Hôm nay,  

Từ Tố Nữ

20/04/202315:55:00(Xem: 5022)
Bút ký tháng Tư

boat-people

Ngày 30 tháng 4 lại đến gần, chúng ta lại được đọc những câu chuyện kể hay được viết lại về những chuyến vượt biển hiểm nguy đi tìm cái sống trong cái chết. Những hình ảnh đau thương lại tràn về trong tâm khảm của những thuyền nhân như chúng ta. Riêng tôi, ngoài những lo sợ, những kinh hoàng bị bắn, bị rượt đuổi, tôi xin viết lại một câu chuyện buồn mà vẫn phải… cười, gọi nôm na là chuyện buồn cười.

Ghe chúng tôi khởi hành gồm 48 người, trong đó có một người phụ nữ trung niên khoảng 40 tuổi người Việt gốc Hoa. Dáng người chị nhỏ nhắn, hơi thấp, mái tóc ngắn với khuôn mặt dễ nhìn, sau này tôi mới biết chị tên là Từ Tố Nữ, chị đi từ quận 5, Chợ Lớn.

Sau những nguy hiểm chết người, ghe chúng tôi may mắn được đến hải phận quốc tế khi trời hừng sáng. Chủ ghe cho phép tất cả hành khách lần lượt được chui lên boong tàu để tận hưởng không khí trong lành và để “giải quyết bầu tâm sự” phía đằng lái, sau hai đêm ngày nhịn tiểu nhịn đi cầu và bị ngộp thở, ngửi toàn mùi khói dưới khoang máy. Tôi vẫn ngồi trên ghe vừa uống cà phê vừa nắm cần lái trong khi mấy người tổ chức nắm tay kéo từng người lên boong và hướng dẫn họ biết phải làm gì và đi đâu.

Chợt nghe thấy tiếng nói léo nhéo rất trong trẻo, nói rất nhiều và nói không ngừng, không kịp lấy hơi, một giọng tiếng Việt lơ lớ, tôi quay nhìn về phía sau, thấy một phụ nữ đang phân trần gì đó với một em trai trẻ tuổi. Hai bên không bên nào chịu thua bên nào. Cuối cùng em trai phải bỏ ra đằng trước, vừa lẩm bẩm chửi thề, bỏ đi vừa lắc đầu chán nản. Phía tận cùng đằng lái, bên phải là một bàn cầu lộ thiên được quây lại bằng 4 tấm ván nhỏ vừa đủ cho một người ngồi xuống để trút bầu tậm sự vào chốn “mênh mông” gió nước. Chúng tôi đi ghe lâu đã quen, nhưng với một người chưa đi ghe xuồng bao giờ, và nhất là một phụ nữ dân thành phố như chị thì quả là một “nhiệm vụ gần như bất khả thi” (Mission Impossible) trong khi chiếc ghe vẫn cứ lắc lư con tàu đi. Mắc đi tới nơi mà ruột gan cứ bị thót lên, nhồi xuống, nhộn nhạo vì “nỗi niềm” vừa chực trào ra thì lại phải chạy ngược lại bên trong. Nỗi niềm này thực chẳng biết tỏ cùng ai.

Chiếc ghe vẫn cưỡi trên những con sóng nhẹ nhàng bập bềnh và tiếp tục lướt về phía trước. Mặt trời đã lên cao giọi những tia sáng lấp lánh trên mặt nước. Chúng tôi quay mặt đi để cho chị có chút riêng tư, yên tâm “vận thần công lực” tống xuất độc tố ra ngoài thì nghe chị ấy la lên một tiếng kêu rất lạ, không phải tiếng la hét vì sợ hãi mà là một tiếng than não nề. Mọi người đều ngoái lại nhìn chị, chỉ thấy chị đứng bật dậy, tay kéo quần, tay chỉ xuống nước biển xanh tím, miệng ú ớ những tiếng kêu vô nghĩa. Vài người chạy lại hỏi có chuyện gì không, chị vẫn chỉ xuống biển và miệng thì la “vàng của tui, bịch vàng của tui”.

