Hôm nay,  

Tháng Tư, Tết Thái

16/04/202310:32:00(Xem: 3237)
Tùy bút

IMG_5308

Sau ba tuần ở trại nhỏ Tha Luông miền Nam nước Thái, nhóm tàu chúng tôi được chính thức nhập trại Panatnikhom vào giữa tháng 1 năm 1990. Cuộc sống dần trở nên quen thuộc nơi trại tỵ nạn, mỗi ngày trôi qua như mọi ngày. Sáng sớm 7 giờ Quốc Ca Thái vang lên, sau đó một ngày mới bắt đầu, chợ búa trường học, văn phòng Cộng Đồng cũng như các văn phòng thiện nguyện như Cao Ủy, Bưu Điện rộn ràng kẻ qua người lại, cứ thế đến 6 giờ chiều, Quốc Ca Thái lại vang lên, đồng nghĩa đến giờ “hoàng hôn”, mọi người lo cơm nước, tắm rửa, nghỉ ngơi để có sức cho ngày mai, lại như mọi ngày, chờ đợi mỏi mòn trong trại cấm.
     Bữa sáng hôm đó, còn mắt nhắm mắt mở sau bài Quốc Ca, tôi bước ra cửa nhà chuẩn bị đánh răng thì bị một nhóm thanh niên trong lô tạt cả thau nước lạnh khắp người tôi làm tôi giật mình trong khi họ cười thích chí. Tôi nổi quạu:
     – Tự dưng mấy người tạt nước vào người tui, là sao?
     – Ối, chị mới nhập trại nên chưa biết đó thôi, tuần này là Tết!
     – Tết nữa hả? Mới Tết hồi cuối Tháng Một đây mà?
     – Không phải Tết Việt, mà là Tết Thái.
     – Ừa, mà mắc mớ gì tạt nước?
     – Trời! Đó là phong tục của người ta, nhập gia tùy tục, chị nên chuẩn bị tình thần bị ướt mấy ngày sắp tới, vì theo niềm tin của người Thái, ngày đầu năm càng bị tạt nước nhiều càng gặp may mắn suốt cả năm.
     Đó là câu chuyện Tết Thái của năm tỵ nạn đầu tiên còn nhiều ngơ ngác, chớ ba năm tiếp theo sau đó, tôi không những quen với chuyện “ướt át đầu năm”, mà còn có thêm những người bạn Thái, cùng họ vui Tết, ăn uống, tặng quà, nhảy múa thật vui. Trong nhóm nhân viên người Thái làm Cao Ủy và Văn Phòng điền Form của Bộ Nội Vụ Thái mà nhóm thiện nguyện Cao Ủy và Bưu Điện người Việt Nam tỵ nạn chúng tôi quen biết qua lại, tôi thân nhất với Tha Nu, một chàng trai Thái bằng tuổi tôi, da ngăm đen, rất vui vẻ và có duyên. Tha Nu thân thiện hòa đồng với các đồng nghiệp xung quanh dù là người Thái hay người Việt., Lào, Cambodia tỵ nạn nên dễ dàng ăn hết các thức ăn lạ của món Việt Nam, món Lào, món Cambodia mỗi lần có tiệc pot luck và dĩ nhiên Tha Nu cũng mang món ăn Thái giới thiệu với chúng tôi.
     Về ngày Tết Thái, Tha Nu giải thích cặn kẽ lịch Tết theo Phật Lịch của Thái và thường rơi vào ngày 13 cho đến ngày 15 tháng 4 dương lịch hàng năm. Đây là lễ hội lớn nhất của Thái, mang tên Songkran, với rất nhiều phong tục được lưu truyền từ bao thế hệ xa xưa. Người ta chuẩn bị dọn dẹp cửa nhà cả tháng trước đó cho sạch sẽ, rực rỡ. Gần đến ngày hội Songkran thì chuẩn bị nấu nướng các món ăn truyền thống để đón khách, gia đình sum vầy và mang lên Chùa cúng cho các sư sãi.
     Trước mùa Tết Thái năm ấy một tuần, tôi và vài người trong nhóm bưu điện có danh sách chuyển về trại Sikiew chờ thanh lọc. Chúng tôi chuẩn bị tiệc chia tay kết hợp với mừng Tết Thái và Tết Cambodia cũng rơi vào sát thời điểm ấy, ôi chao là vui. Phong tục của Cambodia hơi khác, thay vì tạt nước thì họ thích bôi phấn thơm cho nhau, lại một phen tưng bừng náo loạn cả văn phòng thiện nguyện. Sáng hôm sau, là ngày đến Chùa theo nhóm bạn Cambodia dâng thức ăn hoa quả cho các sư sãi, một tập tục đáng yêu của xứ này. Từng gia đình thành kính, bưng những thố chạm trổ bằng bạc hoặc bằng vàng, xếp hàng theo thứ tự tiến vào Chùa, đặt thức ăn theo hàng dọc ngay trước chánh điện. Sau giờ lễ tụng kinh, mọi người cùng các sư ngồi với nhau, ăn uống nói chuyện rôm rả.
