Hôm nay,  

Vần thơ sầu rụng

25/01/202309:34:00(Xem: 4792)

Truyện ngắn

 

reeducationcamps

Tôi vốn ăn nói vụng về nên rất sợ những người đa ngôn, hay lý luận. Nhưng ghét của nào trời trao của ấy. Lúc đã lâm hoàn cảnh tù tội, dun dủi sao tôi lại bị sắp xếp ở cạnh một ông già lắm chuyện: ông Roan. Vừa mới biết nhau ông đã tự giới thiệu ông là một cựu Trưởng Chi Thông Tin Chiêu Hồi. Ông cũng nói ông từng là một nhà thơ có chút tiếng tăm. Thỉnh thoảng ông lại ọ ẹ ngâm vài câu thơ, phần nhiều là thơ Kiều. Hình như cái miệng ông không biết mệt mỏi. Ông cứ kể cho tôi nghe chuyện này, chuyện nọ lung tung. Ban đầu, nể ông lớn tuổi, lại nghĩ ông gặp cảnh tù tội muốn xả bớt tâm sự cho nhẹ người, tôi cũng chịu khó lắng nghe. Nhưng rồi phải nghe riết chuyện của ông, tôi chịu không nổi. Nhất là lần ông kể về một chuyến đi du lịch Nhật Bản của ông: Ông lái xe hơi chở cả gia đình ông từ Việt Nam đi thẳng một mạch tới thủ đô nước Nhật! Thế là hết cỡ! Từ đó, mỗi khi ông kể chuyện, tôi phải giả vờ ngủ gà ngủ gật để tìm lối thoát.

 

Chỗ tôi và ông Roan nằm ở ngay dưới ngọn đèn rất sáng nên khách khứa đến liên miên. Hết người này đứng ké để đọc lá thư nhà đến người kia ngồi nhờ để nặn cái mụt nhọt. Thành thử với tôi cái may lại trở thành cái rủi. Riêng ông Roan coi như đó là cái ưu thế để ban phát ơn huệ cho thiên hạ. Chỗ của mình mà chẳng mấy khi được nghỉ trọn vẹn, tôi rầu lắm. Các bàn cờ tướng, domino đều cứ tập trung gần gần dưới hai ngọn đèn. Đây là những môn giải trí "không nguy hiểm" được phần đông bạn tù ưa chuộng, lúc nào cũng có người sẵn sàng tham gia. Tôi nói không nguy hiểm để phân biệt với những trò giải trí như đố vui, kể chuyện, đã có vài trường hợp bị cho là lợi dụng để mỉa mai, châm biếm chế độ. Như lần kia, một anh kể chuyện Tam Quốc rồi bình một câu "Tào Tháo quả thật là tay gian hùng, đa nghi không ai bằng!" Chỉ có thế mà sau đó cả phòng phải ngồi rã xương sống ra để họp kiểm thảo phê bình.

 

Lần kiểm thảo đáng nhớ đời nhất là vụ cán bộ trại ra lệnh tìm cho ra tác giả một bài thơ viết trên bao thuốc lá dán ngay bên vách gần cửa trước phòng giam. Bài thơ tứ tuyệt viết như sau:

 

Cay độc làm chi thế lão trời!

Trên khô chết đuối, ruột gan sôi.

Anh hùng bách chiến ngày nao đó?

Uống hận còn đây lớp mắm mòi!

 

Cái hình ảnh lớp mắm mòi thật quả không ngoa chút nào. Ban đêm tù nằm người này sát người kia từng dãy như những con mắm được xếp đều rỉ, ai nhìn mà chẳng có cảm tưởng như vậy? Lượng người trong phòng quá đông, người ta phải chia chỗ thật sít sao, phải lấy thước đo rồi vạch dấu, nằm ngang hai dãy tính đầu kê sát bờ tường. Cứ về khuya là hình ảnh những lớp mắm mòi hiện ra mồn một. Nói ra người ngoại cuộc có thể khó tin, nhưng trong thực tế, chỉ vì cái chỗ nằm mà không biết bao nhiêu vụ xích mích, thậm chí đưa đến chuyện ẩu đả nhau xảy ra. Những người to con thường gặp rắc rối hơn vì không đủ chỗ để trở mình. Ai muốn nằm nghiêng co chân lại một chút cũng khó khăn. Những người không có chỗ trong hai dãy trên và hai đầu phòng, phần nhiều là người mới vào, phải nằm trên lối đi mà bạn tù thường gọi là "phi đạo". Người ta gọi đùa những người đã được chia chỗ nằm là dân thường trú và những người nằm trên phi đạo là dân tạm trú. Dân tạm trú ngày cũng như đêm ít khi được nghỉ yên vì trên phi đạo người đi tiểu đi cầu cứ qua lại mãi, phải luôn nghe tiếng động dội của bước chân hoặc bị người ta bước vấp vào thân. Đồ đạc của họ cũng không có chỗ riêng để cất, phải gởi nhờ chỗ những bạn thường trú. Dân tạm trú còn phải luôn luôn nhớ chằm chằm ngày vào phòng của mình để khi có ai trong số thường trú được thả hay đổi phòng, cứ tính theo thứ tự thâm niên mà điền khuyết. Qui định mặc nhiên trong các phòng tù, bao giờ kẻ vào phòng sau hết cũng phải "đóng" chỗ sát cầu tiêu nhất hoặc chỗ bất tiện nhất.

