Hôm nay,  

Gia tài

07/04/202318:57:00(Xem: 4786)
Truyện

Meo-Fumika Koda

 

Cô tôi chết, gia tài của cô để lại cho con mèo. Thỉnh thoảng, đọc báo, thấy có một nhà giàu nào đó, chết, để lại gia tài kếch sù cho thú cưng, tôi cho rằng họ là những người lập dị và keo kiệt. Cô tôi, chắc chắn là keo kiệt. Cô chết tôi không dự đám tang. Chỉ biết cô qua đời vì nhận được lá thư gửi từ văn phòng luật sư quản lý tài sản của cô. Thư đòi nợ.
     Mười năm trước, tôi mượn tiền của cô. Tôi thiếu nợ xã hội đen và tôi biết hậu quả nếu không trả nợ đúng kỳ. Do đó tôi khẩn cầu với cô.
     “Xin cô giúp cháu. Họ bảo nếu cháu không trả số nợ này họ sẽ báo với cơ quan cháu làm việc.”  Tôi làm bảo vệ cho một ngân hàng. Ông Giám Đốc có họ hàng xa ba năm vói không tới với bên nhà nội. Tôi được cho ở trong một căn nhà nhỏ với điểu kiện là tôi phải làm công việc bảo vệ và chạy vặt 16 giờ một ngày 6 ngày một tuần. Nếu người ta biết tôi nợ nần vì cờ bạc là tôi sẽ bị đuổi việc. Và mất việc là mất chỗ ở.
     Cô không muốn cho tôi mượn tiền, nhưng nợ xã hội đen thì coi như tôi rơi vào chỗ chết. Cô không thể không cứu.
     “Cháu cần bao nhiêu?”
     Nợ năm ngàn, nhưng mỗi lần cầu cứu là một lần khó khăn nên tôi tăng số tiền muốn mượn để dễ xoay trở.
     “Dạ, hai chục… ngàn. Đô la!”
     “Cô sẽ ký giấy đứng đơn giúp cháu mượn tiền ngân hàng. Năm ngàn thôi. Và cháu phải ký giấy nợ có thị thực chữ ký ở văn phòng luật sư.”
     Tôi trả nợ được vài tháng mỗi tháng vài trăm, rồi tôi lặn mất luôn. Tôi biết. Cô biết trước là tôi sẽ quỵt nợ. Và cô trả nợ giúp tôi.
 
Tôi đến văn phòng luật sư. Thay vì trả nợ, tôi mang tất cả giấy tờ chứng minh tôi là cháu gọi cô tôi bằng cô. Tôi đòi kiện con mèo vì tôi là người trong dòng họ chính thức. Luật sư của tôi và của cô sau khi bàn cãi cẩn thận đều đồng ý là tôi không có hy vọng thắng vì di chúc của cô rất rõ ràng và đúng theo pháp lý. Cô có xác nhận tôi là cháu của cô lúc còn sống nhưng cô không để gia tài cho tôi. Tuy vậy, luật sư của cô nói:
     “Bà Lê, theo di chúc, muốn chúng tôi giúp bà chọn một hội nuôi thú vật, hoặc một người thật sự yêu thương thú vật, để nuôi con mèo của bà. Rơi là một con mèo bị mẹ nó bỏ rơi. Bà nhặt nó trên hè phố, mang về nuôi. Bà muốn con mèo không những được nuôi nấng, mà còn được thương yêu. Yêu cầu của bà Lê là con mèo được âu yếm, vuốt ve, được cho phép ngồi trên lòng, và ngủ chung giường nếu con mèo muốn như thế. Di chúc của bà Lê dặn chúng tôi, những người quản lý tài sản của bà, trả lương hằng tháng cho người nuôi con mèo, trả tiền thức ăn và thuốc men cho mèo. Nếu người nuôi mèo không có chỗ ở, có những chung cư không cho phép nuôi mèo, tôi có thể thu xếp để người ấy ở trong cửa tiệm bán đồ cũ của bà Lê.”