     Hôm sau nữa là buổi potluck Tết Thái và tiệc chia tay, các món ăn bốn miền (Laos– Thai– Viet–  Cambodia) rất ngon làm lưu luyến kẻ ở người đi. Món Lào, tôi thích cơm nếp nấu trong thúng tre hình phễu, còn nóng hổi, bày ra ăn với món xào đặc trưng của Lào, là một số nội tang heo, bò, gà băm nhỏ xào cay xè với xả và các món gia vị khác. Món Thái, ngoài Pad Thai khoái khẩu, tôi còn thích món miến xào thịt và bắp cải xắt nhỏ, bọc bên ngoài lớp trứng tráng dòn đậm đà hương vị ăn với nước tương cay nóng. Món Cambodia tôi không hạp với mắm bò hóc nhưng bánh chuối nướng của họ béo bùi làm món tráng miệng thơm ngon. Món Việt Nam dĩ nhiên là chả giò luôn luôn được chiếu cố tận tình. Cuối buổi tiệc, mọi người theo phong tục Thái, cột cho nhau những sợi dây nhiều màu sắc nơi cổ tay, chúc nhau nhiều may mắn, và nhắc nhớ nhau đừng “xa mặt cách lòng”.
     Trên đường ra xe ngoài cổng trại để trở về nhà ngoài thị trấn (vì sau đó là Tết Thái các văn phòng được nghỉ lễ), Tha Nu trao cho tôi một gói nhỏ:
     – Bạn mở ra đi! Quà may mắn đấy, chúc bạn đậu thanh lọc và mau quay về đây nhé.
     Tôi hồi hộp mở giỏ quà, ngạc nhiên không nói nên lời, Tha Nu liền hỏi:
     – Bạn không thích quà này sao?
     – Trời ơi! Phải nói là rất, rất thích, vì đây là ký ức tuổi thơ, xa xôi lắm rồi, mẹ tôi thường hay mua thưởng cho tôi mỗi khi tôi học giỏi. Nhưng sau năm 1975, đất nước bị đổi chủ, hầu như tôi không còn thấy món ăn vặt tuyệt vời này nữa.
     – Thế à, tôi thật hạnh phúc khi thấy bạn vui vì món quà gợi nhớ kỷ niệm này.
     Tôi nâng niu gói quà, đó là những hình thù đủ màu sắc rực rỡ bóng loáng, hình dạng các loại trái cây như xoài, măng cụt, nho, táo ... nhỏ nhắn cỡ ngón tay, nhưng làm bằng đậu xanh nấu chín, thật đẹp mắt và khi ăn cũng rất thơm ngon.
     Đó là một trong rất nhiều kỷ niệm trong quãng thời gian bốn năm ở trại tỵ nạn. Với nhiều thuyền nhân, bộ nhân ở trại Thailand, nạn hải tặc hoành hành vẫn là nỗi ám ảnh tang thương, nổi tiếng với Đảo Ko Kra (còn gọi là Đảo Hải Tặc), hoặc những trại nhỏ như Long Giai, Khao I Dang có những tên lính Thái khi lên cơn say đã hành hạ đánh đập những người tỵ nạn Việt Nam không tiếc thương. Nhưng bên cạnh đó, nhiều hơn, là những người Thái chân tình, tử tế, giúp đỡ những người Việt trên con đường tỵ nạn lưu vong.
     Tôi chẳng thể nào quên đêm giá rét cập bờ biển tỉnh Chad của Thái, vợ chồng người ngư dân xứ Thái đón tiếp chúng tôi bằng nụ cười ấm áp, liên tục nhắc đi nhắc lại: “Thailand, Thailand” cho chúng tôi an lòng vì chúng tôi lo sợ tàu đi lạc về Cambodia. Rồi những ngày ở tạm trong khu trại gia binh Cảnh Sát Thái, những người phụ nữ vợ các cảnh sát mở cửa nhà cho chúng tôi vào xem ti vi mỗi ngày (dù chúng tôi chẳng hiểu tiếng Thái), có người còn rộng lượng cho cả thùng mì gói MaMa khi biết chúng tôi đêm khuya đói bụng. Và nhất là những người bạn, người ân nhân Thái mà tôi gặp gỡ trong trại tỵ nạn như chàng Tha Nu mà tôi vừa kể, mà mỗi mùa Tết Thái trở về, tôi bỗng nhớ đến họ và quãng thời gian ấy đến nao lòng.
     Tôi xin kết thúc bài viết này bằng một kỷ niệm khác nữa, nơi mảnh đất tạm dung Thailand thuở nào:

 

GỬI NGƯỜI Ở BANGKOK

 

Lá thư được gửi đi từ Bangkok

Nét chữ nghiêng nghiêng tôi chẳng hề quen

Tôi đã nhận ra anh bởi họ tên

Nơi góc phong bì màu xanh thân ái

 

Anh là luật sư Bộ Nội Vụ Thái

Đến trại Sikiew phỏng vấn thuyền nhân

Có tên thanh lọc một ngày đầu xuân

Tôi đến đó trong âu lo, bỡ ngỡ

 

Nhưng nụ cười anh làm tôi hết sợ

Khi hỏi thăm về đất nước Việt Nam

Rồi hỏi tôi: “Có muốn ở Thailand

Nếu chẳng may cô không đậu thanh lọc?”

 

Anh cũng hỏi về những ngày tỵ nạn

Những chuyện buồn vui nơi trại tạm dung

Tôi nhìn anh, tâm sự hết nỗi lòng

Của chuyến vượt biển chập chùng sóng gió

 

Anh ân cần hỏi thêm nhiều chuyện nữa

Quá khứ qua, hay mộng ước tương lai

Đời tỵ nạn buồn chẳng biết ngày mai

Anh hiểu lắm, cũng tâm hồn trẻ tuổi

 

Cuộc phỏng vấn đã xong sau ba buổi

Anh tiễn tôi ra tận cổng hàng rào

Tôi trở về khu trại dưới nắng chiều

Mang theo ánh mắt hiền hoà, lưu luyến

 

Một năm đợi chờ niềm vui đã đến:

Đậu thanh lọc rồi, tôi ngỡ như mơ

Ngày tôi lên đường đi nước thư ba

Lá thư anh, thay cho lời tạm biệt

 

Cám ơn anh, cám ơn một người bạn

Dù mới quen và chỉ gặp một lần

Đường ra phi trường xao xuyến, bâng khuâng

Chiều Bangkok bỗng vấn vương, gần gũi

 

Rồi hôm nay Tết Thái về “nơi ấy”

Kỷ niệm hiện về quá đỗi thân thương

Anh có còn ở Bangkok hay không?

Mong anh được bình yên và hạnh phúc

 

Thời gian qua nổi trôi theo cuộc sống

Đã lâu rồi tôi chẳng biết tin anh

Lá thư xưa nét chữ đã thành quen

Và Bangkok của anh tôi nhớ mãi!

 