 

*

 

Vì bài thơ trên, chúng tôi đã phải ngồi liên tiếp nhiều buổi để kiểm thảo. Cán bộ nói phải kiểm thảo cho đến khi nào lòi người viết ra. Nhưng rốt cục chẳng đi tới đâu. Cũng may, chúng tôi chỉ phải ngồi một tuần rồi cán bộ cũng lơ luôn. Không tìm ra tác giả tất nhiên nẩy sinh ra nhiều phỏng đoán. Ông Roan hay nói thơ nên cũng có người đoán ông là tác giả. Đáng lý gặp trường hợp như vậy, ông phải dè đặt, né tránh mới phải. Đằng này ông lại ưa khơi nhắc chuyện bài thơ với mọi người:

 

– Bài thơ nghe ra hồn đấy chứ! Tôi làm gì mà làm được như vậy! Thế mà người ta cứ đổ cho tôi làm tôi cứ lo bị đòn oan!

 

Mỗi lần nói thế xong ông lại gật gật đầu mà cười luôn cả ánh mắt khiến người đối diện có cảm tưởng như ông đang nói thêm "Dại gì tôi nhận tội!"

 

Trại giam Tân Hiệp Biên Hòa (còn gọi là trại B5) kể từ tháng 6/75, là nơi giam giữ nhiều cấp cán bộ, dân chính và sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa (trừ cấp Tướng lãnh), thêm vào đó là lẻ tẻ một số tội phạm hình sự. Cho tới tháng 10/76, số sĩ quan cấp tá phần đông bị đưa đi Bắc, số còn lại lần lượt bị đưa về trại Bầu Lâm, Xuyên Mộc. Tôi vẫn nhớ mãi những cảnh bi hài đã xảy ra trong phòng. Trong một bàn domino chơi ai thua phải chịu đấm bóp cho người thắng, cắc cớ sao lại có một ông cựu chánh án và một thằng nhỏ bị bắt vì tội ngủ chợ tham dự. Ông chánh án mới tập chơi nên bị thua liên miên. Thằng nhỏ ngủ chợ thì lại luôn luôn thắng. Thế là thằng nhỏ cứ nằm sấp thẳng lưng cười khì khì bắt ông chánh án nắn bóp và đấm lưng dài dài. Người đứng coi thấy vậy không ai khỏi tức cười. Một người nói đùa:

 

– Nằm đó mà cười, ông tòa phán một lời là chết chú mày đó nghe!

 

Ông cựu chánh án cũng cười xuề xòa:

 

– Bố mà phán một tiếng là đi đời nghe con!

 

Trong lúc mọi người đang cười đùa vui vẻ thì ông Roan lăng xăng lấy ra hai táng đường đưa cao (ông mới được thăm nuôi), tỏ vẻ trịnh trọng tuyên bố:

 

– Bây giờ tôi ra một câu đối, ai đối được trước nhất, tôi thưởng hai táng đường này. Rồi ông dõng dạc đọc: "Chánh án hết thời, ngồi đấm bóp cho thằng ngủ chợ!"

 

Đọc xong câu đối, ông Roan càng hí hửng:

 

– Mại dô! Mại dô! Ai làm đối xong sớm trình ra mà lãnh thưởng.

 

Một cú đá bất ngờ tung vào bàn tay đang cầm hai táng đường làm ông Roan "ối" lên một tiếng. Hai táng đường trên tay ông văng mất. Ông Bửu, một cựu trung úy chỉ mặt ông Roan hét:

 

– Tù cũng phải có tư cách của tù nghe chưa! Ông đặt câu đối mà đùa cho vui thì tôi không nói làm gì. Ông lại bày đặt đưa ra trò giải thưởng, vậy thì đâu phải là đùa? Ông muốn phỉ báng hả? Nếu không vì tuổi tác tôi đá vào mặt ông rồi!

 

– Đáng đời! Đáng đời! –  Một số người nhao nhao lên.

