Hải đảo Ga Lang vào thời điểm 1978. Hải âu bay rợp trời. Cơm xấy, cá khô, đậu hộp và là những món ăn quen thuộc của người việt tị nạn trên đảo. Cứ đến giờ là mọi người xếp hàng đi ăn, có khi không phải là đói mà vì cả thói quen, kể cả thói quen chờ đợi, chờ đợi được làm giấy tờ. Chờ đợi được ra đi đến một quốc gia nào đó… Mỹ, Pháp, Úc, Đức… đâu cũng được thôi. Quê hương Việt Nam đã rời bỏ đi rồi, thì nổi trôi đến đâu bám tới đó.
Lênh đênh qua cửa thần phù,
Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm…
Titi và bé Hà là hai thuyền nhân nhỏ bé, lẫn lộn vô tình trong khối người vượt biển đến được Galang. Vì không còn có cha mẹ ở bên, nên chúng sợ hãi đủ thứ, sợ hãi vô cùng, cái gì cũng sợ!
Chúng như hai giọt nước bị đẩy qua đẩy lại. Chúng vô tình đứng sát nhau và thân quen nhau không mong, không ước, không định hướng… trẻ con bơ vơ, lạc cha lạc mẹ trong cảnh hỗn loạn, y là những con diều đứt dây.
Ngày mới tới hải đảo này, hai bé sống chung với các người lớn xô bồ giữa các lều trại, ai cho gì ăn nấy. Một ngày vô tình ngồi sát bên nhau, tay nắm tay vỗ về nhau rồi tò mò nghe người xung quanh thì thầm kể chuyện, xem có ai đó biết về cha mẹ chúng không. Tuyệt nhiên không, nhưng có hàng trăm ngàn chuyện vu vơ ngổn ngang, có cả những tiếng khóc, có lời rù rì đọc kinh cầu nguyện, có tiếng thở dài, có một chút tiếng cười hy vọng. Nhưng hai đứa bé chơ vơ không hiểu hết. Chúng rất sợ một mình và vô tình nương tựa vào nhau như hai cái phao nổi giữa dòng nước lũ.
Rồi hình như một ngày sau đó, các Sœur bên nhà nguyện đã đến, đã nhìn ra những bé mồ côi, Sœur Linda, người Mỹ làm công tác thiện nguyện ở Galang đầy từ tâm, mang các em nuôi riêng trong barrack K của viện mồ côi. Sœur hỏi chuyện mỗi em bằng tiếng Việt. Sœur dạy cho các em học vỡ lòng tiếng Anh. Soeur vỗ về an ủi từng em, từng Titi một, từng em từng em như con của Sœur… Sœur nói có đông con lắm!
Sœur tiến hành hồ sơ và thủ tục gấy tờ hội đủ chuyển về American Red Cross ở Chicago II USA. Sœur ấp ủ dậy dỗ khéo léo đến nỗi các em cùng tin tưởng như Sœur là có thể khi nào về Chicago, có thể là còn gặp lại ba mẹ các con, với tâm nguyện từ bi, bác ái, Sœur tin tưởng vào sự ổn định của ơn trên, nhất là của mẹ Maria.
Hay nếu như không được như ý đó, hoặc giả cha mẹ các con của Sœur không còn sống, thì ít ra Red Cross sẽ tìm ra cho các con bé dại, cho Titi, cho Hà một Mom một Dad. Biết đâu, vì Chúa ở khắp mọi nơi. Sœur có một niềm tin mạnh mẽ như vậy để vui vẻ và sung sướng lo cho các em không cha không mẹ. Bên cạnh, còn có Sœur Thérèse thu xếp ổn định giờ học, giờ chơi, giờ ngủ, giờ ăn, với thời khóa biểu thích hợp cho cả mấy chục em vào mùa đó. Một hôm, hai đứa vừa ăn xong buổi trưa, cơm vẫn ngon vì chúng không khó nuôi. Chúng rủ nhau ăn mau hơn thường lệ, để cùng nhau đi chơi lâu lâu một lúc trước khi vào lớp học Anh văn buổi chiều.
Cả hai Titi và Hà len lỏi qua các hàng ghế trong phòng ăn tập thể, cùng tiến ra cửa. Chúng băng qua khoảng sân rộng, rồi biến khuất sau dẫy nhà ngủ, một lát chúng gặp lại nhau giữa bãi cỏ non hiếm hoi.
