Hôm nay,  

Chiếc áo đêm Noel

22/12/202219:50:00(Xem: 4122)
Truyện

IMG_3776



Bữa đó tôi đạp xe đi chợ Xóm Mới, gặp nhỏ Hương Văn ngay đầu chợ, nhỏ hỏi tôi:

 

– Ê, năm nay nhà ngươi có mục Reveillon với nhóm nào không??

 

Tôi thở dài:

 

– Trường mới lớp mới thì bạn bè chưa quen lắm, chắc ở nhà thôi!

 

– Vậy thì qua nhà bác tao chơi đêm Noel nhe?

 

– Nhà bác mày có gì mà chơi!?

 

– À quên, tao chưa nói hết ý, bà chị họ con bác Ba tao đó, chị ấy tổ chức tiệc Noel cho vài bạn bè thân, chị ấy cho tao rủ thêm bạn, nói chung là toàn người trẻ tuổi.

 

– Nhưng mày có chàng người yêu tháp tùng, tao đến đó lẻ loi dư thừa à?

 

Nó chu mỏ:

 

– Mày đừng lo! Tao có rủ nhỏ Thuỷ lớp mình nữa, hai đứa bay đi chung về chung là an toàn, ai nỡ để mày cô đơn đâu nà!

 

Chúng tôi là bạn bè thân thiết suốt ba năm học Trung học, năm nào lớp trưởng cũng tổ chức tiệc Noel cho cả lớp tại nhà của một người nào đó luân phiên nhau. Năm ấy là năm chúng tôi vừa tốt nghiệp ra trường mỗi đứa một nơi, kẻ vào Đại Học, người vào Cao Đẳng, đứa thì đi làm, đứa ở nhà chờ sang năm thi tiếp. Lẽ ra chúng tôi cũng có tiệc Noel họp mặt, nhưng hồi giữa tháng 12 bố của một bạn trong lớp bất ngờ qua đời vì tai nạn giao thông, nên mọi người đồng ý huỷ tiệc Noel, thành ra tôi mới bị “ế độ” và nhỏ Hương Văn nhảy ra rủ rê. Tôi nhận lời vì có nó quen biết, hơn nữa, đêm Noel mà nằm ở nhà thì buồn quá, đi đến chỗ lạ cũng có thú vị là không ai biết mình là ai, tha hồ vô tư ăn uống rồi tiệc tàn đi về, là xong.

 

Vì chủ nhà và khách mời đa số đều có đạo Công Giáo, nên tiệc bắt đầu lúc 9 giờ tối, để mọi người xong xuôi chuyện đi lễ đêm Vọng Giáng Sinh, rồi đến tiệc mừng Chúa. Tôi và nhỏ Thuỷ đến nơi, đó là căn nhà lầu đúc ba tầng nằm gần chợ Xóm Mới, ngay mặt đường giữa xứ Hà Nội và xứ Lạng Sơn. Nhỏ Hương Văn ra đón chúng tôi, dẫn xe vào cổng, bước vào nhà, sao thấy im re, có thấy bàn tiệc gì đâu. Tôi hỏi:

 

– Ủa, chả lẽ tụi tao đếm sớm nhứt sao, mà cũng chưa thấy bày biện gì cả?

 

Nhỏ cười lớn, chọc quê tôi:

 

– Hai đứa bay đến trễ nhứt thì có! Khách đã có mặt đầy đủ trên sân thượng rồi kìa.

 

Nhỏ Thủy reo lên:

 

– Hả? Làm trên sân thượng? Độc đáo à nghen!

 

Chúng tôi theo chân Hương Văn dẫn lên sân thượng. Ngạc nhiên và thích thú vì lần đầu dự tiệc với nhiều người lạ, và tiệc ngoài trời đêm đầy sao rất lãng mạn. Không gian bữa Reveillon được trang hoàng lấp lánh mờ ảo, với những chiếc ghế xinh xắn xung quanh các chậu cây cảnh khắp sân thượng. Ở góc ngay cửa lên xuống là chiếc bàn dài để thức ăn theo kiểu buffet, và nổi bật là dàn máy cat–xet tối tân, đang mở hết công suất bài hát gợi nhớ gợi thương vời vợi qua tiếng hát nức nở của nữ hoàng sầu muộn Giao Linh:

 

Một mùa sao sáng đêm Noel Chúa sinh ra đời,

người hẹn cùng tôi ngày về khi đất nước yên vui…

 