 

Ông cựu chánh án đứng dậy. Miệng ông vẫn cười xuề xòa:

 

– Thôi, thôi, đủ rồi! Bây giờ đến phiên tòa xử! Không có vành móng ngựa không có bục xử đứng thế này cũng được! Ông Bửu về chỗ mình nghỉ cho hạ hỏa. Bàn domino nghỉ chơi trả chỗ cho ông Roan nằm nghỉ... Bãi tòa!

 

*

 

Từ khi bị đưa vào phòng này, tôi cố gắng tập thói quen đi cầu vào buổi khuya, khoảng sau bốn giờ. Lúc ấy cầu tiêu ít người, có thể ngồi thong thả. Bể nước có hai vòi chảy liên tục, nhờ nhằm lúc thưa người tắm nên khá đầy, dễ dội rửa. Đó là thời điểm thuận tiện để tắm rửa thoải mái nhất trong ngày. Tôi rất ớn những lần thức dậy trễ, nhất vào khoảng thời gian gần sáng. Vài lần buồn tiểu hay đau bụng muốn chết mà phải xếp hàng chờ đến phiên mình. Đấy là chưa nói có khi đã ngồi được vào cầu, một mình lọt thỏm giữa vài ba cái vòi của những người hết nhịn nổi đứng chung quanh cứ hướng về lỗ cầu mà tiểu tiện. Thật là một hình ảnh vừa khó coi vừa tức cười. Những cái vòi hình như muốn chĩa vào đầu, vào mặt cái người đang trần truồng ngồi co rúm nín thở trên cầu. Dĩ nhiên không tránh khỏi một phần nước tiểu vương vãi hoặc dội bắn lên tóc, lên mặt và cả lên môi mép "nạn nhân". Thói quen của đàn ông là rẩy vòi khi tiểu tiện xong. Rất nhiều người vẫn đứng trước mặt "kẻ rủi ro" mà làm việc ấy không một chút tế nhị. Có người còn vừa rắm vừa khúc khích cười nữa. Nếu ngoài đời gặp cảnh ấy, khó mà biết được chuyện gì sẽ xảy ra. Nhưng ở đây, người ngồi cầu chỉ biết nhắm mắt chịu trận. Đã khổ thế mà lớp đứng chờ bên ngoài cứ cằn nhằn thúc hối nữa. Đi cầu xong, nạn nhân phải tìm cách chen vào gần bể nước, vừa tắm gội vừa nhổ nước miếng liên miên.

 

Phòng giam chứa ngót tám chục mạng mà chỉ có hai cái cầu tiêu bố trí hai đầu một bể nước dùng cho cả tắm rửa lẫn uống, cho nên ô vệ sinh ngày cũng như đêm không mấy khi vắng người. Cái kinh nghiệm đó ai cũng biết cả, nhưng cái thói quen, cái lười, cái uể oải, mệt nhọc, chán chường đã khiến một số đông biết khổ như thế mà vẫn không thèm tránh.

 

Trong phòng chỉ có hai bóng điện hai đầu mở sáng liên tục ngày đêm. Như đã nói phần trên, chỗ tôi nằm lại ngay dưới một bóng, nên tôi hoàn toàn mất trắng sự thoải mái. Chỗ sáng sủa là chỗ người ta hay tập trung nhất, mình làm gì mọi người đều biết. Người ta cứ mượn làm chỗ đánh cờ, chơi domino. Không cho mượn thì mất lòng, cho mượn thì mất nghỉ. Tôi chỉ thực sự tìm được giấc ngủ từ khoảng 12 giờ đến bốn giờ, bốn rưỡi. Nhưng ngán nhất là người bạn già bên cạnh lại hay phá tôi vào những giờ giấc ấy khi ông tìm được một ý tưởng mới! Lần ấy tôi cũng đang ngon giấc thì bị ông đánh thức:

 

– Này, ông còn thức đấy chứ! Tôi nghĩ rằng vua Tự Đức nổi tiếng về văn chương nhưng có khi ngài cũng dở. Như hai câu "Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán/  Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường" đâu có hay! Đáng lý phải nói "Thi đáo Tùng, Tuy bất Hậu Đường" mới chỉnh chứ! Phải không?

 

Khổ ơi là khổ. Bình thơ kiểu đó mà cũng lôi người ta dậy giữa buổi khuya. Cũng suy từ đó, tôi nghĩ bài tứ tuyệt mà cả phòng bị kiểm thảo suốt tuần kia khó có thể là của ông được. Tôi nhăn nhó tỏ vẻ bực mình cho ông biết rồi quay người ngủ tiếp.

 

Thế nhưng chứng nào tật ấy! Một lần khác ông cũng lôi tôi dậy lúc tôi đang thả hồn rong chơi tìm quên hiện tại:

 

– Ông thấy tôi làm hai câu thơ này được không? "Đêm nằm nghe pháo gọi nhau/ Cảm thương cô phụ canh thâu mong chồng!"