– Kim Loan

(Edmonton, Tháng Tư/ 2023)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Sáng nay như những buổi sáng khác, cô gái theo thói quen đi dạo dọc bờ biển, vừa để hít thở không khí trong lành của buổi sớm mai, vừa để tập thể dục. Trên bãi biển lác đác vài người chạy bộ, hoặc đi xe đạp. Quang cảnh bình yên, gió thổi nhè nhẹ, từng con sóng bạc đầu xô vào bờ êm đềm như hát rồi nhẹ nhàng xoá đi những vết chân in hằn trên cát trả về cho cát sự phẳng lì và mịn màng vốn có. Nơi xa xa mặt trời đỏ rực đang nhô lên từ dưới biển, mặt biển và bầu trời được nhuộm một màu đỏ cam đẹp đẽ xen kẽ những đám mây và sắc xanh của nền trời buổi sớm mai tạo thành một bức tranh vô cùng hoàn mỹ. Cô gái bỗng dừng chân, tầm mắt nhìn về hướng cách cô không xa, một người đàn ông cao lớn đang nắm tay một bé gái nhỏ xinh đi ngược về phía cô, bé gái kéo cha đuổi theo con sóng rồi vội vã chạy lên bờ như sợ sóng đuổi kịp, cả hai đều cười đùa vui vẻ. Nhìn cảnh thân thương ấy tự nhiên con bất chợt muốn khóc, có thứ gì dâng nghẹn trong cổ. Có một nỗi nhớ như máu thịt trong con,
Hồi tôi đi lính, sau 9 tuần làm tân binh ở trung tâm huấn luyện Quang Trung, tôi được chuyển lên Đà Lạt. Đà Lạt với tôi chỉ là trong mơ, trong mộng, trong trí tưởng. Tôi không nhớ những năm tháng ấy (1968), tân nhạc Việt Nam đã có những bản nhạc ca tụng Đà Lạt chưa? Như "Ai Lên Xứ Hoa Đào, Đà Lạt Hoàng Hôn, Thương Về Miền Đất Lạnh?"
Chiến tranh qua rồi, nạn phá rừng vẫn tồn tại. Một người bạn tôi được giao một đại đội đào binh làm nhiệm vụ vỡ hoang hai cánh rừng gỗ tếch để trồng sắn. Thu hoạch xong vụ đầu tiên, anh toát mồ hôi: công lao của bấy nhiêu con người cả năm trời chỉ đủ mua ba cây tếch, nhiều nhất là ba cây rưỡi. Tôi hỏi anh đã báo cáo lên cấp trên cách anh tính toán chưa, anh nói anh không dám. Người ta đã báo cáo thành tích khai hoang rồi, nói thế có mà chết. Những cái đầu đất phá rừng để lấy thành tích khai hoang chưa kịp chết thì lũ con buôn đã thế chỗ. Chúng nhân danh phát triển kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu gỗ, đốn bất cứ cây nào bán được.
Hồng Linh đã về tới quê hương trong chuyến đi hoàn toàn bất ngờ. Một chương trình trao đổi kỹ thuật đặc biệt về tin học với các nước Châu Á, khi cô đang ở trong lãnh vực này. Chặng đầu tiên sẽ dừng ở miền Bắc, Việt Nam trong hai tuần lễ. Hai tuần lễ ở Hà Nội, ngoài những buổi hội thảo, Linh lang thang tìm thăm những địa danh mà mẹ cô thường nhắc. Hà Nội là nơi mẹ cô chào đời, nhưng khi mẹ mới mười tuổi thì ông bà ngoại đã phải dắt mẹ, cùng các cậu, các dì của cô vào miền Nam để lánh nạn Cộng Sản. Mới mười tuổi thôi, nhưng mẹ cô đã nhớ nhung, đã ôm ấp, đã cưu mang gìn giữ biết bao nhiêu là hình ảnh, là kỷ niệm thân thương về quê ngoại, với làng Đồng Du thuộc tỉnh Hà Nam và quê nội, với thôn Phương Viên, huyện Đan Phượng thuộc tỉnh Hà Đông.
Vừa ngồi được phút chốc thì thấy một thiếu phụ lên xe, nhìn cái bụng lum lum có bầu biết là chị ta khó nhọc lắm. Nó uể oải đứng dậy nhường chỗ cho chị ta, mặc dù nó đã đứng suốt ngày trong xưởng, hai chân mỏi muốn rũ ra. Xe buýt đầy nhóc, mọi người chen chân đứng như thế mà chị còn mang cái bầu nữa thì mệt phải biết. Nghĩ mình nhường ghế cho chị cũng là một hành vi đẹp nên dù có mệt nó vẫn thấy vui vui và thoải mái trong lòng.
Không ai (kể cả các nhà khoa học, các giáo sư Bác sĩ giỏi) có thể tiên đoán chính xác khi nào đại dịch chấm dứt? Bao giờ thì có thuốc chủng ngừa? Cũng chẳng dám kỳ vọng mọi thứ sẽ quay về như cũ, trước khi có đại dịch. Nhưng hy vọng những điều căn bản tồn tại nhiều trăm năm như bắt tay nhau, như vỗ vai nhau... sẽ trở lại sau đại dịch như "sau cơn mưa trời lại sáng". Hơn lúc nào hết, người ta cần có hy vọng để sống, để thêm nghị lực cùng nhau vượt qua đại dịch, và phân cách.