     Tôi thấy giải pháp này khá tiện lợi. Tôi tránh được chuyện kiện tụng, tốn tiền luật sư mà có thể bị thua kiện. Còn bên kia tránh được chuyện phiền toái, mất thì giờ, mà thì giờ của luật sư thì đắt gấp mấy lần lương của tôi.
     Tôi ngạc nhiên vì chính ông luật sư đến gặp tôi để giao chìa khóa, thay vì gửi một nhân viên dưới quyền, ở cửa tiệm bán đồ cũ của cô tôi. Cửa tiệm có bảng hiệu “Second Hand” sơn màu đỏ sậm. Tiệm bán bàn, ghế, sa lông, sách, đèn, máy ảnh, quần áo và những đồ lỉnh kỉnh như đồ chơi, đồ nữ trang đã dùng nhưng còn tốt. Đồ đạc khá tươm tất, ngăn nắp. Tầng dưới là cửa tiệm. Tầng trên là căn gác lửng có tường kính, phòng ngủ, và phòng làm việc. Người ở tầng trên có thể quan sát tầng dưới. Cả hai tầng đều có nhà vệ sinh. Một cái bếp nhỏ cho người nấu ăn đơn giản. Ông ta mang theo một cái lồng trong đó có con mèo. Ông có vài điều cần dặn dò về cách khóa cửa mở cửa. Quan trọng nhất là không có chìa khóa sơ cua.
     “Có vẻ như bà Lê và con mèo ở đây thường xuyên hơn là ở nhà của bà. Ngày nào ông còn nuôi con mèo thì ông còn có thể ở đây mà không tốn tiền thuê nhà. Hằng tháng, một phần tiền bà Lê chu cấp để nuôi mèo sẽ được trích ra để trả vào số nợ năm ngàn đô la ông còn thiếu bà Lê.      Những món hàng trong cửa tiệm sẽ được thu xếp để bán đấu giá một ngày gần đây.”
     “Cô tôi keo kiệt quá. Đã chết rồi mà vẫn không tha món nợ cho tôi. Tôi được nuôi con mèo cho đến bao giờ. Và nếu con mèo chết đi thì sao?”
     “Rơi là con mèo đực, loại mèo tuxedo, lông đen, chân trắng, cổ trắng, giống như một người mặc áo tuxedo đen, đeo nơ trắng, và găng trắng. Rơi chỉ chừng bốn tuổi thôi. Loài mèo, nếu được nuôi tử tế có thể sống đến mười lăm năm, thậm chí hai mươi năm. Xin nhớ là chúng tôi không bắt buộc hay nài ép ông phải nuôi con mèo. Chúng tôi chỉ nể tình ông là cháu bà Lê nên cho ông tạo cơ hội để ông nuôi mèo trả nợ cho bà Lê thay vì đưa ông ra pháp luật. Bà Lê theo tôi nhận biết, không phải là người keo kiệt.”
     “Cô tôi ky cóp suốt đời, không biết chưng diện, một cái áo khoác cũ mặc hằng bao năm, suốt đời chưa bao giờ đi một cái xe hoàn toàn mới, ăn chỉ toàn rau đậu chẳng mấy khi ăn thịt thà, chẳng biết thưởng thức món ngon vật lạ ở nhà hàng, chẳng bao giờ đi du lịch nước ngoài, chẳng bao giờ biết khoái lạc của trường đua, sòng bạc, thậm chí cũng không đi xem xi nê. Cô rửa chén giặt đồ, ngay cả đi tắm cũng tránh không dùng nhiều nước, không mở sưởi cao để bớt tiền điện, ra khỏi phòng là tắt đèn, ca củm đến mức như vậy không gọi là keo kiệt thì là gì?”