 

Bị mất ngủ đâm ra cáu kỉnh, tôi cằn nhằn:

 

– Thơ dở ẹc như thế mà cũng phá người ta! Pháo ở chỗ nào?

 

– Pháo đó! Pháo đó! Nghe đi! Có phải không?

 

Bấy giờ tôi mới hiểu và không khỏi tức cười. Thì ra "pháo" phát ra từ những cái bụng sôi lõng bõng của những người tù đang nằm từng dãy như cá mòi ấy. Khi đều đặn, khi hỗn loạn, đầu này "bì", đầu kia "bộp" y như đối đáp nhau. Chẳng khác gì hai phe trên chiến trường đang pháo kích lẫn nhau. Trong phòng tù, ai không may mắc chứng mất ngủ thì mặc sức mà nghe "pháo"! Giữa cái cảnh trần tục hồn nhiên đó, tôi thấy lòng mình đột dâng lên bao nỗi ân hận. Với tuổi trẻ lúc bình thường, vì ham những thú vui tào lao dọc đường, con người dễ hờ hững về trách nhiệm đối với gia đình. Khi sa cơ bị nhận chìm xuống bể tục thì trái tim mới nhu hóa cái vỏ bọc xơ cứng của nó mà tìm về chỗ thiết tha nhất, cao quí nhất của tình cảm gia đình. Tôi chẳng để lại được một chút của cải nào cho vợ con trước khi vào tù. Vợ tôi, người thiếu phụ yếu đuối với ba đứa trẻ chưa kịp đến trường dễ gì mà sống trong thời buổi sóng gió này? Có thể giờ này nàng cũng mất ngủ và đang suy nghĩ, đang thương nhớ, đang lo lắng về tôi. "Cảm thương thiếu phụ canh thâu mong chồng". Tôi nhẩm lại lời thơ của ông già mà vài phút trước đây tôi nghĩ là thơ cà chớn. Tôi thấy nó thiết tha, thấm thía làm sao! Hình ảnh người vợ và mấy đứa con dại chập chờn hiện lên óc tôi. Nước mắt tôi rưng rưng...


Cùng lúc, tôi chợt nghe ông Roan ngâm nho nhỏ hai câu thơ ấy. Lần này ông ngâm giọng não nuột vô cùng. Lời tầm thường, không có gì đặc biệt nhưng phát ra đúng lúc đúng cảnh nên nghe có hồn lạ lùng.

 

– Anh nhớ em lắm, em biết không, hỡi trời!

 

Nghe tiếng nấc của ông già nhưng tôi không thể tin lỗ tai mình được. Tôi ngước nhìn ông. Hai dòng lệ đang bò trên đôi má nhăn nhúm của ông! Hèn gì người ta nói có khi làm được một câu thơ, thi nhân phải rướm máu trong lòng.

 

– Chắc vợ ông còn trẻ lắm? –  Tôi hỏi hơi vô duyên.

 

– Không. Năm mươi chín tuổi rồi, nhưng chúng tôi thương nhau lắm, không mấy khi rời nhau. Những lần mất ngủ như thế này, vợ tôi thường hay quạt cho tôi và dỗ tôi ngủ. Chuyện nhà tôi cũng lâm ly và đẹp lắm ông ơi.

 

Tôi giả vờ ngái ngủ nhắm mắt quay sang phía khác. Lần này không phải tôi chán nghe chuyện ông mà vì tôi không muốn rước thêm những nỗi xúc động cho mình trong khi đang cần giữ gìn sức khỏe. Tôi lắc đầu cố xua đi mọi hình ảnh để tìm lại giấc ngủ. Nhưng ánh đèn lúc đó sao nó sáng lạ lùng làm tôi không cách nào ngủ được. Sau cùng tôi nghĩ ra một trò chơi ngộ nghĩnh cầu may –  đếm pháo của thiên hạ. Và tôi ngủ đi lúc nào không hay sau khi đã đếm quá con số 200.

 

*

 

