Hôm nay,  

Năm hết Tết đến

14/01/202313:14:00(Xem: 3421)
Tùy bút

year_2023


Tháng mười hai ở xứ này cũng giống tháp chạp ở xứ mình, tháng này vào mùa lễ, mùa hưởng thụ, nghỉ ngơi, thăm viếng, sum họp… Mùa lễ bắt đầu từ lễ Tạ Ơn kéo dài cho đến tết tây, nhà cửa, phố xá trang hoàng đèn hoa rực rỡ. Người người tấp nập mua sắm, đi chơi. Nhà nhà sum họp, gặp mặt, tiệc tùng…

Thời gian lặng lẽ trôi qua không nhanh không chậm, không nghinh không tiễn, không cũ không mới, không phụ thuộc tâm lý chủ quan của con người. Con người nhìn thời gian bằng cái tâm vọng tưởng của mình nên mới có năm cùng tháng tận, năm hết tết đến. Thời gian vốn vô thủy vô chung, chẳng có xưa nay, càng không có năm tháng ngày giờ. Những khái niệm ấy là do con người chế ra chứ bản thân thời gian làm gì có. Chúng ta đến rồi đi, sanh tử luân hồi bất tận chứ thời gian vẫn vĩnh viễn vô biên tế. Chúng ta loay hoay lo cơm áo gạo tiền quanh năm suốt tháng để rồi một ngày nhìn lại thì than: “Thời gian qua nhanh quá, ta đã già, thời gian chẳng còn bao lâu nữa đâu”. Chúng ta mãi tranh nhau chỗ trú ngụ, miếng ăn thức uống, duy trì dòng giống để rồi một mai kia chỉ còn nhúm tro trong hũ cốt hay nắm đất dưới huyệt mộ tối đen. Chúng ta ra sức tận lực tranh đoạt mà bất chấp tất cả và kết cục như thế thì liệu có đáng chăng?

 

Nhiều người trong chúng ta vẫn thường than: Năm cùng tháng tận, năm hết tết đến… mà bao nhiêu việc chưa xong, hoặc là thời gian quá eo hẹp, mọi thứ còn dở dang. Thật sự thì thời gian chẳng có nhanh chậm, chẳng có gấp hưỡn, chẳng bắt đầu cũng chẳng kết thúc. Tất cả là do cái tâm của chúng ta sai xử. Chúng ta quá tham lam, quá ôm đồm đấy thôi! Chúng ta muốn mà không biết đủ, người thì mưu sự công cao cái thế, kẻ thì cầu danh vọng để đời hoặc lưu hậu thế, thấp hơn chút nữa là mưu sự giàu sang, tích lũy của cải, đất đai mà không bao giờ biết đủ, biết dừng, dồn hết công sức, tâm lực và thời gian để mưu cầu mà quên đi hạnh phúc chính phút giây hiện tiền tại nơi này. Nhà Phật gọi là “Hiện pháp lạc trú”.

 

Văn học phương tây có câu chuyện anh chàng tham lam muốn sở hữu thật nhiều đất đai, vị vua trị vì thông cảm và cho phép anh ta: “Từ bình minh cho đến khi trời tắt nắng, người chạy được đến đâu thì phần đất ấy sẽ thuộc về ngươi”, thế là anh chàng cắm đầu cắm cổ chạy, chạy quên cả uống nước ăn cơm, mệt cũng quên nghỉ để thở. Anh ta chạy từ bình minh cho đến giữa trưa và rồi đến tận xế chiều vẫn chưa chịu nghỉ. Anh ta cố chạy thêm nữa để tranh thủ thêm đất trước khi mặt trời lặn. Anh ta cố lê đôi chân rã rời, thân người rũ rượi để chạy thêm những bước cuối cùng trước khi mặt trời tắt nắng, cuối cùng anh ta gục ngã, thế là bao nhiêu đất đai, bao nhiêu công sức của anh ta hóa thành hư vô. Đất đai lại thuộc về đất đai, thời gian vẫn còn mãi đó, chỉ có anh chàng mê muội mà quên thân mình. Phần nhiều chúng ta cũng đều giống anh chàng mê này. Chúng ta quên thời gian vì tranh thủ tranh đoạt, chiếm lấy, sở hữu những thứ không thuộc về mình, duy cái hạnh phúc thực tại của mình thì lại bỏ quên.

