Hôm nay,  

Một nét văn hóa khác

25/02/202316:16:00(Xem: 4188)

Tạp ghi

 

Kieth & Brandon, những giọng ca hay
Tác giả và hai người bạn da đen.



Cuộc sống người Việt hải ngoại ngày tháng trôi qua quá bình yên, ngày đi cày tối nghỉ ngơi cứ như cái vòng tròn khép kín. Đời sống tương đối thiếu những sinh hoạt cộng đồng: Hoạt động công ích, thể thao, văn nghệ… năm thì mười họa mới có một sô ca nhạc. Người Việt hải ngoại khá đông và cũng đã lâu nhưng có mấy ai đi xem một trận bóng cà na hay bóng rổ. Điều này khác biệt với người bản địa. Họ  cũng cày như ta nhưng ngoài việc mưu sinh ra còn tham gia những sinh hoạt chung rất tích cực.

 

Thứ bảy tuần rồi tôi được mời tham gia một dạ tiệc nho nhỏ mừng tháng Lịch sử Người Da đen do nhóm bạn da đen ở Fairburn City mời. Chúng tôi làm chung với nhau đã lâu nên thân thuộc và biết nhau rất rõ, ấy vậy mà khi đến dự tôi không khỏi choáng ngợp. Ngày thường thì xuề xòa ấy vậy mà khi dự dạ tiệc lập tức trở thành những ông hoàng châu Phi hay tiểu vương Ấn Độ. Họ ăn mặc sang trọng, toàn áo lông thú, trang phục đắt tiền, chưng diện ngất trời luôn.

 

Tôi thì không biết gì về âm nhạc, chỉ cảm nhận bằng cảm tính thôi. Nói đến nhạc Jazz thì không thể không nói đến kèn trumpet, một nhạc cụ không thể thiếu. Tiếng kèn lúc trầm bổng, lúc rền rỉ thống thiết như thân phận người da đen của những năm cuối thế kỷ mười chín đầu thế kỷ hai mươi. Tiếng kèn trumpet kéo dài như tiếng còi tàu hơi nước trên bến New Orleans. Ngày nay con tàu hơi nước vẫn đậu ở đấy, mỗi sáng vẫn có vị thuyền trưởng kéo còi và chơi đàn piano trên boong tàu để chào đón du khách. Tiếng kèn harmonica thì sắc bén và trong trẻo hơn. Nhạc Jazz đã biến tấu liên lục trong trăm năm qua với nhiều dòng khác nhau nhưng kinh điển nhất vẫn là dòng nhạc Jazz gốc New Orleans. Vài giọng ca trong cộng đồng địa phương như Brandon, Keith, Eddie… hát như dồn cả tâm hồn vào bản nhạc, hát bằng tất cả nội lực và sự đam mê. Phần nhạc Rap đặc biệt có Rapper như Brandon. Anh ta ngoài công việc mưu sinh ở hãng còn là một ca sĩ trên YouTube. Anh ta đã ra nhiều clip. Brandon với chất giọng khàn khàn nhưng bắn Rap như súng liên thanh, mình nghe không mà cũng cảm thấy líu cả lưỡi, víu cả tai. Nhạc Rap xuất phát từ những khu ghetto cuối thể kỷ mười chín đầu thế kỷ hai mươi. Ban đầu là những tiếng nói phản kháng bất công xã hội, phản ảnh sự nghèo đói cũng như thân phận người da đen, miêu tả những uẩn ức trong tâm lý… Rap cũng như Jazz và các dòng nhạc khác liên tục thay đổi, biến tấu để cho ra nhiều dòng nhạc mới. Nhạc Rap hát khá thoải mái tự do và tự chế theo cảm nhận và cảm tính, tất nhiên là khuôn nhạc nền vẫn vững.

 

Tôi cảm nhận hát Rap hay đọc rap, nói Rap có chút gì đó giống lối hát cương hay hô lô tô của người Việt. Ráp phải bắn nhanh và có vần điệu. Việt Nam giờ cũng có Rap với những tên tuổi khá trẻ như Su Boi, Đen Vâu, JBLee 7... Nghe nhạc Rap của người da đen thực tình mà nói rất nhiều điệp khúc và từ ngữ thô tục chẳng hạn như: “That the big old ass right there”, “Stroke it with the emotions”, những từ như: “Mother f**k”, “ ass”, “cunt”, “hole” và những từ bạo lực giết, hiếp, đốt…

 

