Hôm nay,  

Tiếng nói

03/04/202309:02:00(Xem: 3703)
Truyện

sunset

Ngày Thước bước ra, nàng không mang theo bất cứ thứ gì nàng đã sắm trong tám năm. Nhờ nàng, Thụy có ê hề những thứ nàng để lại, nào bàn, ghế, sô pha. Những TV nhỏ, lớn. Những hình, ảnh, những giỏ hoa, nàng thường để trên bàn trang điểm, vẫn còn.
     Cái bàn trang điểm để lại trong phòng ngủ. Thụy nói với Ngà. Em xài cái bàn này đi, em hãy ngồi ít nhất, mỗi sáng, cũng từ ba mươi phút tới một tiếng đồng hồ trước gương, soi mặt, rồi lựa chọn màu son nào tươi nhất, màu kem nào tốt nhất, thoa lên mặt, rồi đánh phấn hồng lên cho da mặt em thật mịn, thật nhuyễn. Anh định nói thêm, như Thước ngày xưa ấy. Nhưng Thụy chợt tỉnh lại và ngưng ngay.
     Ở trên chiếc bàn này, Thước đã ngồi hàng giờ, thong thả tỉa từng sợi lông mi, tỉa thật kỹ, chà xát gương mặt để rồi quay lại hỏi anh. Đẹp hôn? Đẹp há! Anh nói. Đẹp lắm. Giọng cô gái miền sông nước, miền tây, ngọt ngào như mía. Lúc đó nàng mới thu dọn đồ nghề, thay quần áo đi làm.
Bây giờ không còn Thước nữa, mà là Ngà. Ngà đã bước vào đời anh, thế chỗ Thước vừa bước ra.
Chuyện xảy ra hằng ngày trên cái bàn trang điểm, làm sao anh quên, nên bây giờ Ngà ngồi lên, anh lại tưởng Thước. Tưởng thôi. Thước đã nổi trôi, đã lềnh bềnh, dập dềnh, mọi lúc, mọi nơi, trong trí nhớ Thụy, trong giấc ngủ Thụy, kể cả trong giấc mơ của Thụy nữa.
     Anh nói tiếp với Ngà, chiếc bàn này đẹp chứ em, của vợ người bạn, gia đình nó dọn đi xa, định cho Good Will, anh thấy đẹp nên mang về. Ngà ngồi lên cái ghế có lót tấm vải nâu mềm. Nàng có vẻ sung sướng, hạnh phúc, hí hửng. Nàng nói, cái ghế ngồi êm lắm. Em thích.
     Ngà đến với anh là sự tiếp nối, như một chương tiếp theo trong cuốn tiểu thuyết đời... Khi mất Thước rồi, anh thấy đàn bà sao mà quý giá. Mất nàng như mất hết. Kiếm một người khác bằng hay thấp hơn một chút, cũng khó khăn quá.
     Đàn bà thật dễ tìm, mà cũng thật khó. Anh đã đứng hàng giờ trong những cái chợ, nhìn người. Trong quày bán trái cây, nhiều cô, bà, mặt hoa da phần, áo quần bảnh bao, "mốt miết" không thể tả. Họ đang đứng bên quầy trái cây. Những bịch nho tươi, trái lớn. Các bà (cô) đẹp đẽ ấy, mở bọc nhựa ra, rồi vừa bốc từng nhúm bỏ vào miệng nhai (ngồm ngoàm), rồi tìm trong đó những nhành nho to nhất, chắc nhất, và ngọt nhất, có lẽ thế, bỏ vào một bọc khác để sẵn. Xong, cầm lên lắc lắc. Sau khi đã chắc ăn một trăm phần trăm là bịch nho mình lựa mua là ngon hết sẩy, mới đi qua quầy khác. Tiếp tục đến hàng trái bơ. Cô (bà) đứng lại, lục tìm trong đống bơ tươi vừa đổ xuống, lúc lạo, tìm tận dưới đáy, cầm một trái lên, lại bấm, lại lắc lắc, đưa vào tai nghe có đặc hay rỗng. Lại nhấc lên, để xuống, rồi cầm lên trái khác. Xong, mới bỏ vào bọc ni lông của mình. Chỉ nội mua bịch bơ khoảng 5, 7 trái, thế mà cũng mất cả chục phút. Thụy nhìn và nghĩ. Các cô, (bà) này mà về với anh, anh sẽ mệt lắm vì sự quá  kỹ tính.
     Hay vào trong các Mall, nhìn các cô lựa quần áo, giày giép, son phấn, nữ trang... Hay vào các nhà ăn uống, các cô (bà) ngồi ăn uống (nhồm nhoàm), nói năng cười cợt to tiếng, như chỗ không người, anh lại lắc đầu ngao ngán. Lại tưởng tiếc tình yêu đã qua, tưởng tiếc Thước đã xa bay...
Cho nên, chuyện tưởng dễ mà khó. Anh chỉ cần có tiếng nói trong căn nhà này, tiếng nói con người, chứ không từ radio, CD hay cassette. Mà con người. Anh nghĩ đến những người đàn bà chỉ biết có mình. Ăn, uống, nói, luôn miệng ca tụng mình, gia đình mình, anh chị em mình... và nổ, nổ văng miểng, như từng ở bên kho đạn Long Bình, thành Tuy Hạ ngày nào, thì chán mớ đời.
     Cái anh cần là một-người-con-gái-khác.
     Khi Thước bước ra, cái khoảng trống trong anh sâu hun hút. Anh tưởng sẽ suốt đời trống, trống hoác, như cái mạch nước đã vỡ, tràn nước ra, khó tìm một cái nút gì để đậy lại, cho nước ngưng tràn. Thế mà em đã đến, đã xuất hiện, phủ chụp lên anh. Đó là Ngà.
 
