Hôm nay,  

Tứ Tiêu Dao

07/03/202320:22:00(Xem: 3931)
Tùy bút tưởng niệm

pqb 1

Người thứ ba từ trái: Bùi Hồng Sĩ (hình trong đám cưới của một thân hữu, 1982).


Cuối tháng 2 năm nay, 2023, chỉ trong vòng hai ngày, tôi đã mất đi hai người bạn cùng sinh năm 1941: Nguyễn Ngọc Kiểm, bút danh Ngọc Hoài Phương, & Bùi Hồng Sĩ.


Một lúc ồ ạt những hình ảnh xưa cũ, những sự kiện trồi lên từ ký ức xâm chiếm liên tục, lúc hiện rõ ra dần, rồi mờ đi và biến mất; lúc chồng lấn lên nhau dầy cộm đến nghẹt thở. Tôi ở trong trạng thái tê bại toàn thân, chết lặng người đi như bị lôi cuốn vào một cơn mộng du miệt mài không sao cưỡng lại được.


Trong niềm xúc động bồi hồi tràn ngập ấy, tâm tư lập tức thúc đẩy tôi viết ngay về Bùi Hồng Sĩ trước.


Dường như trong độ khoảng hai năm 1962-63, ngụp lặn trong bầu không gian sống đầy những chộn rộn sôi nổi giữa xã hội Sàigòn, tôi và Bùi Hồng Sĩ đã từng nhiều lần ở lỳ luôn trong nhà của nhau hàng tháng trời là thường. Và một số chi tiết còn nẩy ra từ ký ức ở tôi như:


Có những buổi sáng, tụi tôi đang ngủ “nướng” trên gác. Bọn nhóc em của Sĩ đói quá kêu réo đòi ăn, bà ngoại và mẹ Sĩ thay phiên nhau nạt: "Đợi hai anh dậy xuống nhà đã, tụi mày mới được động đũa!"


Vốn bị chứng mất ngủ hành, tối nào ông cụ thân sinh ra Sĩ cũng uống thuốc an thần Valium và nằm dật dờ trên trường kỷ ngoài phòng khách. Có một điều đặc biệt là hai cha con Sĩ tính khí đều rất kiệm lời nhưng đồng thời lại xem ra khắc khẩu với nhau. Tôi thấy Sĩ chưa chủ động muốn tiếp cận với cha mình bao giờ . Riêng tôi thì hễ rảnh là xuống hầu chuyện ông. Nói chung là vậy nhưng thường ra thì ông mắt cứ nhắm hờ mà miệng lại rì rầm kể hết chuyện này sang chuyện khác. Còn tôi chỉ thụ động ngồi nghe, luôn luôn bị cuốn hút vào những sự tích sinh động của câu chuyện. Sâu đậm nhất mà tôi còn nhớ được là mấy chuyện ông đi bộ đội Việt Minh năm 1946. Chuyện Cộng sản Việt ngầm tiêu diệt dần đi các thành viên đảng phái khác để độc chiếm công kháng chiến chống Pháp trong thời kỳ 1946-53. Chuyện ông đem cả gia đình về lại Đà Nẵng, rồi sau đó vào sinh nhai hẳn trong Nam, năm 1951.


Có mấy buổi sáng, ông cụ lọ mọ lên gác gãi vào bàn chân tôi để rủ đi ăn phở ngay ngoài đầu ngõ, giáp với đường Trương Minh Giảng. Rồi sau khi hớp xong một ngụm cà phê tráng miệng, ông cụ đứng dậy ra trả tiền rồi dúi vào tay tôi mấy ngàn: "Cho tụi mày tiêu với nhau". Ông nói vậy trước khi lên xe đi làm. Tự hiểu ngầm hàm ý của hành vi ấy là ông muốn trao tiền quà vặt cho đứa con trai lớn nên khi trở về nhà, đợi Sĩ thức dậy là tôi lại giao số tiền ấy cho anh.


