Hôm nay,  

WORLD CUP! WORLD CUP!

31/10/202212:21:00(Xem: 4010)
Phiếm

IMG_3473


Đối với những người yêu thích môn bóng đá thì không ai không biết Giải Bóng Đá Thế Giới (World Cup) năm nay được diễn ra tại Qatar từ ngày 20 tháng 11 đến ngày 18 tháng 12. Tôi cũng xin tự nhận là “fan” của World Cup, với niềm háo hức nôn nao cho mùa giải bốn năm mới có một lần này, được ghi lại chút kỷ niệm của mình với những mùa World Cup đã qua trong đời.

 

World Cup đầu tiên tôi được biết là World Cup tại Tây Ban Nha năm 1982 khi tôi đang học lớp mười. Lúc ấy, tôi chưa biết về các giải bóng đá quốc tế, nhưng cũng có một chút “hiểu biết” về môn thể thao này, vì hai người anh tôi là cầu thủ bóng đá sinh viên, có đôi lần tôi đi xem anh thi đấu, tập dượt, anh là thủ môn nên lần nào đấu xong cũng mang thành tích đầy mình: đầu gối trầy trượt, bong gân, trật tay đủ cả. Mùa hè 1982, buổi tối anh em tôi phải đi học thêm Anh Văn ở Trung Tâm Ngoại Ngữ ngoài Phú Nhuận, nhưng đến ngày World Cup, anh rủ tôi trốn học để xem bóng đá. Tôi nào biết sự quyến rũ của World Cup, nhưng nghe nói không đi học là mừng rơn, chịu liền không cần suy nghĩ. Chúng tôi đến một nhà xóm trên xem ké vì nhà này là số hiếm hoi có ti vi màu thuở ấy. Con gái chủ nhà là bạn của anh tôi, rộng lượng pha trà, mang đậu phộng rang cho mọi người vừa xem vừa nhâm nhi. Tôi cũng chẳng ngờ, đó là mùa WorldCup đã đưa tôi vào niềm say mê vô tận không ngơi với chiến thắng giòn giã của đội Italy vô địch.

 

World Cup 1986 tiếp theo tại Mexico cũng là một kỷ niệm đẹp, vì mùa hè đó trường chúng tôi đi chơi thành phố Đà Lạt. May mắn sao, nhà nghỉ của Sở Giáo Dục nơi chúng tôi ở có nhà ăn rộng rãi và màn hình ti vi khổng lồ 100 inch. Thế là không hề mệt mỏi sau một ngày leo đồi xuống dốc, đêm đến chúng tôi lại đi qua những vạt đồi cỏ ướt đẫm sương Đà Lạt để xem trực tiếp bóng đá, và khỏi cần nói, giữa mênh mông bao la những con đồi, chúng tôi tha hồ reo hò, ca hát cổ vũ cho đội bóng yêu thích của mình. Năm ấy Argentina đoạt chức vô địch với Maradona thần sầu, mặc dù bàn thắng của anh ta có nhiều tranh cãi.

 

Nhưng có thể nói mùa World Cup đặc biệt nhất chính là World Cup Italy 1990  mà tôi được xem ở trại tỵ nạn Thailand. Như cá gặp nước vì lúc đó các anh trong Bưu Điện nơi tôi làm việc đều không những say mê bóng đá mà còn là những “nhà bình luận” rất xuất sắc với những kiến thức am hiểu của họ về môn thể thao này. Tôi đã ngồi hàng giờ chỉ để nghe các anh dự đoán, bàn luận mà không thấy chán. Đêm nào cũng vậy, chúng tôi rủ nhau cùng đi xem, có cá độ hẳn hoi, hôm nào có hai trận thì coi luôn tới 4 giờ sáng, về nhà mắt nhắm mắt mở được vài tiếng là thức dậy đi làm, vừa gặp mặt nhau còn ngái ngủ nhưng câu nói đầu tiên là: hôm nay bắt đội nào? Năm đó, đội Đức chiến thắng vinh quang đã cho tôi cảm tình với đội này và ủng hộ cho đến bây giờ. Dù tương lai còn mờ mịt nơi trại tỵ nạn, dù chen chúc nhau xem trong “rạp” chật hẹp, dù chung độ chỉ là những gói mì Mama nhưng chúng tôi đã có một mùa World Cup tuyệt vời, khó quên!