***
 
Chị Hân bên tiểu bang lạnh trong một buổi họp mặt thân hữu, đến gần Thụy và ôm chầm lấy anh:
     – Thụy phải không, phải không, phải không?
     Thụy đáp lại với vẻ ngơ ngác:
     – Xin lỗi.
     – Chị là chị Hân, vợ anh Phòng đây, ở miền bắc về dự.
     Thụy ôm chầm lấy chị:
     – Ô! chị Hân, chị còn trẻ quá, em nhìn không ra, cũng mấy mươi năm rồi.
     Thế là hai chị em nhìn lại nhau sau gần ba mươi năm biệt xứ. Cũng may có những cuộc hội ngộ như thế này. Chị Hân cầm tay Thụy lắc lắc:
     – Thụy cũng vậy. Em cũng còn quá trẻ mà. Vợ con đâu mà đi sô-lô một mình?
     – Hết rồi chị ơi! Hiện em sống một mình.
     Chị Hân ngẩn người. Thụy là em bà con xa với chị, hồi nhỏ hai chị em chơi thân với nhau, cùng một làng quê, cùng một xóm quê, chơi ô ăn quan, cò cò, u mọi. Rồi thời gian, rồi chiến tranh, rồi biển dâu... Đủ mọi thứ... Mấy mươi năm cho một đời người.
     – Sao tội vậy em, ở xứ này mà sống một mình chịu sao nổi, để chị giới thiệu cho.
 
