay tỉnh dậy em lại thấy mình mặc áo trái?” Có mà thánh mới biết! Hỏi như thế mới thật là lẩm cẩm.

 

Thôi, tôi “lẩm cẩm” vài câu chuyện với anh một tý, lẩm cẩm như cô hàng xóm hỏi tại sao sáng ra tỉnh dậy lại thấy mình mặc áo trái vậy. [Cười!]

 

Nguyễn Giụ Hùng

 

(1) “La Comtesse aux pieds nus” phim do cô đào Ava Gardner và nam tài tử Humphrey Bogart đóng năm 1954.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Sống ở đây an toàn và bình an gần như một trăm phần trăm trong hiện tại và tương lai, nhưng không thể bình thản hóa quá khứ. Cuộc chiến khốc liệt giữa thiên thần và ma quỉ luôn ám ảnh ông. Có những điều gì thao thức, âm thầm nghi hoặc, nhoi nhúc sâu thẳm trong ông. Lòng tin vào ông Gót có phần nào lung lay. Đông cảm thấy có lỗi khi nghi ngờ bố, người đã giúp đỡ, bảo vệ ông và Vá. Nhưng nghi ngờ là một thứ gì không thể điều khiển, không thể đổi đi, không thể nhốt lại. Nó vẫn đến, mỗi lần đến nó vạch rõ hơn, nhưng vẫn mù sương như đèn xe quét qua rồi trả lại sương mù.
Trâm gật đầu nhè nhẹ. Đoan nghĩ thật nhanh đến một cảnh diễn ra mỗi đầu tháng trong sân trường. Nơi đó, các sinh viên xúm xít cân gạo và các loại “nhu yếu phẩm”, mang phần của mình về nhà. Rồi thì trong khu phố, cảnh những người dân xếp hàng “mua gạo theo sổ” cũng diễn ra mỗi ngày. Nói “gạo” là nói chung thôi, thật ra trong đó phần “độn” chiếm đa số. Phần “độn” có thể là bo bo, có thể là bột mì, cũng có thể là khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô. Nồi cơm nấu từ gạo và một thứ khác được gọi là nồi “cơm độn.” Mỗi ngày hai bữa cơm độn. Bo bo thì quá cứng vì vỏ ngoài chưa tróc, nấu trước cho mềm rồi cho gạo vào nấu tiếp, trở thành một “bản song ca” chói tai. Khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô thường bị sượng, ghế vào cơm rất khó ăn. Chỉ có bột mì tương đối dễ ăn hơn, vì người nấu có thể chế biến thành bánh mì, nui hay mì sợi
Mùa đông, tuyết đóng dầy trên mái nhà. Ấy là lúc bà ngoại cũng lo là lũ chim - những con chim của ngoại - sẽ chết cóng. Nhưng bà không biết làm gì để cứu chúng nó. Ngoại đi tới đi lui từ phòng khách qua nhà bếp. Thở dài. Rên rỉ. Rồi lẩm bẩm, “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.” Bà ngoại tội nghiệp những con chim chết lạnh. Sinh nhật ngoại, chúng tôi chung tiền mua quà. Một con sáo trong chiếc lồng tuyệt đẹp. Bà ngoại cưng nó hơn cưng chị em tôi. Cho nó ăn, ngắm nghía bộ lông đầy màu sắc của nó. Chăm chú lắng nghe tiếng hót véo von lúc chớm nắng bình minh và buổi hoàng hôn nắng nhạt. Rồi một buổi sáng nọ tiếng chim thôi líu lo. Bà ngoại chạy ra phòng khách. Hấp tấp tuột cả đôi guốc mộc. Con chim sáo nằm cứng sát vách lồng. Hai chân duỗi thẳng. Cổ ngoặt sang một bên. Con chim của ngoại đã chết. Bà ngoại buồn thiu cả tuần lễ. Bố mẹ tôi bàn tính mua con chim khác. Bà gạt ngang.
Tôi là người viết báo nghiệp dư. Từ khi khởi viết vào năm 1959, tay cầm viết luôn là nghề tay trái. Tôi sống bằng nghề tay phải khác. Cho tới nay, nghề chính của tôi là…hưu trí, viết vẫn là nghề tay trái. Tôi phân biệt viết báo và làm báo. Làm báo là lăn lộn nơi tòa soạn toàn thời gian hoặc bán thời gian để góp công góp sức hoàn thành một tờ báo. Họ có thể là chủ nhiệm, chủ bút, tổng thư ký, thư ký tòa soạn hay chỉ là ký giả, phóng viên. Nhưng tôi nghĩ người quan trọng nhất trong tòa soạn một tờ báo là ông “thầy cò”. Thầy cò ở đây không có súng ống hay cò bóp chi mà là biến thể của danh từ tiếng Pháp corrector, người sửa morasse. Morasse là bản vỗ một bài báo cần sửa trước khi in.
