Hôm nay,  

Thư gửi Ba

29/11/202213:43:00(Xem: 6129)

Tùy bút

altar

 

Một giờ sáng, lạnh

con dế gục đầu vào khe cửa

khản giọng kêu bababababa…

Ba giờ sáng, lạnh

gió lạc giọng thổi ngoài hiên babababa…

bỗng rụng cành cây khô bên thềm nhà

Năm giờ sáng, lạnh

ly trà nóng, nghẹn

rưng rưng mắt con nhòa bóng ba…

 

*

 

Nebraska khoảng 1giờ sáng ngày 12 tháng 9 năm 2022. Con đường hiu hắt ánh đèn vàng. Con đường hun hút vắng im. Chỉ có trăng đi cùng má và các con gái. Út lái xe, tìm đường đến phi trường Kansas để bay về California. Các con gái vừa nhận tin ba vừa đi xa. Bàng hoàng! Thảng thốt!

Con đường khuya và ánh đèn hiu hắt vàng và hun hút vắng và lặng im lặng im. Chỉ có trăng đi cùng má và các con gái. Các con gái lặng im cố nén chặt mọi cảm xúc. Nén chặt đến độ đông cứng. Không chịu tin đó là sự thật. Trăng mười sáu lặng im giữa bầu trời mờ sương se lạnh, mải miết đồng hành cùng chiếc xe đơn độc trên nẻo đường dài thăm thẳm hun hút vắng. Chỉ có trăng đi cùng, vẫn đi cùng chiếc xe chở nặng đớn đau yêu thương. Ba ơi, qua khung cửa bên phải xe, con nhìn thấy ánh mắt nụ cười hiền hậu bao dung của ba in vào vầng trăng. Lần đầu tiên trong đời con hiểu thế nào là yêu thương đến đau đớn, ba ơi!

Má và các con gái tiếp tục vững vàng hướng về Cali với niềm tin tuyệt đối, niềm tin mãnh liệt: Chúa đang ngự vào chiếc xe, gìn giữ tay lái của Út, vây phủ phước hạnh quanh xe, bảo bọc che chở cho mọi người về tới nơi bình an.

 

*

 

Ba ơi! Khi nghĩ về ba, chúng con luôn cảm nhận được niềm hạnh phúc “yêu thương và được yêu thương.”

 

Ba ơi, chúng con cảm ơn ba đã cho chúng con niềm hạnh phúc đó. Và hạnh phúc càng trọn vẹn hơn khi ba là niềm tự hào của chúng con, là Tấm Chắn vững chãi cho mỗi chúng con. Tấm Chắn đó được nung đúc bằng chất liệu yêu thương, nhân từ, độ lượng, tin cậy. Tấm Chắn đó vững chãi đến độ, dù chúng con đứa đã có con có cháu, vẫn cảm thấy bé bỏng khi chạy về ôm lưng ba, dụi đầu vào đó mà hít thở hương thơm tình phụ tử.

 

Ba ơi, nghĩ về ba, chúng con nhớ những câu chuyện ba thường kể bằng giọng Quảng Ngãi mặn mà chân chất. Mỗi câu chuyện là một bài học làm người. Bài học lớn nhất mà ba đã dạy chúng con là bài học Yêu Thương, bằng chính cuộc đời ba: Thời loạn lạc, ngôi nhà ba má ở thị xã, luôn mở rộng cửa cưu mang nhiều bà con ở vùng xôi đậu lên ăn tối, ngủ nhờ. Với chức vụ và công việc của ba, ba đã cứu sống được bao người dân vô tội. Và còn nhiều việc nữa không thể kể hết.

Rồi cơn lốc xoáy của lịch sử đã tung hê tất cả… Gia đình mình tan đàn xẻ nghé. Bầy con của ba, đứa nhỏ nhất chỉ vài tháng tuổi, dại khờ ngơ ngác, bơ vơ côi cút giữa bão tố cuộc đời. Đứa về quê nội, đứa theo má đến miền đất sình lầy. Đời bầm dập nhưng chúng con vẫn luôn giữ gìn nếp nhà yêu thương, hiếu thuận, đùm bọc lẫn nhau.