***
 
Ngà ở một tiểu bang xa, rất xa, nếu đi bằng máy bay nội địa giá rẻ, thì có thể hơn 5 giờ bay. Nhưng Thụy không đến đó. Anh chỉ nói chuyện qua phôn. Anh như con gà trống, bới đất, xù lông xù cánh, rồi gáy lên o o:
     "Em à. Anh độc thân, sống một mình từ mấy mươi năm nay. Bây giờ nhìn lại đời sao thấy vô vị quá. Sao mình lại thui thủi thế này. Có ai biết nỗi cô đơn của anh không? Sống? Đồng nghĩa với vui vẻ, hạnh phúc, mà sao anh chưa có được những ngày vui. Em đến với anh đi. Hai tâm hồn, hai cuộc đời, cô đơn, nhập vào nhau làm một, đi em, như người ta vẫn thường nói. Hãy tìm một nửa của nhau. Đã lâu rồi, anh tìm mãi tìm hoài mà không ra, bỗng dưng, dây tơ hồng nào đưa em đến với anh. Đúng em là một nửa của anh rồi."
     Rồi anh gởi nàng qua phôn, hàng chục bản nhạc tình, trong đó có những bản như, Bài tango cho em, của Lam Phương, Từ ngày có em về, nhà mình toàn ánh trăng thề. Giòng nhạc tình đang tắt lâu, tuôn trào ngọt ngào như giòng suối. Lời bản nhạc tự tình, rộn ràng, hy vọng, lạc quan, yêu đời. Hay bản Tôi còn yêu, tôi cứ yêu của Phạm Duy, Tôi còn yêu, tôi cứ yêu! Tôi còn yêu, tôi cứ yêu! Tôi còn yêu mãi mãi mãi, tôi còn yêu đời, tôi còn yêu người, tôi còn yêu tôi!
     Ngà nhận tới tấp những lời phủ dụ đó, nàng chấp chới, nửa tin nửa ngờ. Tình đâu từ trên trời rơi xuống vậy cà? Nhưng niềm tin là một sự lặp đi lặp lại, nhứt cự ly, nhì tốc độ. Anh thì quấn lấy, vơ vào. Nàng thì lần đầu tiên gặp "người đâu lì như con chi chi", cứ hai, ba tiếng đồng hồ là điện thoại reo, và khi nàng áp tai vào điện thoại, thì tiếng chàng trầm xuống, em yêu, anh nhớ em quá. Tiếng nói chàng đã đánh động tâm hồn nàng, tâm hồn đã nằm im tiếng suốt bốn mươi năm. Trước đây, tình yêu với nàng, nàng thấy thật mơ hồ, nào công việc, nào chăm lo sức khỏe cho cha mẹ, nào những đứa em. Nó đã chiếm hết ở nàng một phần đời. Bây giờ cha mẹ đã mất, nàng bơ vơ thấy rõ, con bơ vơ trên cõi đời này quá! Anh em, chị em làm sao bù đắp được khoảng trống của lòng con. Bỗng dưng chị Hân gọi điện thoại. Ngà ơi! Em đón nghe điện thoại của chàng trai này nghe. Chị nghĩ em sẽ vui. Và chuyện gì tới đã tới.
     Tuyết và gió ở một tiểu bang lạnh đã làm nàng sợ. Sợ cái lạnh đến thấu xương. Chàng hằng ngày vẫn phủ dụ nàng "như con gà trống bới đất rồi gáy o o", em qua đây, miền này ấm áp như quê mình, như Đà Lạt, như Nha Trang... Qua đi em, qua với anh đi em. Anh thề sẽ yêu em mãi, mãi mãi.
     Thế là nàng qua.
 