Mấy năm chót của thập niên 1960 sang đến 1970, những vụ Việt Cộng ám sát xẩy ra mỗi lúc một nhiều, ngay tại Sàigòn. Riêng trong lãnh vực học đường, tôi còn nhớ thời ấy có mấy vụ nổi bật như sinh viên y khoa tên Trần Quốc Chương, con của thẩm phán Tối cao Pháp viện Trần Thúc Linh bị xô từ lầu cao của trường Y Khoa sàigòn xuống đất chết, năm 1967. Như sinh viên Lê Khắc Sinh Nhật bị bắn ngay tại khuôn viên trường Luật Khoa giữa năm 1971. Riêng tại Văn Khoa thì phải chịu đựng tới những hai vụ ám sát: Tháng 12 năm 1967, Ngô Vương Toại bị bắn vào bụng, đứt bốn khúc ruột; rồi cùng tháng đó năm sau, 1968, Bùi Hồng Sĩ lại bị bắn lén vào sau gáy trong khi ngồi sau chiếc mobilette do Đào Trường Phúc lái đang đậu ngay cổng trường đợi vượt sang lằn xe đi về bên trái (1). Thế mà may mắn sao, cả hai đều thoát chết! (2)


Nhưng đặc biệt tôi nhớ được giai đoạn này là vì có nhiều sự kiện khác liên quan: Chẳng hạn như chính nhờ vào sự kiện chết hụt này mà sang năm sau, năm 1969, Sĩ chính thức lấy vợ, dẹp bỏ đi mấy đám dạm ngõ hay đám hỏi trước đấy của anh. Và chính tôi đã thành phù rể cho Sĩ!


Hai đứa chúng tôi còn cùng vào học khóa 3-70/SQTB Thủ Đức đúng theo lệnh Tổng Động Viên. Năm 1972, Sĩ ra ứng cử Dân biểu nhưng không thành. Rồi tháng ba 1973, hai đứa cùng về phục vụ tại Phái đoàn Quân Sự 4 bên rồi 2 bên. Và đến cuối năm đó thì Sĩ được biệt phái về bộ Thông tin - Dân vận - Chiêu hồi, để ra nhận lãnh chức vụ Đại diện Thông Tin vùng Một kiêm Trưởng ty Thừa Thiên - Huế.


Nhưng đến sau tháng Năm 1975, hai đứa tôi bặt tin của nhau trong một trường hỗn loạn sống chết bất ngờ cho cả nước. Mãi tới giữa năm 1981, tôi được gia đình ông anh ruột ở Houston, Texas bảo lãnh từ trại tỵ nạn sang tái định cư. Cứ trung bình một vài lần là Sĩ từ Nam Cali gọi phôn sang thúc giục, mà tôi thì bận tíu tít vì phải dọn đổi nhà cũng như hằng ngày ra phụ vợ chồng ông anh bán hàng ở một tiệm tạp hóa. Cuối năm đó, tôi mới thu xếp ổn thỏa và đáp máy bay sang phi trường John Wayne, Quận Cam. Nhìn qua cửa sổ phi cơ, tôi chăm chú kiếm mãi mà chỉ nhác thấy một người xa trông quen quen; hắn đứng trên ban công trống của phi trường ngó xuống, tóc hắn bạc trắng! Rời phi cơ, đi xuống tới gần, tôi mới nhận ra anh chàng ấy chính là Sĩ, bạn thân của tôi, hắn xem ra cũng đang bồn chồn ngóng đón tôi. Hắn lái xe, còn tôi ngồi bên cạnh, hai đứa liên tục nói chuyện linh tinh, chẳng chuyện nào rõ ra chuyện nào cả, bởi cả hai đều tở mở mừng rỡ mà lấn bấn bối rối trong bụng, đến nỗi hắn lái trên xa lộ mà ngược hướng, xuống tận Mission Viejo mới phát giác ra là đã lạc đường, phải quay trở lại, về nhà Sĩ ở Long Beach!