 

Còn ba, chốn lao tù khổ sai nơi rừng thiêng nước độc, đói lạnh bệnh tật, cận kề bên cái chết, vẫn đêm đêm cặm cụi khắc tên cả gia đình trên chiếc lược bằng vỏ đạn. Bầy con đông nên chiếc lược khá dài, dài theo niềm thương nỗi nhớ. Miếng vỏ đạn thì lạnh cứng mà nét chữ của ba lại ấm áp mềm mại, bởi ba đã gửi gắm vào từng nét chữ bằng cả trái tim yêu thương mong nhớ. Có lần má đi thăm nuôi ba, dẫn theo đứa con nhỏ, đứa nhỏ đó giờ đã 50 tuổi, vừa kể lại rằng ba cứ ôm chặt nó vừa hôn vừa nói “nhớ con quá… nhớ con quá…”

 

Rồi ba ra tù trong bộ quần áo màu nâu đất, xộc xệch rách rưới, chân yếu mắt mờ, vàng vọt tiều tụy, suy sụp, kiệt quệ… Nhưng không lâu sau, ba lại vững vàng, sáng suốt, vẫn là cây cổ thụ che chắn, định hướng tương lai con cái. Lần lượt ba đem các em ở Quảng Ngãi vào Cần Thơ để đoàn tụ, học hành.

 

Sau đó, may mắn đã đến với gia đình mình như nhiều gia đình HO khác, ba đã dắt má cùng chúng con đến xứ sở nầy, để chúng con được sống cuộc đời tự do, được hít thở bầu không khí trong lành.

 

Ba ơi, mảnh vườn nho nhỏ sau nhà được nhiều rau trái tươi ngon, là những món quà yêu thương mà chúng con được nhận vào mỗi cuối tuần khi về thăm ba má. Hổm rày chúng con ăn rau muống, thanh long, chúng con uống nước lựu ép. Từng cọng rau xanh mượt, từng trái thanh long ngọt lành, từng hạt lựu đỏ thắm, từng nhánh hoa thơm… Tất cả, tất cả… đều có bóng dáng ba cạnh má lom khom chăm sóc gieo trồng, vun xới tưới tẩm.

 

Ba ơi! Từ bữa ba vắng nhà, chúng con luôn xúm xít cạnh má. Cùng kể lại những kỷ niệm về ba. Có đứa kể, lần nọ ba tới nhà em, ba ho, em rót nước mời ba uống. Ba cạn chén, em lại rót tiếp. Cứ vậy… nhiều lần… Tối, ba tủm tỉm cười: “Chưa bao giờ ba được uống nước nhiều như bữa nay!” Em hỏi: “Sao ba hổng biểu con đừng rót nữa?” “Bây lo cho ba, sao ba lại không uống!” Kể xong, em chậm nước mắt: “Ba mình hiền quá! Thương ba quá!” Rồi chuyện đứa này bịnh, đứa kia bị tai nạn… là ba gọi thông báo ngay để chúng con cùng chăm sóc nhau! Bao nhiêu kỷ niệm, mà qua đó, chúng con mới nhận ra rằng ba luôn để mắt quan tâm từng đứa, còn chúng con thì nhiều lúc vô tình với ba. Ba ơi, chúng con xin lỗi ba.

 

Vắng ba, nhà trống trải quá, đến nỗi đứa chắt mới 6 tuổi của ba má, vừa bước vô nhà, liền hỏi “Ông cố đâu rồi”. Lúc về nó lại hỏi với vẻ mặt ngơ ngác buồn: “Ông cố đâu rồi?”

 

Mấy năm gần đây, dù tuổi già sức yếu, ba vẫn chăm chỉ đi nhà thờ, học lời Chúa, rất sốt sắng trong nhiều sinh hoạt của nhà thờ. Nhìn ba đứng cạnh má trong ban hát, nhìn ba đọc kinh thánh, chúng con vui mừng lắm. Má con hằng đêm vẫn thích nghe và hát Thánh ca. Bài nào má con thích, ba hăm hở in ra cho má hát. Vậy đó, ba luôn dạy chúng con bằng chính việc làm của ba: Bài học về đức tin, về tình nghĩa vợ chồng.

 

Ba ơi! Ba xa lìa nơi nầy đột ngột quá khiến cả nhà thảng thốt, bàng hoàng, đau nhói, trống vắng, hụt hẫng… cứ ngỡ chỉ là giấc mộng, chỉ là giấc mộng thôi mà ba ơi! Làm sao tránh khỏi nỗi buồn đau quặn thắt nhức nhối khi vắng ba, ba ơi!

 

Nhưng, những lúc tỉnh táo, chúng con nhận ra: sự đột ngột đó lại chính là ước nguyện của ba, vì trước phút chia tay, thân thể ba không hề phải chịu đựng đau đớn. Chúa đã nhậm lời cầu xin của ba: Ba từ giã miền đất tạm nầy thật bình an nhẹ nhàng.