***
 
Mỗi khi ôm Ngà trong tay, mắt Thụy lim dim như tận hưởng một hạnh phúc. Mùi thơm từ da thịt, từ lotion, từ nước hoa tỏa ra ngào ngạt. Mà thật lạ lùng, sao Ngà lại hao hao giống Thước ngày xưa nhỉ, mái tóc dài, gương mặt trái xoan, nụ cười hiền hòa... Nhiều lúc như vậy, anh cứ ngỡ ngàng gọi Thước, nhưng anh dừng lại. Hai hình bóng cứ chập chùng, thay qua đổi lại. Ngà nói, áo anh dính cà phê rồi nè, để em đem vào restroom giặt cho, để lâu giặt không ra đâu anh. Anh này hiệt tình. Rồi Ngà ngồi vụt dậy, ra khỏi vòng tay Thụy, đem giặt ngay chiếc áo.
     Những buổi sáng trong veo, gió lạnh, anh ôm choàng qua bên, thấy trống vắng một khoảng giường nằm. Thụy biết Ngà đã dậy, đã xuống bếp chế cà phê, nấu cháo, nấu "ốt miu", giặt sạch chiếc khăn lau mặt bằng nước nóng, sửa soạn kem đánh răng để sẵn trên sink. Lúc Thụy trở dậy, tiếng Ngà nhè nhẹ bên tai, anh dậy rồi hả, ngồi chút trên giường rồi hãy đi, cẩn thận nhe anh. Nhiều lúc nàng vào dìu anh đứng lên, hơi ấm tỏa lan, mùi hương tóc, hương da thịt. Anh trầm mình vào trong niềm yên vui nhẹ nhàng khó tả đó.
     Những điều đó đã đi quá những ước mơ chàng. Ước mơ chỉ cần tiếng nói, tiếng người, trong căn nhà nhỏ này. Nhiều buổi sáng dậy sớm, nghe tiếng ho của ai đó ở nhà hàng xóm, một bà Mỹ già hay bà Việt Nam già? Anh chợt thấy mình đắm chìm trong niềm vui. Anh nghĩ như mình đang như đang ở một xóm nhỏ ở phường 6, Tân Bình ngày xưa cũ, hay ở Xóm Mới, Gò Vấp... Hay xa hơn, như tuổi thơ anh, trong căn nhà cha mẹ ở chợ Quán Rường, sáng ngủ dậy, đã nghe lao xao tiếng người. Người mẹ tất bật đi làm đồng, vào trong giường lay gọi, cu em, dậy chuẩn bị rửa mặt, ăn uống, rồi đi học, con. Sáng rồi đó. Mấy củ khoai lang mẹ để ở chạn bếp lấy ăn nghe. Dậy đi con, trưa trờ, trưa trật rồi.
     Rồi những buổi trưa nơi xóm quê kia, trên đường đầy nắng, nắng chạy loanh quanh trong những khu vườn, bay tít lên những ngọn cây cao, trên đó có những con chim đứng im tránh cái nắng, mắt lim dim như ngủ, những con chim cu cất tiếng gù gù nhau. Tiếng chim se sẻ bay vòng quanh mái nhà, những con chim chiền chiện, ơi chao!
     Anh chợt nhớ câu thơ:
     Một buổi trưa không biết ở thời nào
     Như buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao
     Có cu gáy, có bướm vàng nữa chứ
     Mà đôi lứa đứng bên vườn tình tự.
     (Huy Cận)
     Anh lại nghĩ, Ngà đã đem lại cho anh không những là tiếng người, mà đem lại cả một vùng quê tuổi nhỏ, khu Đồng Cát, chợ Quán Rường, con đường tỉnh lộ, những người nông dân chân lấm tay bùn, những bà Đương, bà Sử, bà Trà. Các chú Tham, chú Yên, chú Đàn, những thầy giáo Sam, thầy Khánh. Cả một vùng quê tuổi thơ bát ngát trong lòng anh. Sống dậy trong anh... bát ngát.
     Tiếng nói làm vui cả một căn nhà, nó ríu rít trong từng ngõ ngách, trên từng bữa ăn, có món rau muống luộc, có gỏi gà trộn bắp chuối, tiếng nói, tiếng nói em, tiếng nòi quê kiểng anh ngày xưa.
     Thước chỉ còn về trong những giấc mơ, thoáng qua trong trí tưởng, tim anh không còn bị nhói đau như trước nữa. Như ngày trước, mỗi khi nhớ Thước, anh đã nhói đau như có trăm ngàn mũi kim đâm vào da thịt, ánh mắt đó, nụ cười đó bây giờ đã thay bằng đôi mắt Ngà, trong veo. Thụy nghe như vang trong hồn âm thanh nhỏ nhẹ:

     – Mai anh thích ăn gì, em nấu, nhe anh…

 