Thằng Brandon hát và nhảy vô cùng bốc lửa, nó như lên đồng với âm nhạc. Cả đám bạn uống như hũ chìm, toàn rượu nặng, thức ăn cũng có đấy nhưng chẳng thấy ăn bao nhiêu, uống là chính. Đêm dạ tiệc cuồng nhiệt, Jazz thống thiết, Rap bắn tới bến luôn. Mọi người nhảy nhót tự do thoải mái chẳng cần phải theo bài bản. Tôi nhìn thấy mỗi người nhảy và lắc lư hay luyến láy theo cái cách của mình, phải công nhận bọn họ có đôi chân rất dẻo, người to cao sồ xề vậy nhưng ra sàn thì nhảy nhuyễn. Người da đen hầu như không có khái niệm e thẹn hay mắc cỡ như người mình, họ rất tự tin, trong dạ tiệc ai cũng nhảy chứ chẳng có ai ngồi yên thụ động như người Việt.

 

Giữa những người ăn mặc sang trọng quá, tự nhiên tôi cảm thấy hơi bị lạc lõng vì chỉ mặc một bộ veston đơn sơ rẻ tiền, tuy nhiên mọi người thân thiện và chẳng ai để ý việc ăn mặc của tôi. Tôi và nhóm bạn này chơi thân ngày ngày đùa vui và chơi khăm nhau. Có lần thằng Mauricio bảo tôi: “Mầy làm ra tiền thì phải ăn mặc đồ hiệu sang trọng, phải là King thì người ta mới nể mầy”. Tôi bảo nó: “Tao không quan tâm người ta xem thường hay xem trọng, giá trị ở nội tại chứ không phải ở quần áo bề ngoài”. Nó lại nói: “Đây là Mỹ chứ không phải xứ mầy”. Thằng Mauricio không biết đấy thôi, xứ tôi người ta còn xem bề ngoài, coi mặt hơn ai hết.

 

Buổi dạ tiệc mừng tháng Lịch sử Người Da đen thật vui và sôi động. Tôi là người khách da vàng châu Á duy nhất, nhỏ con nhất trong đêm tiệc này. Dạ tiệc vui quá, xả hết căng thẳng và năng lượng, riêng tôi cảm nhận thêm một nét văn hóa khác biệt với văn hóa truyền thống của mình cũng như văn hóa người da trắng hay văn hóa của người Mỹ Latinh.

 

– Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 0223)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chẳng hiểu vì sao, vào lúc bắt đầu cảm thấy già, tôi lại lẩm cẩm đi tìm lại định nghĩa về chữ “bạn”. Bạn tôi là ai? Tại sao tôi lại kết bạn với họ? Lúc trẻ đã từng có một thời suýt bị vợ bỏ vì “lo cho bạn nhiều hơn cho gia đình”; nhưng khi đến độ tuổi “lục thập nhi nhĩ thuận” tôi lại đâm ra làm biếng gặp hầu hết những nhóm bạn từng một thời thân thiết.
Hôm đó, cô nhất định phải giết cây dạ quỳnh. Khi đêm tối bao phủ, cô sẽ ra tay. Lấy một con dao bén để xắt cành lá nó ra từng mảnh nhỏ. Lấy chai thuốc Draino loại hủy hoại rễ cây để ngâm hết các rễ của nó. Nó phải chết một cách tiệt tích, không còn một chút cơ hội nào sống sót. Nó phải bị phơi khô trên cao vì Quỳnh đụng đất sẽ có thể mọc lại. Cô biết, giết Quỳnh là mất đi tiếng nói vo ve chị em tâm sự. Cô đơn khi có Quỳnh sẽ thay vào cô đơn không có Quỳnh. Cô sẽ bắt đầu một cô đơn khác.
Càng lớn tuổi chừng nào, thì người ta lại thường hay nhớ tới những kỷ niệm trong dĩ vãng của mình nhiều bấy nhiêu. Nhất là những người cao niên đã về hưu, không còn bị ràng buộc bởi những công việc làm thường ngày của mình như trước kia, nên có nhiều thì giờ rảnh rỗi ngồi ở nhà một mình, để hồi tưởng lại những kỷ niệm buồn vui khó quên trong cuộc đời mình, rồi để có những lúc tâm sự cho nhau nghe lại những kỷ niệm khó quên này, trong những dịp tiệc tùng họp mặt bạn bè.
Lộc đã chết! Tích ngỡ ngàng khi nghe tin đó. Chàng không tin vào tai mình. Làm sao Lộc có thể chết được? Mình mới gặp anh ấy có tuần trước thôi mà! Trông anh còn khỏe mạnh, tự tin, tràn đầy sức sống. Vậy mà bây giờ anh đã không còn nữa. Cái chết của anh có cái gì đó không thật. Và có lẽ đó là lần đầu tiên Tích đứng trước nhận thức trực tiếp và thâm sâu về tính chất phi lý của một sự kiện quá bình thường trên đất nước chiến tranh này.
Từ giữa tháng Tám, trước ngày Lễ Labour Day, các trung tâm shopping đã rầm rộ quảng cáo “On Sale” cho mùa “Back To School”. Các con tôi đã lớn, qua rồi cái thuở đi sắm backpacks, tập vở, giấy bút, lunch bags, áo quần, nhưng lòng tôi vẫn nao nao bâng khuâng nhớ về những kỷ niệm ấy. Cũng có lúc tôi lại nh ... chính tôi, ngày xưa là cô giáo trẻ khi còn ở Việt Nam, và nhất là những tháng ngày ở trại tỵ nạn Thailand, làm cô giáo “đặc biệt” có những học trò cũng rất “đặc biệt”.
Chị Hai đã uống một ly nước đầy và đi làm việc tiếp. Đoan vào lại chỗ của mình. Như một phản xạ, Đoan lại cho tay vào túi, làm như tìm xem trong đó có sót lại một viên kẹo chăng. Mơ hồ, Đoan nhớ ngày xưa Đoan hay ví một hành động “vớt vát” nào đó như là “tìm con cá sót lại trong chiếc giỏ của cô Tấm.” Mắt Đoan cay cay. Bỗng như thấy mình đang đi vào lại đường cây còng. Mùa mưa, những chiếc lá trên cao đọng nước, rũ nhè nhẹ xuống tóc Đoan, nghe mát. Hai túi áo blouse lúc nào cũng đầy kẹo. Đoan vào trại bệnh. Những dãy giường đầy người. Thay băng xong cho ai, Đoan tặng người ấy một viên kẹo
Ở đây tôi chỉ muốn đưa một vài nét chính của các môn Khí công mà tôi đã tập qua, để người đọc theo đó sẽ chọn được một môn pháp thích hợp cho mình tập. Chả thế người xưa thường hay nói “Tùy bịnh chọn công“, tùy theo thể chất và sức khoẻ mà chọn cách tập Khí công.
Ngày tựu trường năm nay, trường Việt Ngữ Suối Mở Offenbach đón tiếp 14 học trò mới với tuổi tác, trình độ tiếng Đức, tiếng Việt chênh lệch khá nhiều. Tạm thời, cô giáo gọi lớp này là Lớp Mới. Giờ học đầu tiên, cô giáo chưa thực sự “dạy” chữ, chỉ “dỗ” các học trò. Hy vọng học trò sẽ thấy học tiếng Việt không khó lắm và tìm thấy niềm vui khi đến trường Việt Ngữ mỗi thứ Bảy. Chờ cho học trò tìm chỗ ngồi xong, cô giáo giới thiệu mình, và tập cho học trò chào hỏi. Nghe các em đồng thanh: “Con chào cô giáo”, lòng cô giáo rộn lên niềm vui, liên tưởng câu châm ngôn “tiên học lễ, hậu học văn” mình được học ngày xưa.
Cô vẫn nhìn thẳng phía trước, không nhìn ngang nhìn ngửa. Anh liếc nhìn cái túi xách giữa hai đùi cô, thấy cộm lên, nghĩ rằng trong ấy có một khẩu súng ngắn, đã lên đạn, lát nữa sẽ kề vào thái dương của anh. Anh nín thở.
Tháng tư 1976, sau một mùa đông ở North Dakota, vừa có bằng lái xe, tôi bỏ việc, bỏ lại một vùng quá bình an, quá tử tế, nhưng cũng quá cô quạnh này, đi thẳng về hướng tây...
“Anh nhớ đến dự lễ trao đẳng cấp Đại Bàng cho thằng con em nha! Để mừng cho em và cháu…” Tôi nhận được điện thoại như vậy từ C., một người bạn trẻ có con trai là hướng đạo sinh thuộc Liên Đoàn Trường Sơn, được nhận danh hiệu Đại Bàng vào ngày 16/08/2025. Đã lâu rồi, kể từ khi hai thằng con ngưng sinh hoạt hướng đạo để đi học đi làm, tôi không có dịp trở về thăm lại liên đoàn. Công việc thì nhiều, thời gian thì ít. Nhưng lần này thì không từ chối được rồi!
Đó là tháng 6-1989, lần đầu đến New York và vào một bảo tàng viện nổi tiếng ở đây, tôi tình cờ, tới chỗ treo một bức tranh trừu tượng khổng lồ, cao khoảng 2 mét, ngang khoảng 6 mét. Tôi kinh ngạc với sự giàu có ở đây, bảo tàng viện này dành riêng ra một căn phòng lớn, đơn giản, sang trọng, chỉ để trưng bày một bức tranh đó...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.