Lúc đó mọi người mới hiểu ra khi chị ngồi xuống để đi cầu thì túi vàng lận trong lưng quần rớt xuống biển. Chị vẫn tiếp tục la coi người nào có thể giúp chị vớt bịch vàng lên, chị sẽ đền ơn. Giữa biển trời mênh mông, vàng nặng chìm xuống nước rất mau, không ai biết hình thù túi vàng ra sao, mà cũng chẳng ai liều mạng nhảy xuống biển sâu để vớt túi vàng cho chị. Chị chỉ biết sụt sịt khóc vì tiếc của; ai cũng cảm thông nhưng không thể làm gì hơn, không biết nói gì để an ủi chị. Cuộc hành trình vẫn tiếp tục.

Sau này, khi chúng tôi được chuyển qua một chiếc tàu buôn Pháp để họ đưa chúng tôi đến đảo Palawan, Thuyền Trưởng Jean Gada yêu cầu tôi viết cho ông một danh sách tất cả thuyền nhân với tên tuổi và ngày sinh, quê quán để tiện việc phân phát luơng thực và khi đến đảo sẽ nộp danh sách lên cho Cao ủy Tỵ nạn. Tôi viết tên tất cả mọi người bằng tiếng Việt nhưng không thêm dấu cho ông dễ đọc. Ví dụ tên anh Vũ Cao Đại, tôi viết Vu Cao Dai; khi đến tên chị, tôi viết Tu To Nu. Ông thuyền trưởng họp mọi người lại, giải thích cho họ biết khi nào sẽ đến đảo và trấn an mọi người dù các trại tỵ nạn ở Đông Nam Á đã đóng cửa, riêng trại Palawan vẫn còn đón nhận thuyền nhân. Ai nấy đều mừng muốn khóc. Ông bắt đầu đọc tên từng người, đến tên Tu To Nu, ông khựng lại, trán nhăn nhó như đang suy nghĩ điều gì. Sau một hồi lưỡng lự, ông cũng đọc to, giọng Pháp rõ ràng “Toute Nue”, ông nhắc đi nhắc lại 3, 4 lần mà không ai giơ tay. Ông quay sang tôi, mặt đỏ gay vì cố nhịn cười, ngón tay chỉ vào tên chị và hỏi có ai tên “Toute Nue” không.
    
Mới đầu, tôi cũng không hiểu vì sao ông phải nín cười, tôi nhìn kỹ tên chị một lần nữa và chợt vỡ “cục ngu” trong đầu, và cả tôi cũng không nhịn được cười. Ông và tôi cùng nhìn nhau rồi cả hai phá lên cười sặc sụa, cười nghiêng ngả, cười đến ra nước mắt. Cả tàu ngó hai chúng tôi, tưởng hai tên này điên vì không ai hiểu tiếng Pháp đủ để thấy được sự tai hại của ngôn ngữ, ngoại trừ ông thuyền trưởng và tôi. Thủy thủ đoàn của chiếc tàu, tất cả là người Philippines nên họ cũng đứng trân ra. Sau khi cười không nổi nữa, ông thuyền trưởng thành thật xin lỗi tất cả mọi người vì có sự hiểu lầm này và yêu cầu tôi thông dịch và chuyển lời đặc biệt xin lỗi chị Từ Tố Nữ.

Trong tiếng Pháp, chữ Toute Nue nghĩa là “hoàn toàn trần truồng”. Mọi người lại được dịp cười một trận nghiêng ngả nữa, riêng chị Từ Tố Nữ thì ngồi im một chỗ, mặt đỏ như gấc.
    
Sau 34 năm, tôi quên tên hầu hết những người chung chuyến tàu, nhưng tôi vẫn không thể nào quên được tên của chị vì câu chuyện vừa kể trên. Năm nay kỷ niệm 48 năm ngày đau thương dân tộc Việt Nam đang còn bị áp bức dưới ách cộng sản, những người liều mình vượt biên năm xưa, trong đó có tôi, ngồi nhớ lại chuyện đau buồn cũ; riêng tôi, trong nỗi đau thương, có thêm một chút buồn pha lẫn một chút cười mà chúng ta thường gọi là chuyện buồn… cười.