Rừng núi xanh mướt, không khí trong lành và hơi se se lạnh thấm vào từng chân lông kẽ tóc, len lỏi vào từng tế bào. Cái cảm giác khoan khoái thật dễ chịu, làm cho hai huynh đệ thọ nhận được sự bình an trong phút giây hiện tại. Cây cỏ xung quanh như tỏa ra một năng lượng tươi mát tràn đầy sức sống. Bất chợt sư huynh hỏi khẽ: - Dường như có đôi mắt nào đó đang theo dõi chúng ta? Cả hai dừng bước, nhìn quanh một tí thì phát hiện ra đằng sau bụi rậm có mẹ con nhà nai đang tròn xoe mắt nhìn, tai vểnh bắt sóng động của âm thanh, chúng có thể nghe được những âm thanh nhỏ nhất mà tai người không nghe được. Mẹ con nhà nai đang cảnh giác cao độ, toàn thân mượt mà vàng sậm điểm xuyết những đốm hoa màu trắng.
Chiều nay khi những giọt nắng đang lao xao ngoài song cửa, những tán cây thầm thì trong gió chuyện nhân gian, anh bỗng nhẹ nhàng nhớ đến em, người con gái "vội cất bước quên dấu yêu ngọt ngào" ngày ấy. Anh trầm mình trong ký ức về “từng góc phố bâng khuâng dịu êm”. Anh tình cờ biết được một bản tình ca mà tác giả của nó cảm giác rằng nó bị thất lạc khá lâu rồi như chuyện chúng mình vậy đó em: "Lời hát ấy hôm nao miên man, ru em một thời Từng ánh mắt bao dung đam mê, cho em ngọt bùi"
Sau công phu sáng, bước ra nhà bếp xé tờ lịch thì hiện ra hôm nay là ngày 6 tháng 6 năm 2020. Ngày 6 tháng 6, bỗng như que diêm nào bất ngờ bật lên trong ký ức tôi đã từ lâu lắng xuống. Tại sao hôm nay lại bật lên? Biết rằng băn khoăn cũng chẳng có câu trả lời, như mưa mới rạt rào đây mà giờ nắng đã lên rực rỡ. Muôn sự còn muôn thẳm sâu mà sự phán đoán ước lệ của suy tưởng vật lý chưa chạm tới được sự mầu nhiệm của tâm linh. Đủ duyên thì lộ, chưa đủ duyên thì ẩn. Chấp nhận vậy thôi. Ngày 6 tháng 6 năm 1944. Ngày có tên lịch sử là D-Day.
Sau hơn một tháng, các chuyên viên Public Health làm việc không ngưng nghỉ, CDC công bố 60 trang guidelines hướng dẫn chi tiết cho "đời sống cùng với COVID-19" ở các trường học, các trung tâm giữ trẻ, các nhà hàng, và các cơ sở thương mại từ lớn đến nhỏ.... Mới nhìn thoáng qua thì dễ bị...."ngộp" vì quá nhiều yêu cầu, nhưng chi tiết không có nghĩa là không thể thực hiện. Cho đến lúc nào có vaccine chủng ngừa, không còn lựa chọn nào khác. Lâu dần đời cũng quen. Một cách lạc quan, khả năng thích ứng với lối sống mới của mỗi người, thêm một lần nữa, được thử thách.
Một buổi chiều im vắng bên dòng sông Cái Lớn. Theo hướng gió mơn man trên rừng dừa nước, Tím đẩy mái chèo một cách khoan thai, nhẹ nhàng. Chiếc xuồng nhỏ rẻ nước, lặng lờ trôi ngang đồn Nghĩa Quân. Tiếng đàn và tiếng hát nghe văng vẳng xa xa. Khi xuồng đến gần, Tím thấy một người lính đang ôm “cây đàn số 8” – do trẻ em trong làng đặt tên; vì không đứa nào biết cây đàn này tên là Guitar mà chỉ thấy thùng đàn giống như số 8 – ngồi trên hầm chống pháo kích.
Xe đò vừa vào Phan Rang thì kỷ niệm cũng vừa tràn về thốc tháo trong lòng bà, như làn gió nóng của miền Trung nắng cháy đang lùa vào các khung cửa xe một cách hăm hở. Bà gỡ đôi kính mát xuống để nhìn hai bên đường cho rõ hơn. Phan Rang. Con đường Thống Nhất. Bốn mươi năm. Nhưng bà ngạc nhiên vì thấy mình không đến nỗi lạc lõng sau những năm tháng dài như thế. So với nhiều thành phố khác, Phan Rang dường như không thay đổi gì mấy. Rõ ràng là con đường cũng như mấy thập kỷ qua, không được mở rộng ra chút nào. Từng hàng cây cổ thụ dễ đến trăm năm vẫn còn lác đác chạy dài theo hè phố. Nhà cửa có lô nhô nhiều căn cao hơn trước, nhưng chưa đủ để thành phố có một khuôn mặt khác lạ đối với người lữ khách lâu ngày vừa trở lại.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.