Thế rồi cứ vậy trên bốn mươi năm trôi qua, mặc dù cùng cư ngụ tại miền Nam Cali, nhưng thi thoảng trung bình một vài tháng phải nhân dịp gì đấy hai đứa gặp nhau là tự nhiên bù khú. Ngoài ra chúng tôi đều cùng quay quắt bươn trải trong hai cuộc sống khác hẳn nhau: Từ việc đổi dời nhà ở tới công ăn việc làm, từ sinh hoạt gia cảnh lẫn giao tiếp hằng ngày, lu bu mỗi đứa một phận...
Cho đến chiều thứ hai, 27 tháng 2-2023 vừa qua, tôi mới nghe tin Sĩ đã qua đời vào sáng sớm hôm ấy.

Tôi gọi phôn sang Atlanta báo tin cho Võ Văn Lượng biết. Hẫng đi trong im lặng, Lượng mới cất giọng ồ ề nói:


– Bây giờ đã có một thằng của nhóm Tứ Tiêu Dao bắt đầu vắng bóng!


Tôi chợt động tâm... rồi ồ ạt một dây những liên tưởng xuất hiện trong trí:


Bốn tên sinh viên ban Triết-Văn khoa Sàigòn thủa ấy, trong một tình cờ nào đó, bây giờ chẳng còn nhớ chi tiết thế nào nữa, và vào lúc nào cũng không còn nhớ, nhưng chắc chắn là độ cuối năm 1963, trong một buổi tụ họp vui chơi với nhau, không biết sao bốn đứa lại đã tự nhận là nhóm bạn kết nghĩa với cái tên "Tứ Tiêu Dao" (3).


Bây giờ, bồi hồi miên man gậm nhấm ký ức, tôi phải gom góp lại để có thể trình bẩy một cách lớp lang hơn. Nghĩa là đại khái chúng tôi bốn đứa vốn sẵn đã quá nhiều những khác biệt nhau: Chẳng hạn như gốc gác phát xuất thì một từ Quảng Ngãi, một Quảng Nam, một Đà Nẵng và một từ ngoài Bắc di cư vào. Tiếng nói phát âm cũng khác. Gia cảnh lại càng cách biệt hơn nữa. Nhưng đồng thời, chúng tôi lại hội tụ được những thứ như:


Tất cả ngày sinh tháng đẻ thực thụ của từng đứa một trong bốn cá nhân chúng tôi đều sai khác hẳn so với những chi tiết đã được ghi rành rành trong giấy Thế Vì Khai Sinh riêng của nhau. Nhưng như vậy có nghĩa là chúng tôi lại cùng bị chi phối bởi hoàn cảnh và thời thế xáo trộn chung như nhau.

Chúng tôi cùng học ban Triết một thời, đều được hấp thụ một nội dung học vấn của cùng một dàn giáo sư như nhau. Nhưng đồng thời mặt khác, chúng tôi lại suy nghĩ, quan niệm cho đến chí hướng và phản ứng lẫn hành động lại thường khác biệt nhau, khác đến mức có những lãnh vực còn ở thế đối chọi lẫn nhau nữa!


Diễn giải một cách chi tiết hơn nữa, chúng tôi mỗi đứa đều thấm nhuần các yếu chỉ tư tưởng của Lịch sử Triết học tây phương và đông phương. Nghĩa là bên cạnh những khuynh hướng triết học thuần lý, chẳng hạn như "Tôi suy tư – vậy tôi hiện hữu" (4). Những tư tưởng đại loại như thế  thường khiến cho người tiếp nhận dễ thiên kiến trong suy nghĩ và sa đà sâu vào giới hạn của những quan niệm không tưởng, để nẩy sinh ra những chủ trương quá khích như Duy Tâm, Duy Vật, Hiện Sinh...


Mà cũng có những quan niệm và hành xử bắt nguồn từ nhu cầu phát triển xã hội loài người mà hiện hữu thực thi thành các chủ nghĩa. Chẳng hạn như chủ nghĩa đế quốc: Trong quá khứ lịch sử thế giới chủ nghĩa này vốn đã có mặt, từ đế quốc La Mã, đế quốc Ba Tư, đế quốc Mông Cổ rồi thêm những đế quốc Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp... và chuyển sang chủ nghĩa Phát-xít, chủ nghĩa Cộng sản. Những loại “đế quốc” nói chung này đã bành trướng rồi suy tàn nếu không được nỗ lực điều chỉnh để biến thái trước sức công phá của hướng tiến bộ chung của loài người.