 

Nếu World Cup Italy 1990 là mùa World Cup vui nhộn, thì World Cup USA 1994 là mùa buồn nhất vì tôi vừa mới chân ướt chân ráo định cư Canada được vài tháng, không người thân, không bạn bè (để… cá độ), một mình trong căn apartment xem bóng đá lặng lẽ, buồn muốn khóc. Cũng may, có mấy đứa cháu bên Mỹ hằng ngày gọi phone bàn luận với tôi tin tức World Cup cũng nguôi ngoai nỗi buồn. Lúc đó tôi cũng phát hiện ra dân Bắc Mỹ không mê bóng đá như các sắc dân khác. Đối với họ, chỉ có hockey, football (bóng bầu dục), baseball, basketball, cho nên mùa World Cup chẳng thấy không khí tưng bừng như ở Việt Nam hay trại tỵ nạn Thailand.

 

Các mùa World Cup tiếp theo tôi đã quen dần với không khí World Cup xứ Bắc Mỹ. Không sôi động như Châu Âu, không điên cuồng như Nam Mỹ, cũng chẳng cháy bỏng khát vọng như Á Châu, nhưng tôi cảm nhận dân Canada cũng thích bóng đá. Ở đây, có cả một kênh thể thao phục vụ mùa World Cup, có phóng viên đến tận nước chủ nhà để tường thuật, rồi trên ti vi là người anchor ngồi giữa, có hai bình luận viên nhà nghề để hầu chuyện khán giả mọi chuyện trong và ngoài trận đấu. Giữa hai hiệp và kết thúc trận đấu luôn luôn có phần highlight lại những pha gay cấn, những cú sút ghi bàn đẹp, rồi tiên đoán kết quả trận sắp tới. Tôi xem ti vi không lãng phí một giây phút nào, vì ngay cả phần quảng cáo của các nhà sponsors lừng danh như CocaCola, MasterCard, Adidas… đều có những màn quảng cáo đặc biệt xuất sắc cho riêng mùa World Cup.

 

Có lẽ Canada là xứ sở nhân đạo hiền hòa, đón nhận mọi sắc dân trên thế giới, thành ra World Cup mới có chút không khí xôn xao? Chạy xe một vòng xuống downtown Edmonton, các quán bar đua nhau treo cờ các đội vào World Cup để dụ dỗ  Soccer fans vào uống bia, ăn nachos, chicken wings và enjoy trận đấu trên màn hình cực lớn. Các tiệm bán đồ Sports bán các áo thun các đội tuyển World Cup, giá từ 100 đến 200 dollars một cái, (ông xã và con trai tôi cũng bon chen gom góp hơn chục áo thun World Cup), còn có cả cờ các quốc gia để gắn trên xe chạy diễu hành trên đường phố. Năm nay Canada có mặt World Cup, chắc tôi phải treo cờ Canada cho đến khi Canada... bị loại rồi mới dám treo cờ đội khác, kẻo bị goánh!

 

Gần khu nhà tôi, có vùng Little Italy, mùa World Cup nào cũng ồn ào vì những cổ động viên khoái ăn Pizza và Spaghetti này. World Cup 2006 đội Italy vô địch, dân Little Italy ở đây một phen náo động, say sưa với niềm hạnh phúc, họ chạy xe vòng quanh thành phố, giương cờ Italy, la hét và bóp còi inh ỏi. Suốt thời gian diễn ra World Cup, thỉnh thoảng trên đường phố, tôi lại bắt gặp một chiếc áo vàng Brazil, áo cam Holland, đỏ sậm Mexico, xanh ngát France, trắng tươi viền đỏ cam của Germany, xanh dương sọc trắng Argentina, làm lòng người hâm mộ cũng thấy vui.