Hai ngọn đèn mở suốt ngày đêm vì cửa phòng luôn đóng im ỉm. Ngay cả những lỗ thông hơi lớn nhỏ của phòng cũng đều bị bít sạch. Việc bít kín các lỗ thông hơi ở các nhà giam, tôi nghĩ là một việc làm có chủ trương. Tôi từng bị giam qua hai trại: Trại giam B5 Tân Hiệp Biên Hòa rồi Khám đường Bà Rịa, chỗ nào cũng ngót một năm. Tôi thấy trại nào, ở các phòng nhốt đông người, người ta cũng cho bít sạch các lỗ thông hơi như nhau. Chẳng lẽ đây chỉ là một sự trùng hợp tình cờ? Nếu tắt đèn thì dù đang buổi trưa, ánh sáng trong phòng cũng chỉ giống như khi trời chạng vạng. Không thông hòa được với bên ngoài, cái không khí oi bức như luôn quyện lấy mọi người, mọi vật trong phòng. Tuy không lao động và tắm rửa hằng ngày, có người tắm vài ba lần, thân hình người nào cũng luôn luôn nham nháp mồ hôi. Bốn bức tường vừa tầm lưng người ngồi chỗ nào cũng rịn ướt. Mọi thứ hôi hám không thoát ra ngoài được tạo thành một khối khí nồng nặc bị dồn nén lại, khiến ai nấy đều bị tiệp mùi. Những người nằm sát cầu tiêu, kể cả lúc cầu có người đang dùng, cái mũi vẫn thấy "bình thường". Cho nên chẳng ai ngạc nhiên khi trong cầu có kẻ đang rặn thì gần đó lại có mấy người bày đồ ăn ra ăn rất tự nhiên.

 

Phòng giam có hai lớp cửa, lớp ngoài là một tấm cửa bửng sắt. Lớp trong là lớp cửa bằng song sắt thẳng đứng lõm vào trong phòng chừng một thước, chân cửa, kể cả chân tấm cửa bửng lớp ngoài, tạo một hình chữ nhật. Tôi để ý thấy khi mở cửa, người ta phải mở từng bước một. Mở ổ khóa xong, người mở một tay bưng mũi, một tay kéo lá cửa bửng sắt bật ra thật nhanh. Mặt y luôn né sang một bên để tránh luồng khí từ bên trong phòng bắn ra ngoài. Nhổ xong mấy bãi nước miếng, đợi mấy phút sau cho không khí khá bình thường, y mới tiến lại mở khóa lớp cửa song sắt.

 

Bên trong ngược lại, mỗi khi nghe tiếng mở khóa lách cách từ một phòng nào đó, một số tù đã tiến ra gần cửa song sắt chờ đợi. Tấm cửa bửng vừa kéo ra, ánh sáng và không khí từ bên ngoài tuôn vào phòng đúng là một luồng sinh khí tuyệt diệu. Tù trong phòng tranh nhau ùa về phía cửa hít lấy hít để mong thải ra những chất khí bẩn đầy ắp trong buồng phổi và hớp vào những ngụm không khí trong lành từ ngoài tuôn vào. Ai ở vào cảnh này mới hiểu được giá trị của từng hớp không khí, từng giọt ánh sáng tự nhiên. Dù là mở cửa để đưa cơm nước hay kêu người đi đâu, mặc cho cán bộ thúc giục, bất cứ người tù nào cũng cố tìm cách trì hoãn cho việc đóng cửa càng lâu càng tốt. Đó là điểm giống nhau tuyệt đối trong lòng những người tù.

 

*

 

Ngày kia, trại lượm thêm đâu đó một thằng nhỏ chừng mười sáu tuổi nhét vô phòng. Nó được bố trí nằm ngay cửa cầu tiêu. Thằng nhỏ tỏ ra bất mãn lắm. Nó hậm hực không chịu nói chuyện với ai cả. Lần đầu lãnh phần ăn, nó ngại ngùng cất lại chờ đợi. Có lẽ mới từ ngoài vào nó còn quá lạ với cái mùi đặc biệt ở đây. Thấy những người khác ăn uống tỉnh bơ trong lúc trên cầu người khác đang xả ra xoèn xoẹt, nó tỏ thái độ ghê tởm ra mặt. Có lẽ nó vẫn cố đợi khi nào trên cầu vắng người mới ăn. Cố đợi... Nhưng rốt cục rồi nó phải hiểu, phải nhanh chóng quen cả hoàn cảnh lẫn mùi vị trong chốn địa ngục này. Đói bụng quá, thằng bé phải mở thức ăn ra. Một số người chung quanh nhìn nó gật đầu mỉm cười thông cảm. Mặt thằng bé tiu nghỉu chịu thua. Những cử chỉ của chú nai tơ ấy từ đầu chí cuối không thoát khỏi cặp mắt quỉ quái của ông Roan.

 

Không biết suy nghĩ thế nào, khi thằng bé giở đồ ăn bắt đầu nhai thì ông Roan sắp hàng bước vào cầu. Khi ngồi được vào cầu, ông nhíu mày, tỏ vẻ suy nghĩ. Thình lình ông làm như thấy cảnh sinh tình, cất giọng ngâm cao:

 

Cầu  trên  lão  bá  ì  è  rặn,

Bệ dưới tiểu đồng nhỏn nhoẻn nhai.