Nhưng mặt khác, cùng lúc, chúng tôi lại còn hấp thụ được những “ngụ ngôn” triết lý khác nữa:

Chẳng hạn nhận thức về những hiện tượng xẩy ra trong vũ trụ, thiên nhiên, như câu "Không ai có thể tắm hai lần trong một dòng sông" do Héraclite tuyên bố (Heraclitus sinh tại Hy Lạp vào khoảng 544 hay 541 và chết độ 480 trước Thiên Chúa); hay những ý niệm về "Thay đổi tự thân – Trao đổi với ai khác – Mọi thứ đều luôn biến đổi" (5).


Chẳng hạn những hiểu biết về sự sống năng động của tâm trí con người. Như "Hãy tự biết chính mình" (6); "Mỗi ngày (ta) một mới hơn lên"(7). Và nguyên tắc mỗi cá nhân sống phải nghiêm cẩn như "Phải luôn cẩn trọng, ngay cả lúc chỉ có một mình mình", như "Học hỏi và hành động phải đi đôi với nhau"(8), để cuối cùng, mục đích sống luôn đem lại lợi ích cho chính mình và ai khác. Ai khác đây được hiểu là người khác cũng như là vạn vật, vũ trụ...


Những triết lý đại loại nêu trên đã tự phát triển trong tâm tư từng đứa trong nhóm bạn kết nghĩa là Tứ Tiêu Dao và thường trực đáp ứng với nguồn năng lực sống động của tuổi trẻ chúng tôi thời bấy giờ: Là tự do sống như tự do rong chơi giữa muôn vàn tư tưởng, muôn vàn hành động, giữa những trở ngại cùng thuận lợi của đời sống trong mọi thời đại.


Theo thời gian, theo kinh nghiệm sống, chúng tôi mỗi đứa tự nhiên thấm nhuần những chỉ dạy của người xưa vào cuộc đời của riêng mỗi đứa. Và rồi sống còn được cho đến tận bây giờ, chúng tôi lại càng thấm thía trong ý nghĩa nội dung thực chứng của đời người.


Sáu chục năm đã qua, biết bao nhiêu đổi thay, chúng tôi bốn đứa, Tứ Tiêu Dao, sống tới tám mươi tuổi cả rồi.


Và một tên đã vừa từ bỏ đời này mà ra đi.

pqb 2
Bùi Hồng Sĩ (bên phải, ảnh chụp ở Factory Coffee, Little Sàigon, đầu 2022).


Chú Thích:


(1)  Xin xem thêm chi tiết ở bài "Bùi Bảo Trúc rạng danh Ký Mục Gia"; https://sangtao.org/2016/12/26/bui-bao-truc-rang-danh-ky-muc-gia/#more-91498

Hoặc  ở bài " Từ Công Phụng, lời ca - tiếng hát" trang 80-85, cuốn "TỪ CÔNG PHỤNG dưới mắt bằng hữu".

(2) Còn những chi tiết nữa được kê khai theo trí nhớ của rất nhiều người trong bài "Bọn sinh viên Việt Cộng giết thầy" của Bạch Diện Thư Sinh

https://saigonecho.com/lich-su-vn/khao-cuu/34829-bon-sinh-vien-viet-cong-giet-thay-giet-thay


(3) Bốn đứa gồm Bùi Hồng Sĩ, Nguyễn Vạn Hồng, Võ Văn Lượng và Phạm Quốc Bảo. Còn từ ngữ "Tứ Tiêu Dao" vốn phát xuất từ chương "Tiêu Dao Du", tiêu đề của một trong 7 đoạn văn của Nội Thiên thuộc Nam Hoa Kinh, sáng tác của Trang Tử (369-286 TCN): "Tiêu dao du có nghĩa là ngao du, rong chơi tự do tự tại". Những câu chuyện trong "Tiêu dao du vận dụng tối đa nghệ thuật tưởng tượng, hư cấu vào ý thức sáng tác, kết hợp với cơ sở sự thật."