– Titi ơi, tụi mình xuống bãi cát bắt còng về nuôi đi.
– Thôi thôi, em sợ bà mẹ la, bà mẹ không bằng lòng tụi mình đi chơi xa, xa đây đâu.
– O.K. Thế để Hà lên đồi lượm trái thông khô về làm ô quan, còn Titi đi lượm sỏi về làm ô quân nhé.
– Được mà, em sẽ lượm sỏi trắng và đá có nhiều vân nhiều màu. Em lượm lẹ lắm.
Hai đứa nhỏ vội chia tay sau khi phân chia công việc, hai đứa đi ra hai ngã rẽ khác nhau và thỉnh thoảng chúng cùng quay lại như ngó chừng nhau, có lúc đưa tay vẫy vẫy nhau. Chúng thân nhau lắm! Chúng thương yêu nhau vô cùng! Hai đứa trẻ này trôi lênh đênh qua đại dương như hai con cá hồng bé bỏng. Tại nhỏ nhẹ mà chúng nổi trôi theo số mệnh.
Chúng ở đây chờ, chờ một cơ quan thiện nguyện đón đi, chúng chỉ mong ước được đi chung một nơi nào đó. Đó là nguyện ước duy nhất. Chúng cũng thầm kín mong mỏi được vậy thôi, chúng chưa hề ngỏ ý ấy ngay cả với Sœur Thérèse.
Hai đứa sẽ không bao giờ quên buổi đầu tiên rụt rè, bỡ ngỡ gặp nhau.
Đứa nọ nhường đứa kia quả chuối và đứa kia cho lại quả cam. Hà 10 tuổi, Titi 8 tuổi. Chúng tự coi nhau là chị em, có lúc hơn thế nữa, gần như là cha là mẹ của nhau trong cơn hoạn nạn. Titi ngây thơ hồn nhiên kể với Hà ở Việt Nam em tên Tí, vì mẹ em bảo là nuôi hoài lâu lớn, có lúc được gọi là mắm nữa, mắm phơi khô. Ở đảo mẹ bề trên gọi em là Titi đã quen và ghi trên giấy tờ cũng như vậy. Titi nói là em không có cha, chỉ có mẹ. Mẹ em bảo là em mồ côi cha từ lúc bé lắm. Hai mẹ con, sau năm 1975, bán thuốc lá lẻ ở lề đường Nhất Linh, lối dẫn ra bến Ninh Kiều, Cần Thơ, bằng ấy tuổi mà em nhớ khá nhiều chi tiết, ngay cả các Sœur cũng thường hỏi đi hỏi lại nhiều lần về thân thế, tên cha mẹ và tại sao em lại đi vượt biển tới nơi này. Với tủ thuốc lá nhỏ bé, mẹ con sống độ nhật qua ngày. Có những tối bán khuya với ngọn đèn hoa kỳ leo lét. Kế bên, có cô Năm bán hột vịt lộn với rau răm, có chị Chín bán cháo cá thơm phức rồi kế bên là bà tám Đởm, bà chỉ bán các bắp nướng trên bếp than hồng rực rỡ và ấm áp.
Khách lạ quây quần bên họ, hình như họ ít nói chuyện với nhau, như mọi người đều ngầm hiểu khách của họ là phần lớn lỡ độ đường, toàn là khách lạ, từ đâu đến bất chợt và ra đi vội vàng. Bỗng một hôm trời tối không trăng sao, đèn phụt tắt, có người ta đuổi nhau, chạy tới chạy lui, từ phía chợ có tiếng la khóc, hình như có tiếng súng bắn, bóng đen và người ta xô đẩy chen chúc, Ti bị ai đó, đông người, chen xô rớt xuống một khoảng không. Sau đó em tỉnh lại, trời lờ mờ sáng. Ti khát nước và khô cổ gọi mẹ. Không thấy mẹ đâu cả, em nức nở khóc và rồi Sœur Linda đến bên em dỗ dành bằng tiếng Việt!
– Nín đi con, ngoan, ăn một chút cháo đi, rồi Sœur sẽ gọi mẹ con tới.
– Nhưng mà em đợi mãi, có lẽ mẹ em không còn tới, không còn về với em nữa chị Hà.