Chúng tôi chào hỏi với chị họ của Hương Văn, chủ nhân buổi tiệc, còn những người khác, chỉ gật đầu nếu chạm mặt dưới ánh sáng nhấp nháy của những dây đèn bên cây thông Giáng Sinh thật to. Tiệc bắt đầu, mọi người rộn ràng ăn uống, nói chuyện, nghe nhạc, đứng ngồi hoặc đi loanh quanh hỏi thăm nhau. Cảnh tượng ấm cúng, trang trọng, vui tươi mừng đêm cực linh Thiên Chúa giáng trần. Trời càng về khuya gió trên sân thượng càng nhiều, ngoài trời có hơi sương nên người tôi bắt đầu run lên, vì tôi ăn mặc khá phong phanh. Nhỏ Hương Văn có bạn trai đi chung nên lo áo cho nó, nhỏ Thuỷ thì vốn tính cẩn thận nên mặc chiếc áo thun dầy, tay dài, cổ lọ nên nó chẳng bị hề hấn gì. Còn tôi, với chút máu điệu, vả lại cứ nghĩ tiệc làm ở trong nhà, nên tôi diện chiếc quần Jeans bó và chiếc áo lửng cổ thuyền mong manh, vì trời Sài Gòn có bao giờ lạnh lắm đâu. Nhìn mọi người ai cũng ấm áp, (chắc họ biết tiệc làm ngoài trời sân thượng) tôi thấy thèm, nhưng tôi có quen biết ai để mà nhờ vả hỏi han, mà biết hỏi làm sao. Lòng tự trọng và lòng kiêu hãnh của tuổi trẻ nhắc nhở tôi ráng chịu đựng, cố ngồi im lặng thu mình co ro, tới đâu tính tới đó. Mà hai nhỏ bạn vàng của tôi cũng vô tình lắm cơ, chúng cứ mải mê ăn uống, cười nói, chẳng để ý tôi đang lạnh lẽo, tái tê khắp người.

 

Chịu đựng thêm một lúc, răng tôi bắt đầu đánh vào nhau lập cập, và nước mắt nước mũi bắt đầu lã chã…tuôn rơi. Tôi lúng túng chưa biết làm sao, thì một anh chàng ngồi đối diện liền đứng lên, vòng qua chỗ tôi ngồi, đưa cho tôi mẩu khăn giấy, rồi cởi chiếc áo khoác của anh ta đưa cho tôi:

 

– Cô lau nước mũi đi và mặc chiếc áo này vào. Cô đang run rẩy rồi kìa!

 

Trời ơi, tôi muốn độn thổ ngay lập tức, nhưng vẫn vội vàng chụp lấy cái khăn giấy và chiếc áo, lí nhí cám ơn “vị cứu tinh” của tôi vì anh ta chỉ cần đến chậm vài phút là tôi gục ngã vì chết cóng!

Người ấy xua tay ý là không có chi, rồi đi ra phía cửa sân thượng, xuống dưới nhà.

 

Người tôi đã bớt lạnh, tôi tính nhờ ai đó tìm một ly trà ấm, nhưng nhỏ Hương Văn biến đi đâu chả thấy, còn nhỏ Thuỷ ngồi kế bên tôi mà có thèm để mắt đến tôi bởi nàng vẫn líu lo nói chuyện với chàng trai bên cạnh. Đúng lúc đó, “người ấy” xuất hiện trở lại nơi đầu cửa sân thượng, mang đến cho tôi ly sữa nóng:

 

– Cô uống ly sữa, tôi có thêm chút café cho cô vừa ấm bụng vừa tỉnh táo nhé!

 

Anh ta đặt ly sữa xuống trước mặt tôi, chẳng cần chờ tôi cám ơn, rồi lại nhanh nhẹn ra phía dàn máy đổi đĩa nhạc, có vẻ như anh ta rất thân quen với chủ nhà và một số người ở đây. Chiếc áo và ly sữa của anh ta làm tôi tươi tỉnh lại, rung động theo tiếng hát của Sĩ Phú qua băng nhạc Sơn Ca mà anh ta vừa mở volume thật to, chắc để cho …tôi nghe (còn ai khác nữa chớ, anh ta mới tặng tôi một ly sữa rất ngọt ngào đấy thôi):

 

Mùa Noel đó chúng ta quen nơi giáo đường

Mùa Noel đó em dắt anh vào tình yêu…

 

Đến nửa đêm tiệc bắt đầu tàn, người lai rai ra về, chúng tôi ở lại cuối cùng, phụ nhau dọn dẹp vài thứ linh tinh. Hương Văn đưa tôi và Thuỷ ra ngoài cổng, có “người ấy” và vài người khác cùng ra tiễn. Tôi dừng lại, đưa chiếc áo cho anh ta nhưng anh ta lại khoác nó trở lại vai tôi:

 

– Em cứ mặc về nhà, hôm nào tôi sẽ ghé qua lấy!

 

Tôi lùng bùng cái lỗ tai, mới hồi nãy còn gọi tôi là “cô”, giờ chuyển tông qua “em” từ khi nào vậy trời! Còn “hôm nào ghé qua lấy” là sao? Có biết nhà tôi đâu chớ, tính làm quen hả, tôi đâu phải loại con gái dễ dàng như thế! Tôi liền giãy nảy:

 

– Dạ thôi, không cần đâu ạ!