     “Thật sự, không ai biết là bà Lê có gia tài lớn như vậy. Bà đầu tư vừa bất động sản, vừa chứng khoán, rất cẩn thận. Bà có kinh nghiệm về đồ cổ nên mua được nhiều món đồ cổ người ta bán garage sale với giá bỏ đi. Người ta chỉ nghĩ là bà Lê bán đồ cũ “second hand” chứ không ngờ bà mua bán đồ cổ. Với gia tài bà Lê để lại, tôi nghĩ là bà có thể vui chơi nhiều hơn, nhưng tôi nghĩ bà thích cách sống đơn giản đạm bạc, chứ không phải keo kiệt. Tôi hiểu quan điểm của bà. Tránh lãng phí điện nước cũng là một cách bảo vệ môi trường. Bà đi du lịch nước ngoài nhiều lần, chỉ tại ông không biết. Bà nghiên cứu văn hóa cổ của nhiều quốc gia đặc biệt là châu Á. Trong di chúc bà để phần cho nhà thờ bà thường đi lễ, thư viện địa phương, vài chục học bổng cho học sinh nghèo, và Soup Kitchen nơi chẩn phát thức ăn cho người không nhà. Tôi thường nghe bà nói, ‘Ăn thì cho, buôn thì so.’  Tôi không hiểu lắm từ buôn-thì-so, nhưng tôi đoán, cái nào đáng cho thì cho, buôn bán thì phải so đo, còn hễ nói mượn thì phải trả.”
     “Nếu con mèo chết đi thì sao?” Tôi lập lại câu hỏi.
     “Thì chúng tôi sẽ tiếp tục với phần sau của di chúc mà chúng tôi không thể tiết lộ ngay bây giờ.”
 
Tấm ảnh trắng đen của cô treo trên tường nhìn tôi đăm đăm. Tôi thầm nghĩ, có lẽ cô chụp ảnh trắng đen để ít tốn tiền hơn là chụp ảnh màu. Tôi quay hướng nào cũng không thoát khỏi tầm mắt của cô. Giường này là nơi tôi sẽ ngủ. Con mèo không nhất thiết sẽ được ngủ chung giường với tôi. Ngay cả chung phòng cũng không. Tôi vốn không ưa thú vật. Tôi chưa hề nuôi nấng săn sóc người ta, bất cứ ai, kể cả vợ con tôi, bao giờ. Tôi chỉ có thể chăm sóc bản thân tôi. Tôi lấy vợ để có người yêu thương, chăm sóc cơm nước và giặt quần áo cho tôi. Khi có con, vợ tôi là người chăm sóc nuôi nấng đứa con. Điều này vợ tôi mù quáng không nhận ra cho đến khi tôi không thể trang trải cuộc sống của chính tôi, vì tôi thích hưởng thụ cuộc sống xa hoa lại thêm phần mê cờ bạc. Cô ấy bỏ tôi và nuôi đứa con không cần đến tôi. Tôi thật ra chỉ là gánh nặng của cô ấy.
     Con mèo nhìn tôi vẻ lạnh lùng khinh khỉnh. Trên giường có hai cái gối, nó nằm chễm chệ trên một cái. Tôi suỵt suỵt đuổi, nó tỉnh bơ. Tôi đẩy nó ra khỏi giường. Nó nhảy xuống nền nhà, đến chỗ bàn làm việc nó nhảy lên bàn, rồi lại quan sát tôi bằng đôi mắt xanh lè. Chập sau, nó lại nhảy lên giường leo lên cái gối bên cạnh tôi. Ánh nhìn của nó và cái nhìn từ tấm ảnh của cô tôi làm tôi khó chịu. Tôi đứng dậy gỡ tấm ảnh đặt xuống nền nhà và úp mặt vào trong tường. Còn con mèo, tôi xách cổ nó, tống ra khỏi phòng, đóng cửa lại. Tôi không để ý, ở phần dưới của cánh cửa có một ô nhỏ có cửa, dành cho con mèo muốn ra vào tùy ý.