– Thế nào mẹ em cũng đến đây tìm em mà. – Hà nói câu an ủi cô bạn nhỏ, mà chính Hà, em cũng chớp mắt xúc động, giọt lệ đong đầy và lăn dài nóng nóng một bên má, không hiểu Đức Mẹ hằng cứu giúp có nghe thấu lời cầu xin của hai đứa chưa.
Chính Hà, Hà cũng nhớ bố nó lắm, chả thua gì Titi khóc mẹ đâu. Hà cứ thắc mắc mãi, không hiểu là bố nó bỏ đi đâu mất biệt vậy. Hôm ra đi, lúc biểu Hà ngồi yên vị trong xe lam, bố nói nhỏ: « Con ngồi đây, ngồi sát cô Tư đây, ba quay lại quán bỏ quên cái áo lạnh của con, ba sẽ trở lại ngay. » Hà nôn nóng chờ ba và xe chạy bất tử. Hà ngơ ngác thì cô Tư bụm miệng em trấn an: « Đừng lo, có cô đây, ba con đi xe lam kế sau, ra bến, con gặp lại ba con liền. »
Nhưng những ngày kế tiếp, em không gặp lại ba nữa, những xô đẩy dồn dập, có lúc cô Tư kéo đi. Rồi cô Tư cũng biến đâu mất. Người ta nói cô Tư bị lạc đường bị rớt lại rồi. Hà có hỏi vài người lớn, họ đều không biết ba em ở đâu. Người ta nói lung tung và nói lăng nhăng. Có lẽ người lớn còn sợ hãi và quay cuồng hơn con nít. Thôi đừng mất công đi hỏi nữa!
Giờ hai đứa có nhau, chúng quanh quẩn chơi với nhau, học Anh văn và cười vì cách phát âm ngộ nghĩnh như ca hát, chúng thủ thỉ tâm sự cùng nhau là có lẽ bố, mẹ chúng đã bị công an bắt hay bị chết thật rồi, chứ lẽ nào không đi tìm con? Điều kỳ diệu là Hà còn giữ được trong túi áo trong, một mảnh thư mà ba Hà viết cho má Hà lúc ổng còn trong trại cải tạo tập trung của cộng sản, khi thơ về tới nhà Hà, thì má Hà đã bị bạo bệnh qua đời được một năm, vì thế Hà luôn luôn giữ kín mảnh thư của ba má như một vật quý giá. Em đã đọc nó nhiều lần, mảnh thư có chỗ đã nhạt nhòa nước mắt:
« … Em ơi, nếu kiếp sau chúng ta còn có duyên gặp gỡ, thì anh ước mong rằng chúng ta sẽ là những con chim hải âu không làm tổ, nương theo nhau và theo bóng những con tàu, đại dương mênh mông sẽ cho mình chỗ ở và ánh trăng vàng biển cả là ánh trăng muôn thuở của chúng mình. Đêm qua anh vẫn nghe tiếng em gọi và tiếng bé bỏng của con Hà gọi anh: Ba ba! »
Chuyện là hai đứa bé gái mồ côi gặp nhau, cái ơn tri ngộ thì nhỏ lờ mờ mà niềm tin yêu vào nhau thì thiệt là lớn. Hai đứa tin yêu nhau, lúc nào cũng ở gần nhau và hay kể chuyện cho nhau nghe. Toàn những chuyện kể đi kể lại nhiều lần mà chúng không chán. Titi rất thích nghe Hà kể chuyện. Hà lớn hơn và kể chuyện rất có duyên. Titi thì nghe rất chăm chú. Lần nào thì em cũng ngồi xếp bằng tròn trên bãi cỏ, hai khuỷu tay chống lên hai đầu gối, hai bàn tay đỡ lấy cái cằm nhỏ và mặt hơi ngẩng lên, chăm chú nhìn bạn, Titi yêu nhất nơi bạn mình là đôi mắt sáng long lanh và cái miệng tròn vo, khi nào Hà cũng bắt đầu như sau:
« Ngày xửa ngày xưa, xưa lắm rồi, có một nàng công chúa tóc vàng, vàng óng như tơ, mẹ mất sớm, công chúa ở với cha và cha cô có vợ bé, người mẹ kế hiểm độc giam nàng ngủ ở một lâu đài trong rừng kín, nàng phải ngủ một giấc ngủ thật dài, đợi cho tới khi có một hoàng tử đến đón dậy. »
Hà cứ say mê kể, Titi cứ say mê nghe. Rồi một lúc Titi ngắt lời bạn:
– Rồi hoàng tử có đến không?