 

(4) "Je pense donc je suis" (Cogito ergo sum). Trong Wikipedia https://www.wikipedia.org dịch là : "Tôi tư duy, vậy thì tôi tồn tại" hoặc "Tôi tư duy, nên tôi tồn tại" hay "Tôi nghi ngờ, nên tôi tư duy, nên tôi tồn tại" . Đây là một phát biểu triết học của René Descartes. Triết gia này sinh tại Pháp quốc năm 1596 và mất năm 1650.


(5) "Dịch – Giao dịch – Biến dịch". Ba tầng lớp biến trạng của mọi sự, mọi vật, mọi thời đại, mọi lúc, mọi nơi. Phải nắm vững được sự thể BIẾN DỊCH ấy, không thể thay đổi gì được, và mệnh danh là Bất dịch! (Kinh Dịch, một trong Ngũ Kinh do Khổng Tử san định.)


(6) "Connais-toi, Toi-même", câu tuyên bố của Socrates, triết gia Hy Lạp sinh vào 470, mất năm 399 BC.


(7) "Nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân": Ngày mới, mỗi ngày một mới hơn lên.


(8) "Quân tử tất thận kỳ độc": Người ta (sống) tất ( phải) thận trọng ngay khi ở một mình. [Đại Học]; Và "Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ": Học hỏi mà có áp dụng (vào thực tế đời sống hằng ngày của chính mình) thì không gì vui bằng. [Luận Ngữ]; "Đại học chi đạo – tại minh minh đức – tại thân (tân) dân – tại chỉ ư chí thiện...": Mục đích của sự học rộng cốt làm sáng cái Đức sáng của mình, cốt khiến cho người ta tự đổi mới, cốt khiến cho người ta dừng ở chỗ chí thiện.[Trích chương Lễ Ký của sách Đại Học, Tứ Thư do Khổng Tử (sinh năm 551 TCN, mất 11 tháng 4 năm 479 TCN tại Trung Hoa) biên soạn.