Thời gian, ngươi là chủ tể thành tựu mọi thứ nhưng cũmg chính ngươi hủy diệt đi tất cả. Không có thứ gì có thể tồn tại mãi với thời gian. Cái ý niệm tồn tại vĩnh viễn, muôn đời, muôn năm là vọng tưởng của con người. Nhà Phật gọi thế gian này vô thường, mọi vật, mọi việc, mọi thứ thay đổi liên miên trong từng phút giây. Thời gian vô thủy vô chung, không đến không đi, không thêm không bớt, không ngắn không dài, không nhanh không chậm. Thế gian thì vô thường, tâm con người tràn đầy vọng tưởng. Bởi thế xưa nay bạo chúa tham lam cứ gây chiến để chiếm đất lập đế quốc, tàn sát để cướp của cướp đất, xây lăng mộ to lớn để dòng họ trường trị muôn năm, nhưng rồi thời gian bào mòn đi tất cả, “Quốc phá sơn hà tại” – Thơ Đường. Những đế quốc xưa giờ chỉ còn cái danh từ trong sách vở, lăng mộ bị trộm mộ đào, chính phủ đời sau khai quật. Thời cổ đại, trung đại việc gây chiến chiếm đất lập đế quốc còn có thể hiểu được. Thời đại hôm nay khoa học kỹ nghệ cao độ, đất đai không còn là vấn đề thiết yếu của sự hùng mạnh. Ấy vậy mà bạo chúa Putin sống trong hoang tưởng gây chiến tranh để chiếm đất lập đế quốc. Cuộc chiến tàn bạo và dã man đã tàn phá đất nước Ukraine, tàn sát người dân Ukrainian. Để trả thù sự kháng cự ngoan cường của họ, y hạ lệnh công kích không chừa mục tiêu nào, dù đó là nhà thờ, nhà trường, nhà thương, nhà đèn, nhà trẻ, nhà bảo tàng, shopping, cầu cống, đường xá… Tội ác của y ngập trời, bàn tay y đẫm máu đỏ, cái màu tiêu biểu của những lá cờ Cộng Sản. Đế quốc Nga không thể tái lập được, dã tâm và mộng tưởng của y không thành, thời gian đang trôi qua nhưng tội ác của y sẽ còn với tháng năm. Loài người còn thì ngôn từ văn tự còn ghi chép tội ác của y, kể cả tội ác của những kẻ hùa theo y.

 

Bên tây thế, bên đông còn tệ hơn. Tập xếnh xáng cũng hoang tưởng muốn khôi phục đế quốc Hán, muốn làm Hồng Tập đế. Y hung hãn hiếu chiến chiếm lấy biển đông của các nước Đông Nam Á, lân đất biên giới của các nước xung quanh. Y dùng chính sách cho vay để gài những chính phủ tham nhũng, sau đó buộc họ phải lập nhượng địa, giao không cảng biển, phi trường, hầm mỏ... Y đề ra “Nhất Đới Nhất Lộ” hòng thống trị cả thế giới. Tiếc là y không nhìn lại Hán đế, Đường đế, Tống đế, Minh đế… giờ ở nơi nào? Y cũng quên rằng chính chủ nghĩa cộng sản đã hủy diệt tất cả di sản văn vật của những triều đại ấy, giờ y lại muốn tái lập. Lòng tham, sự tàn độc của y quả thật cũng vô cùng tận như dòng thời gian.

 

Năm hết tết đến là cách nói của dân gian, là tâm lý huyễn mộng của chúng ta, làm gì có hết hay cùng! Hôm qua còn có hôm qua nữa, ngày mai còn có ngày mai nữa, quá khứ vô thủy vị lai vô chung kia mà!  Chẳng còn chẳng hết, chẳng đến chẳng đi, chẳng thừa chẳng thiếu… Các nhà văn, các nhà khoa học đưa ra thuyết đường hầm ánh sáng, xuyên không... nghĩa là con người có thể trở về quá khứ vô cùng tận hoặc đến tương lai vô giới hạn chỉ trong nháy mắt. Điều này rất gần với quan điểm Phật giáo là thời gian và không gian không thật, đó chỉ là từ một niệm tâm:

 

Thập phương hư không bất ly đương xứ

Cổ kim tam thế bất ly đương niệm.

 

Nghĩa là mười phương trời đất vô biên không rời một điểm hiện tại, quá khứ và tương lai vô cùng tận cũng không rời một ý niệm ngay hiện tiền. Thiền môn có câu chuyện kể rằng: Có người nằm mộng thấy mình chu du khắp Ta Bà thế giới, lên cõi thiên đường, xuống cả địa ngục. Đi về quá khứ gặp hết tổ tiên xa xưa, đến tương lại gặp vô số con cháu sau này, nhưng khi mở mắt ra thì thấy lưng mình không rời chiếu một ly, thời gian nằm mơ chỉ trong chốc lát. Thì ra cả thời gian và không gian không ngoài một niệm tâm. Cả mười phương lẫn ba thời đều do một niệm tâm biến hiện ra.