 

Và chúng con cũng nhận ra rằng: Việc ba đột ngột rời bỏ cõi tạm lại chính là lời nhắc nhở chúng con: Hãy sống tốt hơn nữa để khi nhắm mắt xuôi tay, lòng được vui thỏa. Hãy sống bao dung độ lượng nhiều hơn nữa. Hãy sống yêu thương nhiều hơn nữa, bởi vì, chỉ trong tích tắc… Phải, chỉ trong tích tắc thôi, người ta có thể bất ngờ vĩnh viễn xa lìa người thương yêu của mình.

 

Vậy đó! Cho đến giây phút cuối cùng, cuộc đời ba vẫn là bài học cho chúng con: Bài học làm người, bài học yêu thương.

 

Ba ơi! Thân thể ba đã trở về cùng đất, nhưng hình ảnh ba mãi mãi trong tim chúng con. Ba đã sống vuông tròn cả đạo lẫn đời. Chúng con tin chắc rằng giờ nầy ba đang thảnh thơi thỏa nguyện nơi miền vĩnh phúc đời đời.

-- Trương thị Kim Chi

 

 

Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…
Đợi, và đợi. Có đến khoảng gần một trăm người xếp hàng đợi. Mới có năm giờ sáng thôi! Trời Đà Lạt đổ sương xuống nghe ướt tóc, ướt vai. Phòng bán vé còn đóng kín cửa. Sáu giờ mới bán vé. Biết vậy rồi, nhưng đám đông người này vẫn đến sớm chờ đợi. Chẳng qua là số xe có giới hạn, mình đến sớm mới mong có xe đi, nếu không thì phải về và trở lại vào ngày mai. Người ta nhìn nhau, như ngầm nói qua đôi mắt rằng đến sớm chắc ăn hơn. Mà không chừng có người đã ngủ đêm trước phòng bán vé để được xếp hàng phía trên cùng.
Tháng 7 trời xanh cao, mùa lên hâm nóng. Mặt đất nung nhiệt ngấm ngầm địa chấn, như muốn cùng người rung vang lời ngân quá khứ. Tháng 7 gọi về hàng phượng đỏ thắm rung rinh chùm nở, thứ lung linh ảo mờ, gần gụi mà xa thẳm, “mù không lối vào...” (TCS). Vang vang trong gió, lời trẻ thơ láng giềng vọng lại đùa vui tiếng nước...
Nếu Thanksgiving ở bên Mỹ mang màu sắc rộn rã chuẩn bị cho mùa Giáng Sinh, thì Thanksgiving bên Canada lại rơi vào Tháng Mười dịu êm, có đủ màu sắc nâu vàng đỏ của lá cây chuyển màu cuối Thu, với màu cam của những trái pumpkins cho lễ hội Halloween . Những ngày này, gia đình tôi chộn rộn với những đợt “thu hoạch” cuối cùng, chuẩn bị dọn dẹp vườn tược sạch sẽ trước khi mùa lạnh đang đến. Theo ý nghĩa nguyên thủy của Thanksgiving là Tạ Ơn đất trời cho mùa màng bội thu, thì năm nay gia đình tôi cũng xin được Tạ Ơn. Mấy cây táo và plum trúng mùa trĩu quả, hái mấy lượt vẫn không hết. Những quả plum tím căng mọng ngọt ngào, vừa đem tặng bạn bè, hàng xóm, vừa để đông lạnh ăn dần, mà vẫn còn mấy rổ tươi đầy ắp. Mùa táo, nhiều gia đình Việt Nam thích đem ngâm chua ngọt, trong khi những người bản xứ làm mứt táo, hoặc sên táo làm apple pie, một trong những món bánh khoái khẩu của nhiều người trong bàn ăn Thanksgiving bên cạnh pumpkin pie .
Nhạc sĩ Hùng Lân mất vào ngày 17/9/1986 tại Sài Gòn. Hôm nay, ngày 17/9/2025 tôi nhớ tới ông. Tính ra đã 39 năm. Ba năm trước, tại nhà thờ Phanxicô Dakao đã có một lễ giỗ 36 năm ngày mất của ông. Linh mục Đỗ Xuân Quế, chủ tế lễ giỗ, đã nói trong thánh lễ: “‘Hôm nay là lễ giỗ thứ 36 của ông Phêrô Hoàng Văn Hương tức là nhạc sĩ Hùng Lân. Ông là người đáng cho chúng ta trân trọng và quý nhớ. Vậy chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện cho ông được vào nước Thiên Chúa. Nếu ông đã được vào rồi thì xin