 

Rồi cởi chiếc áo quăng vào người anh ta lần nữa, nhưng anh ta lại nhẹ nhàng khoác nó trở lại vai tôi, cười mỉm chi:

 

– Nếu em không muốn tôi tới nhà thì cứ nhờ người đưa lại, không sao cả. Đường về còn dài, không đủ ấm sẽ bị cảm lạnh đấy, cô bé!

 

Rồi mọi người cũng xúm vào đồng tình, tôi không còn chọn lựa nào khác, không thể tiếp tục dùng dằng đẩy đưa chiếc áo qua lại, tôi đành nói lời cám ơn và cùng nhỏ Thuỷ đạp xe về nhà.

 

Hôm sau là ngày nghỉ, buổi chiều cơm nước xong, tôi mang chiếc áo đến nhà Hương Văn, nhờ nó mang đến nhà Bác nó như lời dặn của người ấy.

 

Trả áo rồi, tôi bắt đầu… chờ đợi. Tôi tin chắc rằng, thế nào người ấy cũng sẽ kiếm cách đến nhà tôi, (từ Xóm Mới xuống Thông Tây có bao xa). Chả lẽ tự dưng mà anh ấy “hy sinh” chịu lạnh để cho tôi mượn áo, tự dưng pha cho tôi ly sữa, rồi tự dưng biểu tôi mặc áo về nhà để anh ấy ghé lấy? Cái kiểu làm quen “xưa như trái đất” ấy sao mà dễ thương chi lạ!

 

Khi anh ấy tìm đến, tôi sẽ rất kiêu kỳ, sẽ rất điệu đà, sẽ rất duyên dáng xinh đẹp, và trêu chọc anh ấy rằng, em đã trả áo anh rồi, còn nợ nần gì nữa đâu.

 

Nhưng sau đó vài ngày, vài tuần, rồi vài tháng, chẳng có ai đến tìm như tôi tưởng tượng. Tuổi trẻ với những bận rộn học hành cũng làm tôi quên đi chuyện ấy, dù có đôi lần tôi thấy giận hờn vu vơ (chẳng biết giận… ai!), và thấy tiếc nuối ân hận vì đã mau mắn trả lại cái áo… sớm quá!

 

Mấy chục năm đã trôi qua, cứ mỗi khi Tháng Mười Hai trở về, trời Canada tuyết phủ trắng xoá không gian, thỉnh thoảng tôi lại nhớ về đêm Reveillon tuổi mười chín, trên sân thượng căn nhà lầu đúc xứ Lạng Sơn và “sự cố mượn áo” năm xưa.

 

Đêm Chúa giáng trần cứu rỗi nhân loại, còn người ấy “cứu vớt” tôi qua cơn lạnh giá đêm Noel. Vì chỉ gặp nhau một lần đó, nên đến giờ tôi không còn nhớ chính xác hình dáng người cho mượn áo, cao thấp mập ốm ra sao, mặt ngang mũi dọc đẹp xấu thế nào (chắc là không xấu, nên tôi mới chịu… nhận áo).

 

Nhưng có điều, tôi vẫn nhớ rõ chiếc áo ấy, màu đen, bằng da thật, mềm như nhung. Chiếc áo cho tôi hơi ấm đêm Reveillon, giữ ấm tôi suốt con đường về giữa trời khuya, và khi về nhà đi vào giấc ngủ vẫn còn sưởi ấm cõi lòng bâng khuâng của tôi.

 

Và tôi cũng nhớ cả tên người ấy, vì nó cũng bắt đầu bằng vần L, như tên của tôi:

 

– Anh Lâm, giờ anh đang ở nơi nao trên quả đất này?!!

 

Tái Bút: Nhỏ Hương Văn hiện đang định cư bên Mỹ (tiểu bang North Carolina) góp ý, tôi nên post bài này lên Facebook mỗi năm khi mùa Giáng Sinh về, để “khiến người tên Lâm/ đau khổ ăn năn/ khiến người tên Lâm/ đau khổ muôn năm!”

 

Tôi sẽ làm theo lời đề nghị của nó, ít ra cũng để anh ta hắt hơi sổ mũi… cho bõ ghét!!!

 

– Kim Loan

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
Tình yêu không phải là thứ ngôn ngữ nói ra, mà là ngôn ngữ để giữ kín! Tôi đã chôn kín hình ảnh đẹp nhất một đời người. Bây giờ người con gái năm xưa đang ở đâu, sống ra sao trong vạn nẽo đường trần hệ lụy. Có còn nhớ cơn mưa bong bóng chiều nào nơi hiên ngôi chùa nhỏ? Có còn tìm thấy những cơn mưa bong bóng bên đời? Hay tất cả đã phôi pha, đã trôi theo những giọt mưa bong bóng một thời đã mất?


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.