 

Nho gia bên Tàu cũng có câu chuyện “Giấc mộng hoàng kê” ý nghĩa cũng gần như thế. Chuyện kể anh học trò nghèo từ quê lên tỉnh đi thi, trên đường đi ghé vào quán trọ và nấu một nồi kê. Trong lúc chờ kê chín anh ta ngủ thiếp đi, trong giấc mơ thấy mình đậu trạng nguyên, cưới công chúa, làm quan to, công cao cái thế lẫy lừng. Thế rồi bị nịnh thần xàm tấu dèm pha nên bị biếm truất, suốt mấy chục năm trường lên voi xuống chó như thế, khi anh ta giật mình thức giấc thì nồi cháo kê còn đương sôi chưa chín. Rõ ràng thời gian và không gian không rời một điểm và giây phút hiện tại, một ý niệm sanh ra cả thời và không.

 

Sự thật là thế, chơn đế là vậy, cái nhìn như thị (look as is). Tiếc rằng chúng ta không thể hoặc chưa đủ sức để nhìn mọi sự như chúng là, Chúng ta vẫn nói và vẫn nhìn thấy năm cùng tháng tận, năm hết tết đến, đời mà!

 

Tháng mười hai tây hay tháng chạp ta, tết tây hay tết ta đều đang trên đường đến. Mọi người rộn ràng và hân hoan chờ đợi. Người Việt xứ này được (hay bị) ăn hai cái tết luôn. Tết tây bên này xong còn phải có chút gì cho gia đình mình ở quê ăn tết ta, chỉ có những người may mắn cả gia đình sum họp ở hải ngoại thì mới không còn bận chuyện tết ta.

Năm hết tết đến, công việc hãng xưởng cũng gấp rút, chợ búa shopping tấp nập người mua sắm, đường xá xe cộ ngược xuôi. Thời gian không gian dẫu không thật nhưng chúng ta cũng đang tận hưởng những phút giây hạnh phút hiện tại ở nơi này, chính tại phút giây này.

 

– Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 1/2023)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.
Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ BinhB. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.
Ngày xưa, thông thường, chồng của cô giáo được gọi là thầy, cũng như vợ của thầy giáo được gọi là cô. Cho dù người chồng hoặc vợ không làm việc trong ngành giáo dục. Nhưng trường hợp cô giáo tôi, cô Đỗ Thị Nghiên, trường Nữ Tiểu Học Quảng Ngãi thì khác. Chồng của cô, thầy Nguyễn Cao Can, là giáo sư dạy trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Cô Đỗ Thị Nghiên dạy lớp Bốn, trường Nữ Tiểu Học. Trong mắt nhìn của tôi, của con bé mười tuổi thuở ấy, cô Nghiên là một cô giáo rất đặc biệt. Cô nói giọng bắc, giọng nói trầm bổng, du dương. Tóc cô ngắn, ôm tròn khuôn mặt. Da cô trắng nõn nà. Có lần ngoài giờ học, trên đường phố của thị xã Quảng Ngãi, tôi thấy hai vợ chồng thầy Can, cô Nghiên đèo nhau trên xe gắn máy. Cô mặc jupe, mang kính mát, ngồi một bên, tréo chân, khép nép dựa vai thầy. Ấn tượng để lại trong trí của con bé tiểu học là hình ảnh của đôi vợ chồng sang trọng, thanh lịch, tân thời, cùng mang thiên chức cao cả: dạy dỗ lũ trẻ con nên người.
Tháng Tư này tròn 50 năm biến cố tang thương của miền Nam Việt Nam, những người Việt hải ngoại, đời họ và thế hệ con cháu đã trưởng thành và thành công trên xứ người về mọi mặt học vấn cũng như công ăn việc làm. Họ đang hưởng đời sống ấm no tự do hạnh phúc đúng nghĩa không cần ai phải tuyên truyền nhồi sọ. Nhưng trong lòng họ vẫn còn bao nhiêu kỷ niệm thân thương nơi chốn quê nhà.
Có một buổi trưa, hai đứa đang thưởng thức bò bía, đậu đỏ bánh lọt ở chùa Xá Lợi, góc Bà Huyện Thanh Quan và Ngô Thời Nhiệm (?), thì gặp một "cái bang". Đầu đội khăn rằn, đeo mắt kiếng cận nặng, cổ quấn vài ba chiếc khăn đủ màu và ông còn dẫn theo hai con chó, vừa đi vừa múa tay múa chân như người say rượu. Chừng như ông không cần thấy ai, chung quanh chỉ có ông và hai con chó. Người đàn ông "cái bang" đó là nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo nổi tiếng của Việt Nam: Bùi Giáng. Hai con chó vừa đi vừa sủa vang, khiến một số nữ sinh Gia Long đang đứng quanh xe bò bía, vội vã chạy né qua bên kia đường. T
Một ngày nọ, ngài gặp một bà mẹ, bà ôm một đứa con vừa mất vừa đi vừa khóc lóc thảm thiết, ai cũng mũi lòng thương, thông cảm vì mất con là nỗi đau khổ nhứt trong cuộc đời… người ta mách bảo là bà nên gặp Sa Môn Cồ Đàm, bà sung sướng bế con đã mất đi ngay và gặp phật, xin phật dùng phép thần thông cứu sống con bà. Xung quanh phật, các tì kheo đang ngồi cầu nguyện cho chúng sanh được giải thoát và cũng cầu nguyện cho các chúng sanh còn tại thế sẽ may mắn mà gặp được giáo pháp của Như Lai. Rồi người mẹ đau khổ cũng được gặp phật.
Cuối tháng Ba, những cơn gió nóng tràn về thành phố. Một hai trận mưa lạc loài đến sớm rồi thôi. Không khí ngột ngạt. Mùi đất nồng khó chịu. Như một cô gái uể oải trong cơn bệnh, thành phố trông mệt mỏi, rạc rời. Đoan đi vào Câu lạc bộ của trường. Bình thường, cứ đến thứ Sáu là không khí chuẩn bị cho chiều văn nghệ thứ Bảy lại nhộn nhịp. Nhưng hôm nay, như có một cái gì kéo mọi thứ chùng xuống. Chị Thuận, người phụ trách Câu lạc bộ, mỉm cười khi thấy Đoan, nhưng là một nụ cười kém tươi. Chị vẫn câu chào hỏi thường lệ: “Em uống gì không?” “Dạ, chị cho em nước chanh.” Chị Thuận pha ly nước chanh đặc biệt, nóng, ít đường, mang đến để trước mặt Đoan, và kéo ghế ngồi xuống bên Đoan. Hình như không có gì để bắt chuyện, chị Thuận nhìn ra sân, nói nhỏ:
Tôi khép cánh cửa phòng ngủ, rón rén bước ra, sợ gây tiếng động làm thằng cháu nội lại giật mình thức giấc; thằng bé đã mười tháng tuổi, biết làm đủ thứ trò như con khỉ con, chiếc mũi bé xíu của nó chun lại, đôi môi dầy cong lên, mỗi khi bà nội bảo nó làm xấu, thật dễ thương, canh nó hơi mệt vì phải chơi cho nó đừng chán, lèo nhèo, nhưng chơi nhiều thì sức bà nội có hạn, làm sao chạy theo nó cả ngày được!
Những cái mặt hướng về phía trước. Những cái đầu hơi cúi, những cái lưng hơi còng có lẽ bởi sức nặng của chiếc ba lô đeo sau lưng, hay tại - nói một cách màu mè, văn vẻ, đầy giả dối là - gánh nặng của đời sống. Trước mặt tối đen. Bên phải là những cánh cửa cuộn bằng tôn đóng kín. Những cánh cửa lạnh lùng, vô cảm; lầm lì từ khước, âm thầm xua đuổi. Dưới chân là nền xi măng. Cứng và lạnh. Không thể là nơi tạm dừng chân, nghỉ mệt. Sâu vào phía sát vách là nền lót những viên gạch vuông. Không một cọng rác. Không một bóng chó hoang, mèo lạc. Không cả những hình hài vô gia cư bó gối vẩn vơ nhìn nhân gian qua lại.
Đức hạnh cao quý thể hiện thành tâm vô phân biệt. Tâm vô phân biệt tạo thành một sự bình đẳng tuyệt đối trong giáo pháp của đức phật. Giáo pháp thâm sâu vi diệu của Như Lai thì không phải ai cũng hiểu hết, cũng ngộ được điều đó đa phần các vị đại trí thấu đạt. Còn lòng từ bi của phật thì lan tỏa vô phân biệt như ánh sáng mặt trời soi sáng khắp nơi nơi, như mưa rơi tắm mát đại ngàn. Những lời giảng dậy trên đây được dẫn chứng nhiều và rõ nhứt là ở phật giáo Tây Tạng.
Anh Hai của tôi, sau chuyến vượt biên thất bại, bị giam ở nhà tù Bình Đại Bến Tre chín tháng, khi trở lại trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ mới biết đã bị cắt hộ khẩu, mất việc làm, bèn quay về Sài Gòn sống tạm với gia đình, chờ cơ hội vượt biên tiếp theo. Một hôm, anh bị cơn sốt rét tái phát hành hạ, (hậu quả của những ngày trong trại giam), cần phải đến bệnh viện chữa trị, nhưng hộ khẩu không có, anh bèn mượn cái Sổ Sức Khỏe của thằng cháu (con bà chị họ ở kế bên nhà), để đi khám bệnh


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.