nhớ đến chúng ta là những người đang tiếp tục cuộc hành trình nơi dương thế đang hướng về Nước Trời.” Sau thánh lễ là chương trình tưởng niệm trong đó có tiết mục trình diễn nhạc của Hùng Lân, cả nhạc đạo lẫn nhạc đời. Người dẫn chương trình cho tiết mục này là nhạc sĩ Cao Huy Hoàng, đến từ Phan Thiết. Ông chia sẻ: “Nếu ngày ấy, thầy Hùng Lân qua đời, Chúa hỏi ‘nén bạc của ta đâu?’, thầy có lẽ không trả lời hoặc chưa trả lời kịp thì hôm nay, chúng ta có thể nhìn lại và thấy được rằng nén bạc của thầ
« Chưa gặp em tôi đã nghĩ rằng, có người con gái đẹp như trăng… khi gặp em rõ thấy một bà chằng! » … Chằng tinh, hay chằn tinh là một loài người hay cũng coi là một loài quỷ hung ác. Tùy vào hoàn cảnh, tùy vào người ta gặp, ta đối diện. Nay thế giới có nhiều loại chằn tinh, chằn ở trong mọi lãnh vực, chính trị, văn hoá, kinh tế, giáo dục và cả trong xã hội v.v…Do đấy, ta muốn tìm hiểu nguyên do chằn ở đâu ra. Hẳn là trong văn hóa Nam Bộ Việt Nam - Ấn Độ - Khmer…? Theo tác giả Huỳnh Thanh Bình, chằn là một loại sinh vật truyền kỳ, làm hộ pháp, canh giữ chùa, tháp, chánh điện phật giáo nam truyền và chiếm vị trí quan trọng trong văn hóa và tâm linh của người Khmer nam bộ, phổ biến trong kho tàng truyện kể dân gian và tuồng tích sân khấu của đa phần người Đông Nam Á.
Cả ông ta và tôi cùng cười xòa. Ui, mình đúng là đãng trí thứ thiệt. Phần Lan đã gia nhập Eurozone từ 1999 và dùng Euro ngay từ buổi đầu như những quốc gia thành viên khác. Ngày trước, nhắc đến những thủ đô bắc Âu, người ta thường nghĩ đến Oslo giàu có của Na Uy, Copenhagen trẻ trung của Đan Mạch. Giờ đây, Helsinki dần dà từng bước góp mặt vào danh sách những thủ đô được du khách ưa chuộng. Sức thu hút của thành phố ngày càng tăng. Từ 15 năm nay, Helsinki là một trong những thành phố tân tiến nhất Âu châu.
Bà xỏ chân vào đôi dép, lê lẹp xẹp vào buồng. Bà lấy ra một bịch nhựa trong đó đựng trăm thứ lặt vặt không ra hình thù gì. Bà nhìn trước, ngó sau như người ăn trộm. Chị mua ve chai đứng ở ngoài cửa bếp. Như một việc đã quá quen thuộc, chị đón lấy cái túi, móc vào cái cân xách. Trước kia chị phân loại giấy ra giấy, nhựa ra nhựa, nay thì hai bên đã thỏa thuận với nhau là có một cái giá trung bình cho toàn thể. Bà thì nhìn đăm đăm vào mớ hàng lặt vặt ấy như nhìn một thứ gì quý giá lắm. Mà không quý sao được, vì đó là kết quả của nhiều tuần bà lượm lặt và cất giữ.
Cho tới bây giờ, thỉnh thoảng trong giấc ngủ tôi vẫn nằm mơ tới chuyện thi Tú tài và giật mình tỉnh dậy, mừng húm mà mồ hôi vẫn đổ ra. Trong lần thi Tú Tài I, tôi đã thức đêm thức hôm học đến bị yếu phổi. Chữ “Tú Tài” nặng nhọc với tôi như vậy tuy nghĩa của nó là “đẹp đẽ, có khả năng, tài giỏi”.Ông Tú Xương có lẽ cay đắng với chữ “Tú Tài” không kém gì tôi. Ông vác lều chõng đi thi tất cả 8 lần, từ khoa Bính Tuất (1886) tới khoa Bính Ngọ (1906). Ba lần đầu ông đạp vỏ chuối, tới lần thứ tư, năm Giáp Ngọ (1894), ông mới vớ được cái Tú Tài nhưng là Tú Tài đậu vớt, chữ ngày đó gọi là “Tú Tài Thiên Thủ”. Ông chết với cái danh Tú Tài, chẳng bao giờ kiếm được cái “Cử Nhân” mặc dù vẫn cặm cụi đi thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.