 

Ông gật gật đầu lấy làm đắc ý lắm. Dù có người đang chờ thay ông, ông vẫn ngồi nán ngâm đi ngâm lại mấy lần. Có nhiều người tỏ ra khó chịu nhưng cũng có người vỗ tay tán thưởng. Khi bước ra khỏi cầu, ông Roan vẫn tiếp tục gật gù tươi cười hãnh diện vì cái tài xuất khẩu thành chương của mình. Thấy ông già sắp bước ra, thằng nhỏ buông muỗng đứng dậy. Nguồn cảm hứng quá dạt dào trong lòng khiến ông Roan không để ý đến vẻ cau có trên nét mặt thằng bé. Ông nhìn nó tươi cười hỏi:

 

– Thế nào! Nghe được không?

 

– Được lắm chứ!

 

Thằng nhỏ vừa trả lời vừa đấm một phát thật mạnh vào miệng ông Roan. Ông quá bất ngờ lạng quạng giây lát rồi nhổ ra một bãi nước dãi lẫn máu với một cái răng cửa.

 

– Tao đùa chút xíu cho đỡ buồn chứ có gì mà mày đánh tao?

 

– Tôi làm thế để ông nhớ mãi câu thơ quá hay của ông!

 

Trưởng buồng vội chạy lại răn đe dặn dò thằng bé. Ông Roan thì lủi thủi trở lại súc miệng rồi về chỗ mình. Nhiều nhóm người trong phòng lại có chuyện để bàn tán, cười rúc rích với nhau. Ông ngồi phịch xuống cạnh tôi phân bua:

 

– Mình đùa cho vui, mẹ cha nó, cái dân du côn trời đánh!

 

Tôi cố nhịn cười và tạo một vẻ buồn thông cảm:

 

– Bác Roan có đau lắm không? Mẹ kiếp! Cái thời điên đảo khiến rồng cũng phải nhịn rắn liu điu!

 

Đầu kia, nổi lên những tiếng cười hô hố rồi một người nào đó cố tình nói lớn:

 

– Bây giờ tôi mới hiểu ý nghĩa bài thơ “Vần Thơ Sầu Rụng” của Lưu Trọng Lư! Vì vần thơ mà rụng răng, vậy ta nên gọi ông Roan là ông “Vần Thơ Sầu Rụng” để ghi nhớ chuyện này nghe anh em!

 

Một lời phát ra độc địa thật! Từ đó một số bạn tù cứ công khai gọi ông Roan là ông Vần Thơ Sầu Rụng, nhất là mấy đứa tù hình sự choai choai. Một số khác trước mặt ông thì không, nhưng không có ông họ cũng dùng cái tên đó để gọi ông. Tuy thế, tôi không thấy ông Roan tỏ ra tự ái bao giờ. Có lẽ đó là điều đáng thương mà cũng là một điều tốt cho ông.

 

*

 

Một buổi sáng cán bộ trại gọi ông Roan lên phòng hỏi cung, không ai đoán ra về vụ gì. Đến chiều thấy một người tù trật tự đến lấy đồ đạc của ông đi. Ông bị kỷ luật biệt giam rồi sau đó bị đổi đến một phòng giam khác. Một tháng sau, anh Hữu, người lúc ấy đang ở cùng phòng với ông Roan lại đổi đến phòng chúng tôi. Anh em trong phòng mới hỏi thăm về chuyện ông Roan bị kỷ luật thế nào, anh Hữu cho biết:

 

– Ông Vần Thơ Sầu Rụng đó hả? Ông đã đọc hai câu thơ xưa "Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu, Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi!" thành ra "Cổ lai cải tạo kỷ nhân hồi!"

 

Một người nghe xong cười lên:

 

– Thì ra cũng tại Nàng Thơ! Mấy lần nhục nhã, tai họa đến với ông ta đều do Nàng Thơ cả! Thế mà nhiều người cho là Nàng Thơ sinh ra để làm đẹp cho đời!

 

Một người khác nói:


– Qua một thời gian sống cạnh ông Roan, tôi nhận xét ông ấy rất nông cạn, hời hợt. Đã thế, ông lại tự phụ, ba hoa, ngạo mạn nên dễ mất lòng người. Chúng ta cũng đừng nên trách Nàng Thơ đối xử khắt khe với ông Roan. Muốn chơi với Nàng Thơ thì phải ngay thẳng, có tâm hồn, có lượng bao dung, có ít nhiều kiến thức xã hội... chứ cà chớn cà cháo mà chơi leo, Nàng Thơ phạt cho trắng máu, cho sầu rụng tả tơi có ngày.