     Nửa đêm, con mèo quay trở lại nằm trên cái gối. Tôi ngồi bật dậy, giật cái gối cáu kỉnh, ném xuống nền nhà. Rơi, đủng đỉnh bước qua, nằm lên cái gối của tôi. Nó nhìn tôi như thể muốn bảo tôi chỗ này là của nó. Khi tôi thò tay nắm cổ nó thì nó gào lên và quào mạnh vào tay tôi. Rơi nhảy lên bàn, tha chùm chìa khóa, và biến mất vào bóng tối. Khi tôi đi tìm Rơi, thì mới nhớ ông luật sư có dặn rằng. “Tất cả các cửa trong nhà đều là cửa sắt, phải có chìa khóa mới mở được, dù mở từ bên trong hay bên ngoài. Có lẽ vì bà Lê ở một mình nên bà rất cẩn thận với việc dùng khóa. Đây là loại khóa không có chìa sơ cua. Ngay cả người dùng nếu muốn đặt làm chìa sơ cua những nơi làm chìa khóa sẽ không làm vì như thế là phạm luật.” 
     Con mèo hình như thoát ra ngoài bằng một lỗ hổng nào đó tôi tìm hoài mà không thấy nó. Tôi sẽ gọi điện thoại cho ông luật sư, để nhờ ông tìm cách mở cửa cho tôi ra. Nhưng cả ngày hôm qua tôi không sạc điện vào điện thoại bây giờ điện thoại tắt ngấm rồi. Liệu có ai có thể cứu tôi không?  Người ta thường bảo rằng đừng nên gian tham dối gạt tiền bạc của bà già keo kiệt, bởi vì bà ấy sẽ đòi nợ cho đến khi nào con nợ chết mới thôi.

 

– Nhị Ngã

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Những dòng ký sự và nhận định sau đây, tường thuật lại những biến cố xảy ra tại Trường Y Sàigòn từ năm 1967-1971 và sau đó...do sự can thiệp của phái bộ Hội Đoàn Bác sĩ Mỹ -American Medical Association tại Saigòn (AMA-SAIGON) vào nội bộ Trường Y Saigon. Những sử liệu của bài nhận định này đều dựa trên những điều tường thuật của quyển sách thời danh SAIGON MEDICAL SCHOOL do 3 người viết: CH William Ruhe MD, Norman Hoover MD và Ira Singer PhD, tất cả ba vị này đều là nhũng người lãnh đạo và cố vấn cho cuộc can thiệp của phái bộ AMA vàoTrường Y Saigon từ năm 1967. Tập sách SAIGON MEDICAL SCHOOL do chính cơ quan AMA, xuất bản tại Mỹ năm 1988.
Dạo đó, đầu thập niên 70, dưới giàn hoa giấy, trong khoảng sân nhỏ nhà chúng tôi, thỉnh thoảng có những người lính thuộc mọi binh chủng của Quân lực VNCH. Họ ngồi hút thuốc, hay tay đàn miệng hát vì trong cư xá Đoàn Văn Cự ở Biên Hòa có khá nhiều chị đang học lớp 12 rất đẹp. Nhà chúng tôi ở đầu cư xá nên các chị thường phải đi ngang nhà chúng tôi trước khi về nhà mình.