 

Dù sao, tôi cũng phải thú nhận, là giống như nhiều phụ nữ xem World Cup khác, tôi xem bóng đá với cảm tính nhiều hơn, vì cho đến bây giờ tôi chẳng rành rọt mấy cái luật lệ bóng đá, chẳng biết thế nào là “việt vị”, lúc nào là “ném biên”, khi nào “phạt góc” (biết chết liền đó). Nhưng có sao đâu nhỉ, tôi vẫn biết trái bóng vào khung thành đối phương là ghi bàn, và nhất là tôi cũng biết la hét, run rẩy hồi hộp khi xem đá phạt đền luân lưu để quyết định thắng bại cho hai bên, như vậy cũng đủ điều kiện để làm fan bóng đá rồi, phải không?

 

Năm nay tôi đã chuẩn bị tinh thần cho World Cup đầu tiên không làm vào mùa Hè mà là mùa Đông, và xứ sở Qatar có biết bao điều thú vị để khoa trương cho cả thế giới chiêm ngưỡng. Trận chung kết ngày 18 tháng 12 gần ngày Lễ Noel bận rộn, nhưng tôi thề sẽ không bỏ sót trận nào, vì  năm nào cũng đón Chúa giáng sinh, còn World Cup thì phải chờ đến... bốn năm!

 

Theo thống kê, World Cup được nhiều người xem nhất trên hành tinh này. Nếu như trận chung kết giữa đội Pháp và Croatia ở World Cup 2018 có hơn 1 tỷ người theo dõi thì số người xem lễ bế mạc Winter Olympic 2022 vừa qua tại Bắc Kinh ế thảm thê, với con số chưa đầy 7 triệu!

 

Bây giờ tôi đã có thêm nhiều bạn để… cá độ, từ các bạn ở chung thành phố đến bạn ở xa cá độ qua Facebook. “Chung độ” đơn giản là một chầu cafẹ, một bữa ăn trưa, hoặc tùy lòng hảo tâm, chung gì cũng được, miễn đừng... “xù”.

 

Hầu như ai cũng có một đội bóng yêu thích, nhưng tiên đoán có được vô địch hay không thì còn quá sớm, vì khi quả bóng bắt đầu lăn trên sân cỏ thì chuyện gì cũng có thể xảy ra, nhưng chắc chắn sẽ có nhiều bất ngờ, thú vị.

 

Tại bút: Ông xã mới hỏi tôi năm nay chọn đội nào, tôi quyết chí không nói và sẽ giải thích trong một bài viết khác về World Cup, hãy đợi đấy!

 

-- Kim Loan

(Edmonton, Mùa World Cup 2022)

   