 

– Ngô Viết Trọng

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tháng 7 năm 1954, hiệp định Genève chia đôi đất nước Việt Nam, người Pháp thất bại ở mặt trận Điện Biên Phủ, trả lại chủ quyền miền Bắc cho việt cộng. Việt Minh kéo từ mạn ngược và khắp nơi chúng đã ẩn náu về tiếp thu thủ đô Hà Nội và sau đó, toàn thể các tỉnh thành phía Bắc cho vào tới vĩ tuyến 17. Chúng ta mất một nửa giang sơn. Pháp có 80 ngày chuyển giao Hà Nội, 100 ngày giao Hải Dương, 300 ngày trả Hải Phòng, rồi chấm dứt. Việt cộng nằm vùng trong miền Nam cũng tự do ra Bắc tập kết, dù rất ít, nhưng làn sóng người miền Bắc di cư vào Nam thì đông nườm nượp… như nước vỡ bờ, họ chạy trốn, họ sợ cộng sản, họ sợ cái chế độ tam vô đang rượt đuổi sau lưng. Họ ra đi lánh nạn, đa phần phải bỏ lại gia sãn của cải, mồ mả cha ông… họ ra đi nhanh, mau lẹ nhất là các thành phố Hà Nội Hải Phòng, các xứ họ đạo công giáo Bùi Chu, Phát Diệm… có người vội vã đến chỉ ôm theo một tấm ảnh đức mẹ Maria… họ rủ nhau cứ xuống Hải Phòng là có tàu há mồm, há mồm chờ sẵn, chờ họ lên tàu và chở họ vô miền Nam.
Hà Nội có mùa Thu, Ninh Thuận quê tôi ở đó chỉ có hai mùa nắng gió. Buổi sáng mai hôm ấy mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi dẫn tôi đi qua con đường làng Xóm Động, rồi đến con đường cái quan tráng nhựa. Mẹ tôi nắm lấy tay tôi dẫn tôi đi qua cầu "Ông Cọp", rồi cầu "Nước Đá" và đến tận cửa trường tiểu học Phan Rang. Tôi cúi đầu đi qua cổng trường có tấm biển lớn có hàng chữ Tây: "Indochine Francais- École Primaire De Phanrang"...Giữa sân trường có cột cờ với lá cờ ba màu của Pháp treo tận chót vót. Trường của tôi hình như vừa quét nước vôi và có cửa kiến, tôi thoáng nghe mùi cửa sổ mới sơn.
Trước năm 1975, ngày đó tôi còn là một cậu thiếu niên ham thích đọc tiểu thuyết trinh thám mạo hiểm của Người Thứ Tám với nhiều câu truyện phiêu lưu, hồi hộp của chàng điệp viên Z-28 đào hoa, đẹp trai Tống Văn Bình. Tôi còn nhớ chàng điệp viên tài giỏi, võ nghệ siêu quần của chúng ta được phái đi thi hành một nhiệm vụ tình báo tại Maldives, một đảo quốc mà khi chúng ta nhìn về phía chân trời, nơi Trời và Biển gặp nhau, vì chính chúng ta cũng đang sống trên mặt nước...
Khoảng gần ba giờ chiều tôi rời khách sạn Ninh Kiều, cuối đường Hai Bà Trưng, nhìn ra sông Cần Thơ. Trời hanh nóng và đứng gió. Giấc ngủ trưa dài sau bữa ăn nhẹ, khiến tôi tỉnh táo và phấn chấn hẳn lên. Hãy còn sớm, hai giờ nữa tôi mới có hẹn với gia đình người bạn thân ở nhà hàng Hoa Sứ. Thời gian đủ để tôi dạo chơi và ghé chợ Cần Thơ tìm mua một vài thứ đồ lưu niệm… Vài cơn gió nhẹ mang theo hơi nước từ dòng sông thổi dọc theo công viên thật dễ chịu. Bến Ninh Kiều ngày nay thật khang trang và đẹp. Đi dọc mé sông, từ đây tôi có thể nhìn thấy chiếc cầu treo Cần Thơ sừng sững, hiện đại. Phía trước khách sạn là nhà hàng nổi và không xa là chiếc du thuyền nhà hàng lộng lẫy về đêm. Du khách vừa ăn tối vừa dạo cảnh quanh sông và có cảchương trình văn nghệ thật đặc sắc của miền Tây sông nước