– Đến chứ, hoàng tử không bao giờ sai hẹn cả.
Hà quả quyết như vậy và hai đứa ôm nhau phá lên cười sung sướng, chúng sung sướng với cái hạnh phúc gặp gỡ của hoàng tử và công chúa. Mỗi khi rảnh, một lúc sau giờ ăn trưa là hai cô bé lại cùng nhau ngồi trên thảm cỏ, lại bắt đầu câu chuyện công chúa ngủ trong rừng. Toàn là những câu chuyện thần tiên tưởng tượng. Hà đã kể đi kể lại bao nhiêu lần mà vẫn không chán kể. Titi cũng đã từng nghe không biết bao nhiêu lần mà cũng không chán, lần nào em cũng cảm thấy thích thú như mới được nghe lần đầu. Em yêu nhất đôi mắt sáng và cái miệng tròn vo uốn éo của bạn. Lần nào thì kết cục là hoàng tử cũng đến và hai đứa bạn lại ôm nhau, phá lên cười sung sướng. Cả hai hả hê vì hoàng tử không sai hẹn bao giờ và công chúa đã thức dậy, rất đẹp, sau một giấc ngủ dài!
Nhưng rồi có một hôm, có thể công chúa và hoàng tử đi nghỉ vacances – dĩ nhiên những nhân vật tưởng tượng cũng có quyền đi hè đi du lịch nên hôm đấy, ăn cơm xong, cả hai tạm gác mục kể chuyện, bày trò chơi khác, đi lượm trái thông khô và lượm sỏi, đá về chơi ô quan ô quân hay là để xây lâu đài cho công chúa và hoàng tử? Hai em đi một đỗi quay về với nhau, cả hai đổ đồ lượm được đầy trên bãi cỏ xanh. Ô sỏi Titi lượm đẹp quá, sạch và có vân như ngọc. Thì những trái thông của chị cũng giống y như những tháp chuông trên nhà nguyện.
Titi xúc động gọi Hà bằng chị:
– Này chị Hà, em mà có cây kim thần, em sẽ xâu tặng chị một chuỗi ngọc sỏi, chị đeo vô cổ, khi kể chuyện, chị sẽ rất giống cha xứ khi ngài giảng kinh trên nhà thờ.
Titi vừa nói vừa xoa tay mơn man trên đám sỏi lạo xạo, cùng lúc Hà khéo léo hốt một mớ làm một vòng tròn ngoài, rồi một vòng tròn trong, rồi chất cao lên như một cái đồi sỏi nho nhỏ. Sau cùng em cắm lên đỉnh đồi một quả thông xinh xắn.
Cô bé làm xong, ngồi im, mắt mơ màng, hai tay bất động, nhưng Titi chợt phá tan cái im lặng đó:
– Ô, đẹp quá nhỉ, núi của chị có cây tùng, chỉ thiếu một con, hai con chim hạc là rất giống một bức vẽ của nhà ông bà ngoại em ở Việt Nam.
Hà vẫn ngồi trong tư thế bất động, chưa bao giờ em trả lời cô bạn mình với vẻ trang nghiêm như bây giờ:
– Không không phải vậy đâu. Đây là một cái mộ, mộ của ba chị đó!
– Vậy thì chị làm một cái nữa đi, nhỏ hơn cũng được, là em cũng muốn xây một nấm mồ cho má em!
Lần này, kết thúc câu chuyện, hai bé không phá lên cười. Cả hai nhìn nhau, rồi lặng lẽ cùng nhìn xuống biển nghe sóng ngoài xa rì rầm, rì rầm lui tiến không ngừng.
*
Đã mấy mươi năm qua đi, năm 2020 và tháng tư, mùa lễ phục sinh người ta thấy có ba người đàn bà, một đã khá già dáng lòm khòm, và hai người còn tương đối trẻ trung, họ dắt nhau về hải đảo này. Nếu hai người thì là một, tri kỷ tri bỉ?
Nhưng đây là ba người, tam nhân đồng hành, đó là Soeur Linda, Tityfany và Anna Hà vừa từ Chicago bay qua Londres, rồi qua Jakarta (thủ đô Indonésia) cuối cùng họ đặt chân đến vùng đất thiêng của họ: hải đảo Galang.