– Trần Yên Hòa

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hai người bước vào Quán Nửa Khuya. Cô gái đi trước, mặt trái xoan, tóc dài, người mảnh khảnh áo jacket màu nâu nhạt. Chàng trai theo sau, mặt vuông, tóc bồng bềnh, cao hơn cô gái một cái đầu, vai rộng, sport coat màu sậm...
Khoảng cuối năm Ất Mão, không biết bệnh ghẻ phát xuất từ đâu, lan tràn nhiều nơi ở miền Nam Việt Nam và đặc biệt phát triển mạnh trong các trại tù. Ghẻ lan đi như một trận dịch. Người ta nói ghẻ theo chân mấy anh bộ đội từ rừng sâu về đồng bằng nên cũng gọi là ghẻ bộ đội...
“Phải như chị có được đôi mắt lá răm giống em, chắc chị hạnh phúc lắm.” Người đàn bà nói với Trâm câu ấy bao nhiêu lần nàng không còn nhớ nữa. Những buổi chiều ngồi nhìn nhau trên hai chiếc ghế mây mua được từ một buổi chợ phiên thị trấn dưới chân núi mùa hạ trước. Hết nhìn con đường quanh co dẫn vào khoảng xanh thẫm của bệt mầu đan bằng cây lá, lại nhìn sâu vào mắt nhau và bao giờ người đàn bà cũng ngậm ngùi. Phải như chị có đôi mắt giống em, chắc chị hạnh phúc lắm. Hạnh phúc là gì hở chị. Một lần Trâm đã hỏi lại người đàn bà như thế. Và chị đã chỉ nhìn sâu vào mắt Trâm, lặng lẽ mỉm cười. Hạnh phúc ảo tưởng. Đêm qua em nằm mơ, cứ thấy như trong cổ tích chị Tuyết ơi. Em thấy em là công chúa ngủ trong rừng.
Khi bố tôi qua đời năm 2000, thọ 80 tuổi, tôi thừa kế gia sản của ông, một xưởng mộc và một cửa hàng bán đồ gỗ gia dụng, tọa lạc tại Nam California. Bố tôi là một thần tượng không ai thay thế được trong đời tôi. Bố để lại một di chúc viết tay riêng cho tôi, dặn dò con phải đọc cuốn gia phả quí giá, giữ gìn, in lại thành vài bản và truyền lại cho các con, cháu...
Chiều nay có cuộc họp sau giờ dạy, Cầm về nhà muộn hơn mọi ngày. Vừa mệt vừa đói bụng ngồi vào bàn ăn thấy món thịt kho trứng bên đĩa rau lang luộc chấm nước mắm tỏi ớt ngon lành...
Từ khi Thiền sư Tuệ Tĩnh bắt đầu làm việc ở viện Thái Y, ai cũng tỏ vẻ nể nang, tin tưởng ngài. Họ bàn tán với nhau: “Với sự cộng tác của người thầy thuốc tài danh xứ An Nam, chắc chắn công việc của viện sẽ tiến bộ hơn”.
Chuông điện thoại trên bàn quản đốc reo vang. Vinh đứng lên, bước qua nhắc lên nghe. Bên kia đầu dây có tiếng léo nhéo của nhiều người. Một giọng khàn khàn cất lên : “Tay nào đấy. Phi phải không ?” Vinh nhận ngay ra tiếng của Năm Trắc, phó giám đốc. Tôi nghe đây. Anh Bảy Phi không có ở văn phòng.”
Thuở xa xưa lắm rồi, lúc vị Thần Linh Cao Cả tạo dựng loài vật, ngài tạo ra đủ kiểu đuôi cho chúng. Ngài để chúng tự do lựa chọn cái đuôi mà chúng thích. Ngài trải các loại đuôi ra và gọi các loại thú đến chọn. Mỗi con vật tư chọn cái đuôi cho mình. Chú hải ly chọn một cái đuôi có bộ lông dày thật đẹp thật êm. Còn chú thỏ thì mải tung tăng trong rừng nên đến sau cùng và lúc đó chỉ còn một nhúm lông tròn, chú ta đành chịu vì không thể chọn cái đuôi nào khác...
Chúng tôi vừa thực hiện chuyến đi thăm vài tiểu bang dọc theo bờ biển vùng Đông-Bắc và Đông-Nam Hoa Kỳ. Khởi đầu chuyến đi ấy bằng cuộc du ngoạn từ Thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Và nhân đây, chúng tôi xin được chia sẻ cùng các bạn vài điều hiểu biết và sự cảm nhận về thành phố này, nơi chúng tôi đã có dịp “cưỡi ngựa xem hoa” qua đó...
Đêm yên lặng. Căn phòng tối mờ. Những vệt sáng từ ngọn đèn đường hắt vào tạo nên những bóng hình lay động. Trên chiếc giường, chất năm con người, hai người lớn, ba trẻ con, đang nằm ngủ, sắp lớp như hộp cá mòi...
Cái tin cu Thẹo làm chủ tiệm nước bay về làng, người làng vui như mở hội...
Cô tôi chết, gia tài của cô để lại cho con mèo. Thỉnh thoảng, đọc báo, thấy có một nhà giàu nào đó, chết, để lại gia tài kếch sù cho thú cưng, tôi cho rằng họ là những người lập dị và keo kiệt. Cô tôi, chắc chắn là keo kiệt. Cô chết tôi không dự đám tang. Chỉ biết cô qua đời vì nhận được lá thư gửi từ văn phòng luật sư quản lý tài sản của cô. Thư đòi nợ...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.