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi bị bắt tại huyện Tân Hiệp chiều ngày hai mươi, giáp Tết. Lý do, mang theo hàng không giấy phép. Thế là tiêu tan hết vốn lẫn lời mà tôi chắt chiu, dành dụm gần cả năm nay. Nhớ đến mẹ và gia đình trong những ngày Tết sắp tới, tôi vừa buồn vừa tức đến bật khóc. Xui rủi, biết trách ai. Tiễn, anh phụ lơ, đã cẩn thận cất dấu hàng cho tôi, vã lại anh cũng quá quen biết với đám công an trạm kiểm soát. Không ngờ chuyến nầy bọn công an tỉnh xuống giải thể đám địa phương, nên tôi bị “hốt ổ” chung cả đám. Đây không phải là lần đầu bị bắt, nhưng lại là lần đầu tiên tôi đi chuyến vốn lớn như vầy. Năm ký bột ngọt, năm ký bột giặt, hơn chục ống thuốc cầm máu và trụ sinh hàng ngoại. Bột ngọt, bột giặt không nói gì, nhưng hai thứ sau hiếm như vàng mà giới “chạy hàng” chúng tôi gọi là “vàng nước”. Nên thay vì đưa về khu tạm giam huyện chờ lập biên bản, hồ sơ xét xử tôi nghe bọn công an thì thầm, bàn tán giải thẳng về khám lớn tỉnh Rạch Giá.
Quỳnh Lâm báo tin sẽ đến Đức trong tuần lễ đầu tháng 10. Nisha vội vàng thu xếp “sự vụ lệnh“ để công du sang Đức. Nisha lo đi chợ sắm sửa đầy mấy tủ lạnh, tủ đá, để mấy cha con sống còn trong thời gian nữ tướng đi xa. Chúng tôi hồi hộp quá, ngày nào cũng thư từ, nhắn nhủ, dặn dò đủ điều tẳn mà, tẳn mẳn. Điện thư qua, về hoa cả mắt. Thư nào chúng tôi cũng nhắc nhở nhau giữ gìn sức khoẻ, vì đứa nào cũng “lão” rồi. Khi gặp nhau, tụi tôi nhất thiết phải đầy đủ tinh thần minh mẫn trong thân thể tráng kiện. Có hôm, đến trưa, chưa nghe tăm tiếng, tôi sốt ruột, xuất khẩu làm thơ... bút tre:
Sống ở đây an toàn và bình an gần như một trăm phần trăm trong hiện tại và tương lai, nhưng không thể bình thản hóa quá khứ. Cuộc chiến khốc liệt giữa thiên thần và ma quỉ luôn ám ảnh ông. Có những điều gì thao thức, âm thầm nghi hoặc, nhoi nhúc sâu thẳm trong ông. Lòng tin vào ông Gót có phần nào lung lay. Đông cảm thấy có lỗi khi nghi ngờ bố, người đã giúp đỡ, bảo vệ ông và Vá. Nhưng nghi ngờ là một thứ gì không thể điều khiển, không thể đổi đi, không thể nhốt lại. Nó vẫn đến, mỗi lần đến nó vạch rõ hơn, nhưng vẫn mù sương như đèn xe quét qua rồi trả lại sương mù.
Trâm gật đầu nhè nhẹ. Đoan nghĩ thật nhanh đến một cảnh diễn ra mỗi đầu tháng trong sân trường. Nơi đó, các sinh viên xúm xít cân gạo và các loại “nhu yếu phẩm”, mang phần của mình về nhà. Rồi thì trong khu phố, cảnh những người dân xếp hàng “mua gạo theo sổ” cũng diễn ra mỗi ngày. Nói “gạo” là nói chung thôi, thật ra trong đó phần “độn” chiếm đa số. Phần “độn” có thể là bo bo, có thể là bột mì, cũng có thể là khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô. Nồi cơm nấu từ gạo và một thứ khác được gọi là nồi “cơm độn.” Mỗi ngày hai bữa cơm độn. Bo bo thì quá cứng vì vỏ ngoài chưa tróc, nấu trước cho mềm rồi cho gạo vào nấu tiếp, trở thành một “bản song ca” chói tai. Khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô thường bị sượng, ghế vào cơm rất khó ăn. Chỉ có bột mì tương đối dễ ăn hơn, vì người nấu có thể chế biến thành bánh mì, nui hay mì sợi
Mùa đông, tuyết đóng dầy trên mái nhà. Ấy là lúc bà ngoại cũng lo là lũ chim - những con chim của ngoại - sẽ chết cóng. Nhưng bà không biết làm gì để cứu chúng nó. Ngoại đi tới đi lui từ phòng khách qua nhà bếp. Thở dài. Rên rỉ. Rồi lẩm bẩm, “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.” Bà ngoại tội nghiệp những con chim chết lạnh. Sinh nhật ngoại, chúng tôi chung tiền mua quà. Một con sáo trong chiếc lồng tuyệt đẹp. Bà ngoại cưng nó hơn cưng chị em tôi. Cho nó ăn, ngắm nghía bộ lông đầy màu sắc của nó. Chăm chú lắng nghe tiếng hót véo von lúc chớm nắng bình minh và buổi hoàng hôn nắng nhạt. Rồi một buổi sáng nọ tiếng chim thôi líu lo. Bà ngoại chạy ra phòng khách. Hấp tấp tuột cả đôi guốc mộc. Con chim sáo nằm cứng sát vách lồng. Hai chân duỗi thẳng. Cổ ngoặt sang một bên. Con chim của ngoại đã chết. Bà ngoại buồn thiu cả tuần lễ. Bố mẹ tôi bàn tính mua con chim khác. Bà gạt ngang.