Sáu tuần. Nàng đã đi ra khỏi mụ mị từ trong mối tình hiện tại của mình. Cô bạn gái hỏi "Tỉnh chưa?". Tỉnh rồi, nhưng tỉnh không có nghĩa không yêu anh ấy nữa, chỉ là không còn mụ mị mê muội nữa thôi...
Trong bóng tối dày đặc, dọ dẫm từng bước một, hai tay vừa rờ vào hai bên vách hang động, vừa quơ qua quơ lại trước mặt, dù cố mở mắt lớn, chỉ thấy lờ mờ, nhiều ảo ảnh hơn là cảnh thật. Cảm giác bực bội vì đã trợt té làm văng mất ba lô, mất tất cả các dụng cụ, thực phẩm và nước uống cần thiết. Bối rối hơn nữa, đã rớt chiếc đèn bin cầm tay, mất luôn chiếc đèn bin lớn mang bên lưng và máy liên lạc vệ tinh có dự phòng sóng AM. Giờ đây, chỉ còn ít vật dụng tùy thân cất trong mấy túi quần, túi áo khoát và hoàn toàn mất phương hướng. Chỉ nhớ lời chỉ dẫn, hang động sẽ phải đi lên rồi mới trở xuống. Trang nghĩ, mình có thể thoát ra từ lối biển. Là một tay bơi có hạng, nàng không sợ.
Cô người Nha Trang, lớn lên và đi học ở đó. Cô sinh trưởng trong một gia đình gia giáo, mẹ cô đi dậy học, ông thân cô cũng là hiệu trưởng một trường trung học lớn ở Phú Yên. Năm 22 tuổi, cô học năm cuối đại học văn khoa Huế thì gặp gỡ chú Hiếu trong một dịp hội thảo sinh viên do các biến động thời cuộc miền Trung bắt đầu nhen nhúm. Chú Hiếu lúc đó đang theo cao học luật. Họ thành đôi bạn tâm giao tuổi trẻ, sau thành đôi uyên ương. Ba năm sau khi Trang vừa 25 tuổi, Hiếu đã nhậm chức chánh án tòa thượng thẩm.
Nhà trẻ kế bên bệnh xá. Trong góc một trại giam. Nhà trẻ có sáu đứa con nít. Bệnh xá có mấy bệnh nhân già. Coi bệnh xá là một tù nam nguyên là y tá ngoài đời. Coi nhà trẻ là một tù nữ án chung thân. Coi cả hai nơi ấy là một công an mà mọi người vẫn gọi là bác sĩ! Sáu đứa con nít đều là con hoang. Mẹ chúng nó là nữ tù bên khu B, đừng hỏi cha chúng đâu vì chúng sẽ không biết trả lời thế nào. Cũng đừng bao giờ hỏi mẹ chúng nó về chuyện ấy vì rằng đó là chuyện riêng và cũng là những chuyện rất khó trả lời. Thảng hoặc có ai đó được nghe kể thì lại là những chuyện rất tình tiết ly kỳ lâm ly bi đát… chuyện nào cũng lạ, chuyện nào cũng hay
Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
Ông Hải đứng trước của nhà khá lâu. Phân vân không biết nên mở cửa vào hay tiếp tục đi. Tâm trạng nhục nhã đã ngui ngoai từ lúc nghe tiếng chim lạ hót, giờ đây, tràn ngập trở lại. Ông không biết phải làm gì, đối phó ra sao với bà vợ béo phì và nóng nảy không kiểm soát được những hành động thô bạo.
Vuốt lại tấm khăn trải giường cho thẳng. Xoay chiếc gối cho ngay ngắn. Xong xuôi, hắn đứng thẳng người, nhìn chiếc giường kê sát vách tường. Có cái gì đó thật mảnh, như sợi chỉ, xuyên qua trái tim. Hắn vuốt nhẹ bàn tay lên mặt nệm. Cảm giác tê tê bám lên những đầu ngón tay. Nệm giường thẳng thớm, nhưng vết trũng chỗ nằm của một thân thể mềm mại vẫn hiện rõ trong trí. Hắn nuốt nước bọt, nhìn qua cái bàn nhỏ phía đầu giường. Một cuốn sách nằm ngay ngắn trên mặt bàn. Một tờ giấy cài phía trong đánh dấu chỗ đang đọc. Hắn xoay cuốn sách xem cái tựa. Tác phẩm dịch sang tiếng Việt của một nhà văn Pháp. Cái va li màu hồng nằm sát vách tường, phía chân giường. Hắn hít không khí căn phòng vào đầy lồng ngực. Thoáng hương lạ dịu dàng lan man khứu giác. Mùi hương rất quen, như mùi hương của tóc.
Biết bao nhiêu bài viết về Mẹ, công ơn sinh thành, hy sinh của người Mẹ vào ngày lễ Mẹ, nhưng hôm nay là ngày Father’s Day, ngày của CHA, tôi tìm mãi chỉ được một vài bài đếm trên đầu ngón tay thôi. Tại sao vậy?


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.