https://onglaidoky3.com/a369/dai-hoc-chi-dao

Phạm Quốc Bảo

(Đầu tháng Ba, 2023)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…
Đợi, và đợi. Có đến khoảng gần một trăm người xếp hàng đợi. Mới có năm giờ sáng thôi! Trời Đà Lạt đổ sương xuống nghe ướt tóc, ướt vai. Phòng bán vé còn đóng kín cửa. Sáu giờ mới bán vé. Biết vậy rồi, nhưng đám đông người này vẫn đến sớm chờ đợi. Chẳng qua là số xe có giới hạn, mình đến sớm mới mong có xe đi, nếu không thì phải về và trở lại vào ngày mai. Người ta nhìn nhau, như ngầm nói qua đôi mắt rằng đến sớm chắc ăn hơn. Mà không chừng có người đã ngủ đêm trước phòng bán vé để được xếp hàng phía trên cùng.
Tháng 7 trời xanh cao, mùa lên hâm nóng. Mặt đất nung nhiệt ngấm ngầm địa chấn, như muốn cùng người rung vang lời ngân quá khứ. Tháng 7 gọi về hàng phượng đỏ thắm rung rinh chùm nở, thứ lung linh ảo mờ, gần gụi mà xa thẳm, “mù không lối vào...” (TCS). Vang vang trong gió, lời trẻ thơ láng giềng vọng lại đùa vui tiếng nước...
Nếu Thanksgiving ở bên Mỹ mang màu sắc rộn rã chuẩn bị cho mùa Giáng Sinh, thì Thanksgiving bên Canada lại rơi vào Tháng Mười dịu êm, có đủ màu sắc nâu vàng đỏ của lá cây chuyển màu cuối Thu, với màu cam của những trái pumpkins cho lễ hội Halloween . Những ngày này, gia đình tôi chộn rộn với những đợt “thu hoạch” cuối cùng, chuẩn bị dọn dẹp vườn tược sạch sẽ trước khi mùa lạnh đang đến. Theo ý nghĩa nguyên thủy của Thanksgiving là Tạ Ơn đất trời cho mùa màng bội thu, thì năm nay gia đình tôi cũng xin được Tạ Ơn. Mấy cây táo và plum trúng mùa trĩu quả, hái mấy lượt vẫn không hết. Những quả plum tím căng mọng ngọt ngào, vừa đem tặng bạn bè, hàng xóm, vừa để đông lạnh ăn dần, mà vẫn còn mấy rổ tươi đầy ắp. Mùa táo, nhiều gia đình Việt Nam thích đem ngâm chua ngọt, trong khi những người bản xứ làm mứt táo, hoặc sên táo làm apple pie, một trong những món bánh khoái khẩu của nhiều người trong bàn ăn Thanksgiving bên cạnh pumpkin pie .
Nhạc sĩ Hùng Lân mất vào ngày 17/9/1986 tại Sài Gòn. Hôm nay, ngày 17/9/2025 tôi nhớ tới ông. Tính ra đã 39 năm. Ba năm trước, tại nhà thờ Phanxicô Dakao đã có một lễ giỗ 36 năm ngày mất của ông. Linh mục Đỗ Xuân Quế, chủ tế lễ giỗ, đã nói trong thánh lễ: “‘Hôm nay là lễ giỗ thứ 36 của ông Phêrô Hoàng Văn Hương tức là nhạc sĩ Hùng Lân. Ông là người đáng cho chúng ta trân trọng và quý nhớ. Vậy chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện cho ông được vào nước Thiên Chúa. Nếu ông đã được vào rồi thì xin nhớ đến chúng ta là những người đang tiếp tục cuộc hành trình nơi dương thế đang hướng về Nước Trời.” Sau thánh lễ là chương trình tưởng niệm trong đó có tiết mục trình diễn nhạc của Hùng Lân, cả nhạc đạo lẫn nhạc đời. Người dẫn chương trình cho tiết mục này là nhạc sĩ Cao Huy Hoàng, đến từ Phan Thiết. Ông chia sẻ: “Nếu ngày ấy, thầy Hùng Lân qua đời, Chúa hỏi ‘nén bạc của ta đâu?’, thầy có lẽ không trả lời hoặc chưa trả lời kịp thì hôm nay, chúng ta có thể nhìn lại và thấy được rằng nén bạc của thầ
« Chưa gặp em tôi đã nghĩ rằng, có người con gái đẹp như trăng… khi gặp em rõ thấy một bà chằng! » … Chằng tinh, hay chằn tinh là một loài người hay cũng coi là một loài quỷ hung ác. Tùy vào hoàn cảnh, tùy vào người ta gặp, ta đối diện. Nay thế giới có nhiều loại chằn tinh, chằn ở trong mọi lãnh vực, chính trị, văn hoá, kinh tế, giáo dục và cả trong xã hội v.v…Do đấy, ta muốn tìm hiểu nguyên do chằn ở đâu ra. Hẳn là trong văn hóa Nam Bộ Việt Nam - Ấn Độ - Khmer…? Theo tác giả Huỳnh Thanh Bình, chằn là một loại sinh vật truyền kỳ, làm hộ pháp, canh giữ chùa, tháp, chánh điện phật giáo nam truyền và chiếm vị trí quan trọng trong văn hóa và tâm linh của người Khmer nam bộ, phổ biến trong kho tàng truyện kể dân gian và tuồng tích sân khấu của đa phần người Đông Nam Á.