 

– Nguyễn Văn Tới

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Văn hóa phương Tây, rắn vừa là biểu tượng trong lĩnh vực y khoa vừa là nguồn cảm hứng trong hội họa, kiến trúc và văn học. Văn hóa Hy Lạp bắt nguồn từ vị thần cổ đại Hermes, sứ giả của các vị thần. Thần Esculape được coi là ông tổ của ngành y dược. Biểu tượng của Tổ Chức Y Tế Thế Giới WHO (World Health Organization) con rắn quấn quanh cây gậy Esculape cầm. Cục Quân Y VNCH có thêm đôi cánh trên thanh kiếm.
Hồi năm sáu tuổi tôi vẫn hay theo chúng bạn ra chơi trước đình làng Thanh Thủy. Nơi đó có mấy cây sanh cổ thụ rất lớn luôn tỏa bóng râm mát mẻ cả đoạn đường bến chạy qua làng. Bên kia con đường bến là hồ Vọng Nguyệt, một cái hồ trông như vuông vức, rộng chừng nửa mẫu tây, dân địa phương vẫn quen gọi là hồ làng...
Phải chi khách đến thăm vườn hồng hơn trăm giống quý đủ màu sắc của ông Chu hằng ngày là khách mua hoa thì chắc thu nhập của gia đình ông đỡ hơn. Ông nghèo, nhưng cái máu nghệ sĩ của ông lại mạnh mẽ hơn chuyện tiền bạc, lại gặp bà vợ hết mực chiều chồng, nên cứ nghe đâu có giống hồng lạ là bằng mọi cách phải có cho bằng được. Năm ba ký gạo đắp đổi hằng ngày đã khó, mà có những giống người ta đổi cả tấn lúa ông cũng lắc đầu.
Không nhớ từ bao giờ đã không còn ngồi xuống bàn trà, tay bốc miếng mứt hạt sen bỏ vô miệng, vị ngọt tươm ra không quá gắt như ăn miếng mứt bí, vị ngọt nhẹ, thanh, kích thích vị giác bởi hương sen quyện ngọt điệu đà, tới khi nhai cái hạt sen đã ấm ấm trong miệng nên không còn cứng cũng không quá mềm như khoai lang luộc. Độ dẻo của hạt sen khi đã sên mứt rất mê hoặc và cũng đâu có gì vội để nuốt đi cho mau, cứ ngậm mà nghe hương vị đất trời tinh khiết của hương sen xông lên khoang mũi làm cho người thưởng thức lâng lâng cảm giác xuân đã về. Có thể nói món gì có hạt sen góp mặt cũng ngon như món vịt tiềm có nhân bên trong là thịt bằm, nấm mèo, táo tàu, gia vị nhiều thứ, nhưng những hạt sen luôn khêu gợi những đôi đũa gắp vì hấp dẫn và ngon lạ miệng. Nhưng đã nhiều năm không ăn mứt hạt sen sao vẫn nhớ khá rõ hương vị độc đáo của hạt sen trong món ngọt ăn chơi ngày tết, hay món mặn ăn tiệc đều ngon.
Cậu Hà người Bắc di cư năm 1954, cậu di cư có một thân một mình khi còn trẻ, nên cậu cũng không có nhiều phương tiện được học hành nhiều. Khi lớn lên ở miền Nam, lối chừng 19, 20 tuổi khoảng năm 1965-1966, cậu từ giã học đường đăng lính, cậu đi lính Việt Nam Cộng Hòa ngành Biệt Động Quân. Sau chuyển qua Thám Báo. Cậu đóng quân như ở miền đồng ruộng, lúc bấy giờ còn loáng thoáng xa xa, ít dân cư, tiếp giáp một bên Đồng Ông Cộ, miệt Gò Vấp, Gia Định.
Chị nhớ lại, vào một buổi sáng ngày cuối tháng 1 năm 1973, khi Chị đi lấy bản tin ở bên Macv về cho AP, chị thấy sao hôm nay văn phòng đông thế. Ký giả của AP và cả của NBC News bên cạnh cũng chạy qua chạy lại, Chị nghe ông chánh văn phòng nói: Viêt Nam sắp ngưng bắn rồi, sắp hòa bình rồi…” Văn phòng Associated Press xôn xao, từ ông chánh văn phòng đến các ký giả, nhân viên của AP đều hứng khởi với cái tin “Nóng bỏng” này. Chị thấy các phóng viên của các hãng thông tấn, hãng truyền hình ngoại quốc chạy hối hả sang nhau và chạy qua cả đài phát thanh Quân Đội Việt Nam để cập nhật tin tức viết bài…