Mẹ tôi bán thuốc tây để dành được một ít tiền cho chị em tôi đi vượt biên. Chuyến đầu mẹ cho ba chị em tôi đi nhưng bị đổ bể, đợt hai mẹ cho chị tôi đi với gia đình dì, và được Cap Anamur Đức vớt, đưa đến Đức vào năm 80. Một năm sau mẹ gửi hai anh em tôi cho cô chủ tàu ở Cần Thơ và chúng tôi được đưa lên tàu đánh cá nhỏ có 89 người.Thuyền rời bến, ngày đầu chúng tôi được phát nước uống, qua ngày thứ hai thì không còn giọt nước nào. Lúc đó vào tháng năm, nắng nóng, thuyền lại không có mui che nên ai cũng mệt lả, thuyền đông người lại quá chật hẹp không cựa quậy gì được, tôi chỉ cần nhút nhích một chút là bị người ta nhéo. Lúc đó tôi chỉ thấy chung quanh là biển rộng mênh mông, tôi nhớ nhà và cầu mong sao cho bị bắt để được về nhà lại.Trên thuyền bắt đầu có một chị bị sảng vì thiếu nước uống, rồi thì không biết ai đó lấy lon Guigoz truyền nước uống cho nhau nhưng ai hớp vô rồi cũng phun ra vì đó là nước biển, mặn quá, tôi cũng không ngoại lệ.
Trời Chicago cuối tháng Tư vẫn còn lạnh. Tuy thế anh em đi dự buổi họp điều-trị-tâp-thể đông hơn thường lệ. Nhiều anh em sĩ quan ở các nhóm khác, không phải họp hôm nay, họ cũng đến. Phòng họp dành cho buổi điều-trị-tập-thể của các anh em sĩ quan H.O. tại Asian Human Services -Chicago rộng rãi và tươm tất, được trang hoàng trang nhã với những bức tranh ấn tượng của Claude Monet, màu sắc hàì hòa gợi nhớ về một thuở thanh bình.
Thôi thì khỏi nói, mọi người tay bắt mặt mừng, ai ai cũng vui như hội. Bà Tám đầu hẻm oang oang: - Thằng nhỏ coi bộ phổng phao ghê vậy ta, hồi còn ở đây gầy nhom, da bánh mật. Nó qua bển một thời gian giờ thay da đổi thịt quá, nếu đi ngoài đường chắc tui nhận hổng ra. Cả nhà quây quần tíu tít, bia bọt khui lốp bốp. Tuị bạn ngày xưa bá vai kề cổ giờ cũng ra ông nọ bà kia hết trơn. Chỉ có mỗi thằng An là lẹt đẹt làm anh công chức quèn thôi!
Kính Anh Chị Lê Thanh Tôi nhận được thư anh chị cách đây mươi ngày. Tôi định viết thư trả lời anh chị hay liền, và cám ơn anh chị đã nhiệt tình đỡ đầu hai quyển sách đầu tay của tôi mà tôi tự xuất bản. Nhưng không hiểu tại sao tôi mãi chần chờ. Đêm nay, tự dưng thức giấc, đọc lại thư anh viết, lòng cảm thấy bồn chồn. Lời thư anh mộc mạc, ngắn gọn, chứa chan tình cảm và nhiều suy nghĩ. Suy nghĩ của anh, của người tuổi đã ngoài 70. Anh đã đi qua nhiều chặng đường lịch sử của đất nước.
Như mọi buổi sáng, tôi vừa dùng điểm tâm vừa xem tin tức trên Internet. Sau đó, tôi vào Inbox để xem emails của bạn hữu. Khi thấy youtube tình khúc Hai Vì Sao Lạc – do ông Trần Nắng Phụng chuyển – cũng là lúc tôi chợt nhớ trái avocado để quên nơi bếp. Tôi “bấm” vào youtube rồi rời phòng computer, đi xuống lầu, với dụng ý khi tôi trở lên thì phần nhạc dạo đầu sẽ chấm dút.