Đảo Galang đánh dấu một khúc quanh gấp của cuộc đời tị nạn. Titi bây giờ là một kỹ sư làm việc cho hãng Intel, Hà được gia đình bà bảo trợ Margie nuôi nấng cùng thời với Titi, cô lấy xong Master ra dậy học ở Milpitas, bắc California. Cả hai thành công nhờ sự giúp đỡ không vụ lợi, lại đầy tình thương của hội American Red Cross và các gia đình Mỹ bảo trợ săn sóc chu đáo.
Galang đầy thay đổi, nhưng với Soeur chuyên làm từ thiện, với Titi, với Hà, thì Galang vẫn thế! Bờ biển vẫn cong cong và nhấp nhô từng cơn sóng như được viền đăng ten khéo léo và tỉ mỉ. Thiên nhiên vô tình và đầy mầu nhiệm, còn Thượng Đế, ngài ở mọi nơi, trong thiên nhiên và đầy ắp trong trái tim nhân ái. Titi và cả Hà và cả Soeur Linda cùng khẽ cất tiếng hát:
I love Jesus, I love Buddha
Yes I do, yes I do, yes I do
Jesus is my teacher
Buddha is my sister
Dieu is my teacher
Teach my free
Teach my free
Teach my free…” (1)
Tiếng hát tan loãng vào hư không. Trên không đó, từng đàn hải âu vẫn bay lượn, chao qua chao lại. Có những con sà xuống thật gần, thật thấp, tưởng như có thể giơ tay lên và với được.
Mải mê tay với mây trời,
Lòng như chùng lại rớt vào hư không!
Một cái bóng xẹt ngang rất nhanh trên đầu. Titi và Hà giật mình đều ngó theo. Chim hải âu ở Galang này dạn người quá. Cả hai, Titi và Hà thì thầm rồi như muốn nói một lời gì. Họ muốn nói chuyện với chim trời? Họ muốn có một lời cám ơn tất cả, hay cả hai cùng muốn gọi thầm cha, gọi thầm mẹ? Soeur Linda từ tốn làm dấu thánh giá và đứng lên: Let’s go!
– Chúc Thanh
(Paris Mars 2023)
(1) Phỏng theo bài « Love Buddha», trang 63 báo Viên Giác số 232.
Chiếc đồng hồ treo trên vách gõ nhịp nhàng hai tiếng thảnh thót giữa đêm khuya tĩnh mịch. Từ đàng xa, vài con chó trong xóm vắng gầm gừ sủa ma nghe thấy lành lạnh người. Tiếng gió đưa xào xạc mấy hàng dừa bụi chuối bên hè cộng thêm giọng ểnh ương oàng oạc tạo thành khúc nhạc êm ái đặc biệt hắt hiu của đồng quê miền Nam. Mùi hương hoa bưởi hoa cau cũng nương theo làn gió đêm len lén vào nhà nghe thoang thoảng nhẹ nhàng. Cho tới giờ này mà Phi vẫn chưa ngủ được, nó cứ nằm lăn qua trở lại với nỗi buồn nhức thịt nhức da, đau buốt tâm can vì sáng mai này nó phải chia tay với con Hồng Thắm, người chị láng giềng lớn hơn nó hai tuổi và cũng là người mà nó thân thiết nhất xóm, còn hơn cả con Mai em gái của nó nữa . Mà nói nào ngay thì Hồng Thắm có đi xa xôi cách trở gì cho cam, chị chỉ qua Mỹ Tho học mà từ nhà tụi nó ở ngay chợ Ngã Tư An Khánh-Bình Đại (Bến Tre) qua có cái Bắc Rạch Miễu là đã tới nơi rồi.
An cười, nhưng chợt khựng lại với ý nghĩ không biết bao giờ mới có thể cùng Mẹ đến những chỗ đông vui như vậy. Hơn hai tuần lễ thực hiện điều “ở yên trong nhà” mà thấy lâu như cả năm. Mặc dù An đã kéo hết công việc về làm tại nhà, không phải đi đến sở, An thấy vẫn còn nhiều thì giờ trống. Chính là những lúc trước đây dành cho việc chạy bộ tập thể dục, là những lúc đẩy xe cho Mẹ đi dạo để hít thở chút khí trời trong lành, là những buổi họp mặt bạn bè, đàn ca hát xướng cho vui… Nhiều lắm! Khi bình thường không ai để ý những điều đó, đến khi phải sống trong một bầu không khí mới, sẽ thấy có sự khác biệt rõ ràng.