Cả ông ta và tôi cùng cười xòa. Ui, mình đúng là đãng trí thứ thiệt. Phần Lan đã gia nhập Eurozone từ 1999 và dùng Euro ngay từ buổi đầu như những quốc gia thành viên khác. Ngày trước, nhắc đến những thủ đô bắc Âu, người ta thường nghĩ đến Oslo giàu có của Na Uy, Copenhagen trẻ trung của Đan Mạch. Giờ đây, Helsinki dần dà từng bước góp mặt vào danh sách những thủ đô được du khách ưa chuộng. Sức thu hút của thành phố ngày càng tăng. Từ 15 năm nay, Helsinki là một trong những thành phố tân tiến nhất Âu châu.
Bà xỏ chân vào đôi dép, lê lẹp xẹp vào buồng. Bà lấy ra một bịch nhựa trong đó đựng trăm thứ lặt vặt không ra hình thù gì. Bà nhìn trước, ngó sau như người ăn trộm. Chị mua ve chai đứng ở ngoài cửa bếp. Như một việc đã quá quen thuộc, chị đón lấy cái túi, móc vào cái cân xách. Trước kia chị phân loại giấy ra giấy, nhựa ra nhựa, nay thì hai bên đã thỏa thuận với nhau là có một cái giá trung bình cho toàn thể. Bà thì nhìn đăm đăm vào mớ hàng lặt vặt ấy như nhìn một thứ gì quý giá lắm. Mà không quý sao được, vì đó là kết quả của nhiều tuần bà lượm lặt và cất giữ.
Cho tới bây giờ, thỉnh thoảng trong giấc ngủ tôi vẫn nằm mơ tới chuyện thi Tú tài và giật mình tỉnh dậy, mừng húm mà mồ hôi vẫn đổ ra. Trong lần thi Tú Tài I, tôi đã thức đêm thức hôm học đến bị yếu phổi. Chữ “Tú Tài” nặng nhọc với tôi như vậy tuy nghĩa của nó là “đẹp đẽ, có khả năng, tài giỏi”.Ông Tú Xương có lẽ cay đắng với chữ “Tú Tài” không kém gì tôi. Ông vác lều chõng đi thi tất cả 8 lần, từ khoa Bính Tuất (1886) tới khoa Bính Ngọ (1906). Ba lần đầu ông đạp vỏ chuối, tới lần thứ tư, năm Giáp Ngọ (1894), ông mới vớ được cái Tú Tài nhưng là Tú Tài đậu vớt, chữ ngày đó gọi là “Tú Tài Thiên Thủ”. Ông chết với cái danh Tú Tài, chẳng bao giờ kiếm được cái “Cử Nhân” mặc dù vẫn cặm cụi đi thi.
*SONG THAO Tôi chừ chỉ chơi thể thao trên ghế sa-lông, ngồi coi người ta chơi. Thứ tôi coi người ta chơi là hockey, tennis và đôi khi bóng tròn. Mình không còn khả năng thì coi người ta chạy nhảy cũng là một cách chơi. Cách chơi biết mình biết ta. Các ông bạn tôi cũng chơi như tôi. Có điều mỗi người chơi theo ý thích riêng của mình. Ông Hoàng Xuân Sơn, ông Luân Hoán cũng na ná như tôi. Nhưng ông Luân Hoán hơi ngả về bóng tròn. Ông Hồ Đình Nghiêm máu mê hơn. Ông sa đà vào bóng tròn. Thời gian vừa qua, ông coi giò coi cẳng các nữ nhân tranh giải bóng tròn thế giới FIFA một cách mê mệt. Ngày ngày ông bá cáo bà con trên Facebook tường tận về từng cặp chân vàng mà trắng, cô nào đá hay, cô nào chụp banh giỏi, ông rành như có họ hàng thân thiết.
Bạn có thể xem bài này như truyện ngắn. Có thể gọi là nhiều truyện ngắn trong một truyện ngắn, hay là ghép từ nhiều mẩu truyện. Bạn cũng có thể đọc như tùy bút, hay bản tin, hay là vân vân... nghĩa là bất cứ những gì có chữ, có thể đọc lên, có thể nghe được như âm thanh. Đó là những gì tự nhiên hiện lên trong trí nhớ của tôi, những gì tôi bất chợt nghe bên tai khi ngồi bên sông, ven biển, góc rừng, hay khi nửa đêm nhìn ra hàng hiên.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.