Tôi là người viết báo nghiệp dư. Từ khi khởi viết vào năm 1959, tay cầm viết luôn là nghề tay trái. Tôi sống bằng nghề tay phải khác. Cho tới nay, nghề chính của tôi là…hưu trí, viết vẫn là nghề tay trái. Tôi phân biệt viết báo và làm báo. Làm báo là lăn lộn nơi tòa soạn toàn thời gian hoặc bán thời gian để góp công góp sức hoàn thành một tờ báo. Họ có thể là chủ nhiệm, chủ bút, tổng thư ký, thư ký tòa soạn hay chỉ là ký giả, phóng viên. Nhưng tôi nghĩ người quan trọng nhất trong tòa soạn một tờ báo là ông “thầy cò”. Thầy cò ở đây không có súng ống hay cò bóp chi mà là biến thể của danh từ tiếng Pháp corrector, người sửa morasse. Morasse là bản vỗ một bài báo cần sửa trước khi in.
Sáu tuần. Nàng đã đi ra khỏi mụ mị từ trong mối tình hiện tại của mình. Cô bạn gái hỏi "Tỉnh chưa?". Tỉnh rồi, nhưng tỉnh không có nghĩa không yêu anh ấy nữa, chỉ là không còn mụ mị mê muội nữa thôi...
Trong bóng tối dày đặc, dọ dẫm từng bước một, hai tay vừa rờ vào hai bên vách hang động, vừa quơ qua quơ lại trước mặt, dù cố mở mắt lớn, chỉ thấy lờ mờ, nhiều ảo ảnh hơn là cảnh thật. Cảm giác bực bội vì đã trợt té làm văng mất ba lô, mất tất cả các dụng cụ, thực phẩm và nước uống cần thiết. Bối rối hơn nữa, đã rớt chiếc đèn bin cầm tay, mất luôn chiếc đèn bin lớn mang bên lưng và máy liên lạc vệ tinh có dự phòng sóng AM. Giờ đây, chỉ còn ít vật dụng tùy thân cất trong mấy túi quần, túi áo khoát và hoàn toàn mất phương hướng. Chỉ nhớ lời chỉ dẫn, hang động sẽ phải đi lên rồi mới trở xuống. Trang nghĩ, mình có thể thoát ra từ lối biển. Là một tay bơi có hạng, nàng không sợ.
Cô người Nha Trang, lớn lên và đi học ở đó. Cô sinh trưởng trong một gia đình gia giáo, mẹ cô đi dậy học, ông thân cô cũng là hiệu trưởng một trường trung học lớn ở Phú Yên. Năm 22 tuổi, cô học năm cuối đại học văn khoa Huế thì gặp gỡ chú Hiếu trong một dịp hội thảo sinh viên do các biến động thời cuộc miền Trung bắt đầu nhen nhúm. Chú Hiếu lúc đó đang theo cao học luật. Họ thành đôi bạn tâm giao tuổi trẻ, sau thành đôi uyên ương. Ba năm sau khi Trang vừa 25 tuổi, Hiếu đã nhậm chức chánh án tòa thượng thẩm.
Nhà trẻ kế bên bệnh xá. Trong góc một trại giam. Nhà trẻ có sáu đứa con nít. Bệnh xá có mấy bệnh nhân già. Coi bệnh xá là một tù nam nguyên là y tá ngoài đời. Coi nhà trẻ là một tù nữ án chung thân. Coi cả hai nơi ấy là một công an mà mọi người vẫn gọi là bác sĩ! Sáu đứa con nít đều là con hoang. Mẹ chúng nó là nữ tù bên khu B, đừng hỏi cha chúng đâu vì chúng sẽ không biết trả lời thế nào. Cũng đừng bao giờ hỏi mẹ chúng nó về chuyện ấy vì rằng đó là chuyện riêng và cũng là những chuyện rất khó trả lời. Thảng hoặc có ai đó được nghe kể thì lại là những chuyện rất tình tiết ly kỳ lâm ly bi đát… chuyện nào cũng lạ, chuyện nào cũng hay
Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
Ông Hải đứng trước của nhà khá lâu. Phân vân không biết nên mở cửa vào hay tiếp tục đi. Tâm trạng nhục nhã đã ngui ngoai từ lúc nghe tiếng chim lạ hót, giờ đây, tràn ngập trở lại. Ông không biết phải làm gì, đối phó ra sao với bà vợ béo phì và nóng nảy không kiểm soát được những hành động thô bạo.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.