Tháng ba, dường như mùa đông chỉ mới bắt đầu sau một tháng thời tiết ấm áp. Nấc đo màu đỏ của hàn thử biểu nằm trên dương độ và có khi vượt qua khỏi con số mười. Mọi người hân hoan cho rằng Paris năm nay không có mùa đông. Nhưng những cơn mưa ướt át, những luồng gió lạnh lẽo từ một cơn bão nào đó đã ào ạt thổi về trên phố từ mấy ngày nay. Con đường trước nhà lúc nào cũng vắng hay tôi chỉ nhìn thấy nó mỗi khi không còn ai. Thói quen trước khi vào giường ngủ và thức dậy khi đêm chuẩn bị tạ từ. Đèn vàng và sương mù, những ngôi nhà, cây cành đổ bóng ngoài khung cửa là nơi của quá khứ tôi, nơi hồi tưởng, dù vui dù buồn. Nhớ lại trong đêm nay… cả trăm điều muốn khóc1, một lời hát lấy từ một bài thơ của một nhà thơ quá cố mà tôi rất thích và tôi nghĩ đâu phải riêng tôi mới có cả trăm điều muốn khóc. Của chúng ta, bao người ly hương, làm gì lại chẳng có những đêm nhớ lại với trăm điều.
Thứ hai 6 tháng 4 South Carolina tiểu bang cuối cùng của các tiểu bang nằm dọc theo phía Đông của sông Mississippi (giòng sông dài thứ nhì của Bắc Mỹ) ban hành lệnh "Shelter in place". Cùng lúc, Indiana kéo dài "lệnh cấm túc" thêm 14 ngày nữa trên toàn tiểu bang.
Bài viết này lấy cảm hứng từ tựa đề của một tác phẩm nổi tiếng trong nền văn học Việt Nam Cộng Hoà. Đó là tựa đề “Những người không chịu chết” (1972), một trong những vở kịch nổi tiếng của kịch tác gia Vũ Khắc Khoan. Lúc vở kịch ra đời, tôi hãy còn nhỏ lắm, nhưng cũng phần nào đủ trí khôn để thưởng thức vở kịch này. Tôi được đọc vở kịch trước rồi sau mới xem kịch trên truyền hình. Đã mấy mươi năm rồi nên bây giờ tôi chỉ còn nhớ lờ mờ rằng vở kịch đó nói về một nhóm tượng người mẫu, cứ đêm đêm đêm lại trở thành người, sống, ăn nói và sinh hoạt như bao con người bình thường khác, với đầy đủ tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, thất tình lục dục. Bài viết này mượn cảm hứng đó để nói về—không hẳn chỉ là những con người—mà còn là những thực thể khác, cũng không hề chịu chết, qua dòng lịch sử nghiệt ngã của nước Việt, tính từ ngày 30 tháng Tư năm 1975.
Tiếng giày cao gót lụp cụp tiếp theo sự xuất hiện của một cô gái làm Vinh ngơ ngẩn đến lặng người. Trời ơi! Sao trên đời lại có người đẹp thế này! Nàng mặc nguyên cái áo dài màu xanh da trời đồng phục của tiếp viên hàng không Air VietNam với huy hiệu rồng vàng nổi bật trên cổ áo ôm lấy một bờ ngực vun đầy và vòng eo chết người. Gương mặt trái soan với đôi má hây hây điểm trên làn da trắng mịn màng, bờ môi mộng đỏ hình trái tim, cộng thêm đôi mắt bồ câu đen long lanh với viền mi cong vút dài rậm(thiệt đúng là chí lớn trong thiên hạ không đong đầy đôi mắt mỹ nhân). Tất cả như muốn nhốt cả hồn Vinh trong ngây dại chìm đắm.
Tiếng niệm chú rì rầm trầm hùng vang rền cả đại điện, bóng các tăng sĩ trong màu áo huyết dụ lắc lư, tay lần tràng hạt trong ánh đèn bơ lung lay trông thành kính vô cùng. Toàn bộ mọi người như nhập thần vào câu chú, thân người ngồi đó mà thần thức như ở cung trời nào chứ chẳng phải trên mặt đất này. Khói trầm phảng phất bay lên, pho tượng Phật trên toà tay bắt ấn kiết tường, mắt mở to như nhìn thấu những tấn tuồng của trò đời, thông suốt những nỗi đau của chúng sanh, biết tường tận tâm can của của mỗi người.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.