Thắp nhang tụng thời kinh công phu buổi sáng, tôi mỉm cười đón tia nắng mai đầu Xuân đang lạnh tràn lên chiếc áo tràng và thành tâm cầu nguyện “âm siêu dương thái, dịch bệnh tiêu trừ” cho đệ tử và chúng sanh không phân biệt. Tiếng chuông hồi hướng đưa tôi vào ngôi chùa Tự Tại để được sống thêm một giờ, một ngày hay bao lâu nữa cũng được trong thanh tịnh và an vui.
Để tưởng nhớ đến các đồng bào Việt Nam đã bỏ mình trên bước đường đi tìm tự do
Elizabeth Becker (When the War Was Over, 1986) cites the UN High Commissioner on Refugees: 250,000 boat people died at sea; 929,600 reached asylum .
Bà Elizabeth Becker trong quyển sách "Khi chiến tranh đã chấm dứt , 1986" dẫn chứng lời của vị Đặc Ủy Tối cao Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc: 250.000 thuyền nhân chết trên biển cả; 929.600 người được tỵ nạn.
Tâm trạng hắn lúc đó thật là phức tạp. Hắn vừa hồi hộp, vừa lo lắng, vừa bùi ngùi đứt ruột vì phải xa lìa đất mẹ, nhưng đồng thời hắn cũng cảm thấy vô cùng phấn khởi náo nức khi nghĩ đến mỗi bước đi tới sẽ là những bước đưa gia đình hắn đến gần một chân trời mới đầy tự do và hy vọng…
Tất cả mọi người đều bị ếm trong khoang ghe, không được gây tiếng động. Mấy cháu bé đều bị cho uống thuốc ngủ trước đó hết. Trong khoang ghe, tất cả được chia nhau ngồi chen chúc dọc theo hai bên vách. Mọi người đều im lặng.
Biển mùa hạ xanh biếc, màu xanh tưởng chừng như thông suốt từ đáy biển lên tận bầu trời, cái màu xanh mát mắt lạ thường, chỉ nhìn thôi đủ thấy khoan khoái, bao nhiêu bực dọc và phiền não như tan trong làn gió. Hàng ngàn người đang vùng vẫy trong làn nước xanh mát ấy.
Mỗi lần mùa đông trở về với Cali, tôi lại bồi hồi nhớ lại những mùa đông ở một nơi khác. Không phải là những mùa đông êm ả, thân quen của Đà Lạt, nơi tôi sinh ra và lớn lên, mà là những mùa đông lạnh lẽo, vô cùng khắc nghiệt ở một nơi khác, xa lăng lắc. Nơi chốn đó đã cho tôi bao nhiêu kỷ niệm vui buồn, nhớ nhung của tuổi thanh xuân. Thành phố nhỏ bé đó có tên là Komsomolsk, ở tận xứ Ukraine xa tít mù, nơi tôi đã sống và làm việc trong suốt bốn năm trời, và cũng là nơi đã hun đúc nên một tình yêu cho mãi đến bây giờ.
Trong tình hình "cấm túc tại gia", hầu hết mọi người ở nhà, không lái xe đi xa, tai nạn xe cộ gần như không có, vì đường nhỏ, đường lớn đều "đường thênh thang gió lộng một mình ta", công ty AllState sẽ hoàn lại 600 triệu tiền bảo hiểm cho những người mua bảo hiểm xe hơi của họ. Hy vọng AAA, Công ty bán bảo hiểm lớn và lâu đời nhất ở Mỹ cũng sẽ theo bước chân của AllState . Điều buồn nhất là theo nhiều ý kiến chuyên môn, phải mất một khoảng thời gian dài, rất dài trước khi cuộc sống trở về bình thường. Coronavirus không chỉ đến rồi đi, mà còn ở lại và tung hoành ngang dọc. Đời sống vốn buồn nhiều hơn vui,trong tình hình này dường như phải đổi thành đời sống vốn dĩ buồn lo.