Nàng tỉ tê với nhỏ bạn về những cuộc “thảo luận” sôi nổi của vợ chồng nàng. Bằng mọi giá, nàng muốn giữ cho đứa con có tuổi thơ tươi đẹp, hạnh phúc. Bao năm qua, đã có lúc nàng buồn rầu nghĩ, mình như con gà đẻ trứng vàng. Chỉ được việc, nhờ biết đẻ trứng vàng. Nàng không dám đề cập đến chuyện tiền bạc, sợ làm chồng buồn, cho rằng nàng cậy sức mạnh kim tiền lấn áp chồng. Nàng rất may mắn trong cuộc sống ngoài xã hội. Chưa ra trường, nàng đã nhận được hợp đồng làm việc với một trong những hãng hàng đầu của nước Đức. Ngược lại, chồng nàng quá lận đận. Cả năm trời, anh chạy đôn, chạy đáo tìm việc, mà vẫn phải nằm nhà. Nàng tự nhủ, tài lộc trời ban, gia đình sống thoải mái, chứ tính toán chi mà mất hòa khí vợ chồng. Tháng tháng, nàng thanh toán nợ to, nợ nhỏ, hàng hàng lớp lớp chi phí tất yếu của xã hội văn minh.
Xíu tiếp tục cuộc hành trình bất tận của mình, đừng tưởng Xíu chơi hoang hay đi rông, phiêu bạt giang hồ vô tích sự. Chính sự lang bạt kỳ hồ của Xíu và anh em nhà Xíu đã đem lại mưa thuận gió hòa, đem lại nguồn sống cho loài người và vạn vật muôn loài. Lần này Xíu quay về lại góc Đông Nam Á châu, nơi có dòng sông thiêng liêng chảy qua.
Tôi không phải là thi sĩ, nhưng chắc cũng giống như những thi nhân của đất Việt, thường gửi gấm tâm tình u uất vào những vần thơ của mình. Những bài thơ viết xong, tôi cặm cụi chép vào nhật ký, xen vào những lời than thân trách phận, hờn mây khóc gió. Cuốn nhật ký, tôi cất kỹ trong ngăn kéo ở cái table de nuit cũ kỹ bên cạnh chiếc giường nhỏ trong phòng ngủ. Cũng may là má chưa lục ra đọc lần nào...
Cuối cùng, vợ tôi cũng đồng ý một cách vui vẻ cho tôi lấy vợ bé. Một hành động vượt ra ngoài quan niệm ái tình nghiêm túc của bà. Vợ bé tên Hà, do vợ lớn đặt. Tên khai sinh của Hà là Đỗ thị 451. Vợ lớn nói, số này hên, cộng lại là 10. Hà lai Ái Nhỉ Lan. Ở lứa tuổi gần ba mươi, chưa lấy chồng, không có con, một thân hình phước đức cho bất kỳ người đàn ông nào, sáu mươi bảy tuổi, như tôi.
Kế hoạch của anh ấy thật là hợp lý: anh ấy sẽ giấu tôi phía sau cốp xe Austin-Healey, một chiếc xe dạng rất thấp mà anh vừa mới mua bên Áo và đã tháo kính che gió ra. Chúng tôi chỉ cần đi qua bên dưới rào chắn, trong khi mấy tên cảnh sát nhân dân Vopo*2/ thì bận lo kiểm tra giấy tờ như thường lệ. Rolf đã tính toán nhiều lần, tính đi tính lại, anh lại còn xì bớt hơi các bánh xe: như thế cái xe sẽ không vượt quá 90 cms bề cao. Anh chỉ cần cúi đầu xuống, nhấn mạnh vào cần tăng tốc, thế là chúng tôi sẽ qua bên kia địa phận đất Mỹ! Một "bờ thành" nhỏ làm bằng gạch sẽ bảo vệ tôi khỏi những lằn đạn có thể xảy ra. Và rồi sau đó là tự do...
(Viết cho bằng hữu tháng tư 1954. Chúng tôi 300 thanh niên trình diện trại Ngọc Hà động viên vào Đà Lạt cùng hát bài ca Hà Nội ơi, năm 20 tuổi chưa từng biết yêu. Sau 21 năm chinh chiến, tháng tư 75 khóa Cương Quyết hát tiếp. Bao nhiêu mộng đẹp, tan ra thành khói, bay theo mây chiều. Ngày nay, tháng 7-2024 vào nursing home thăm bạn cùng khóa. Ba anh bạn đại tá lữ đoàn trưởng mũ xanh mũ đỏ cùng đại đội võ bị ra đánh trận Quảng Trị chỉ còn Ngô Văn Định. Ghé lại bên tai nghe Định hỏi nhỏ. /Bên ngoài còn mấy thằng,/ Còn liên lạc được 4 thằng. Ngoài 90 cả rồi.Tôi báo cáo./ Thằng Luyện mới đến thăm./ Định nói./ Luyện nhảy Bắc 21 năm biệt giam mà còn sống. Hay thật./ Tôi nói./ Bạn yên tâm. Ngoài này còn thằng nào chơi thằng đó./ OK bạn còn sống lo cho anh em.)
Năm Giáp Ngọ 1954 có thể gọi là năm đại diện cho tuổi thơ tôi. Chỉ trong một năm 1954 đã có quá nhiều biến cố xảy ra dồn dập trước mắt chú bé mười hai tuổi mà suốt trong đời chưa có thời điểm nào đặc biệt như vậy...
Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.