Cứ mỗi độ Xuân về là Phong nhớ lại một mùa Xuân kỷ niệm vào đầu thập niên 60 lúc chàng đang học lớp Đệ Nhất trường trung học Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho. Thuở ấy, mặc dù theo học ban B nhưng Phong lại rất thích văn chương thơ nhạc nên thường tới nhà cậu 9 Hoàng là cậu ruột của Phong để học đàn vì Cậu 9 rất giỏi về băng cầm và Tây Ban Cầm. Sự giao du của hai cậu cháu thân tình tới độ có lúc cả hai tưởng chừng như là hai anh em mặc dù cậu lớn hơn Phong tới 13 tuổi và ngay cả đứa con trai lớn của cậu là thằng Long chỉ nhỏ hơn Phong có 7 tuổi.
Trời ngả chiều nhưng mặt trời vẫn sáng rực rỡ. Nắng vàng ấm và gió nhẹ khiến phố xá thêm êm đềm tươi mát, mà đường phố vắng tanh chỉ lác đác vài chiếc xe vài bóng người. Đại dịch và chỉ thị giới hạn sinh hoạt đã trả cho thành phố cái thanh bình yên ắng. Ngà nhớ những bức ảnh Sài Gòn xưa đăng trên những trang facebook, cái thuở thái hòa những năm 1930’s, 40’, và 50’s, khi Sài Gòn chỉ nhiều nhất một vài triệu dân và mọi sinh hoạt dường như nhỏ nhẹ.
Gương mặt thoáng nụ cười nhẹ nhưng lộ vẻ mãn nguyện, khi một làn sóng đê mê lan toả khắp thân thể. Smith Baron cảm nhận có bàn tay ai đó ve vuốtthân thể mình, bàn tay vô hình áp lên má và ôm ấp lấy ngực… Smith Baron trở mình, mở mắt vì tiếng con puppy sủa ăng ẳng bên giường, thoáng thấy bóng mờ mờ như nhân dạng người đang bước về hướng cầu thang.
Thiếu Tá Lê Hữu Nhân với giọng nói đều đều, có vẻ mệt mỏi vì mất ngủ, anh tự giới thiệu và nói về quá trình anh đi trình diện vào ngày ba mươi tháng Tư bảy lăm:
- Tôi là lính địa phương quân đóng ở Bến Tre trước bảy lăm. Tôi bị đưa đi tù cải tạo tận ngòai Bắc: Hoàng Liên Sơn rồi Lào Kai. Đầu năm tám mươi họ chuyển chúng tôi về Nghệ Tĩnh, Lý Bá Sơ. Cuối năm tám mươi tôi được ‘lệnh tha’ thuôc diện sức khỏe. Đi tù cải tạo ở ngòai Bắc nghề chính của tôi là sẻ gỗ. Tôi bị tai nạn cây đè, gẫy kín xương đùi trái…
Một y tá trong Phòng Chăm Sóc Đặt Biệt (ICU) làm việc tại Bệnh Viện của Đại Học Chicago nói với CNN rằng cô sợ hãi khi nghĩ đến một tuần nữa không biết ICU sẽ ra sao, khi nghe người đứng đầu Cơ Quan Phục Vụ Y Tế Công Cộng Hoa Kỳ nói rằng Chicago là một trong những điểm nóng đại dịch corona đang bùng lên tại Hoa Kỳ. “Số bệnh nhân Covid mà chúng tôi nhận gia tăng nhanh mỗi ngày và tất cả chúng tôi đều lo lắng điều gì sẽ xảy ra khi nó ngày càng tồi tệ hơn,” theo cô y tá không muốn nêu danh này cho biết. Và cô ấy không phải là người duy nhất lo sợ, theo cô. “Khi tôi làm việc trong đơn vị Covid, một số y tá đã không muốn ăn hay uống cả 12 giờ đồng hồ bởi vì họ sợ phải tháo ra và mặc vào dụng cụ bảo vệ cá nhân PPE,” cô đã kể lại như thế. Cô thuật lại rằng rất là khó chịu để nhìn thấy sự tổn thất mà vi khuẩn corona gây ra cho những gia đình không thể thăm người thân đang nằm trong bệnh viện. “Thật là đau lòng cho những gia đình của các bệnh nhân này phải nằm ở nhà trong lúc người thân của họ
Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.
Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.
Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”
Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.
Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.
Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.
Chúng tôi sử dụng cookie để cung cấp cho bạn trải nghiệm tốt nhất trên trang web của chúng tôi. Nếu tiếp tục, chúng tôi cho rằng bạn đã chấp thuận cookie cho mục đích này.