Chị đi bằng xe hàng. Là dân Đà Lạt gốc Huế nên chị gọi xe đò là “xe hàng”. Đi xe hàng, tức là xe đò, là xe chở người và cả hàng chứ không chở riêng hàng. Tiếng Việt hay như vậy đó! Đến Gò Công rồi đi xe lam vào Đồng Nguơn. Ấp Đồng Nguơn. Không phải đây là lần đầu tiên chị được thấy cảnh đồng quê. Đồng quê miền nam hầu như đâu đâu cũng giống nhau. Nhưng có đi nhiều mới thấy mỗi nơi có một chút khác. Phải thế không? Hay chính là cảm giác của chị mỗi lần một khác?
Tôi ước mơ có một ngày nào đó, khi thanh bình thật sự trở về trên nước VN, khi chính thể CS hoàn toàn tan rã, khi con người công chính trở lại làm nền tảng trong xã hội mới, chúng ta sẽ trở về, những ngưới bạn từ thời xa xưa, cùng nhau làm lại một bữa tiệc Tất Niên, mời vong linh các thầy, các bạn, các anh em đồng đội đã chết trong khói lửa chinh chiến, trong các biến cố tang thương của đất nước, trong các trại tù, trên biển…cùng nhập tiệc. Kẻ đang sống cùng người thiên cổ bên cạnh nhau hoài niệm đến một miền thùy dương ngọt ngào nhân tính, một ngôi trường thân yêu giàu truyền thống giáo dục và y đức, một thành phố mến yêu thơ mộng. Để nghe những người quá cố tâm sự về cái chết oan khiên của mình. Được như vậy, hương hồn các vị đó sẽ sớm được siêu thoát và vĩnh viễn an nghỉ chốn nghìn thu. Và chúng ta đây giảm khắc khoải đau thương…
Tôi đã có bốn cái Tết trong trại Panatnikhom và Sikiew, Thailand. Tết đầu tiên thật nhiều kỷ niệm và bất ngờ, vì lúc đó chúng tôi vừa nhập trại trong khi còn hơn một tuần nữa là Tết. Tôi và ba cô bạn đi chung chưa kịp gửi thư cho thân nhân ở nước ngoài để ca bài ca “xin tiền”. Ai lo bận bịu đón Tết thì lo, còn chúng tôi thì lo đi mượn tiền để mua vài vật dụng cần thiết như tấm trải nhựa, tre nứa, dây nilon để làm “nhà” (phải “an cư” mới “lập nghiệp” tỵ nạn được chớ).Khoảng một tuần trước Tết, có một nhóm mấy thanh niên đến thăm vì nghe nói chúng tôi là dân Gò Vấp, nên muốn nhận “đồng hương đồng khói”. Họ là những người trẻ như chúng tôi, nên câu chuyện mau chóng trở nên thân mật và rôm rả
Hỏi thăm ông Hai bán hoa lay-ơn gốc Bình Kiến, nhiều người ngơ ngác hỏi nhau. Tôi lại rảo qua thêm mấy vòng chợ hoa, cũng vừa đi tìm ông Hai, cũng vừa ngắm hoa và ngắm những chậu bonsai bày bán cuối năm, cũng tìm lại mình của gần 20 năm trước, năm nào cũng cứ vào những ngày này, tôi theo ba tôi hóng gió đón sương không hề chợp mắt cùng gian hàng cây kiểng rất bề thế của ba ở đây.
Có lẽ những rộn ràng, hân hoan nhất trong năm không phải là "ba ngày tết", mà là những ngày cận tết. Bắt đầu vào ngày 23 tháng chạp, tối đưa ông Táo về trời. Tất cả mọi sinh hoạt đều hướng về việc chuẩn bị để đón một mùa xuân mới, chào đón nguyên đán và mấy ngày xuân trước mặt. Lúc nhỏ là mùi vải thơm của bộ đồ mới, mùi gạo nếp ngâm cho nồi bánh và hương thơm ngào ngạt cho sàng phơi mứt dừa, mứt bí, mứt gừng ngoài sân. Những đêm ngủ gà ngủ gật ngồi canh bên nồi bánh tét cùng với má, với gia đình xúm quanh. Mùi bếp lửa, mùi khói hương, mùi áo mới lan tỏa của tuổi thơ ngan ngát những ngày xa...
Người ta được nuôi lớn không chỉ bằng thức ăn, mà còn ở lời ru, tiếng hát, và những câu chuyện kể. Chú bé cháu của bà thích được bà ôm vác, gối đầu lên vai bà. Có khi bà mở nhạc từ chiếc nôi cho chú nghe thay cho lời hát, chiếc nôi chú bé đã nằm khi mới lọt lòng mẹ. Có khi bà hát. Bà không ru à ơi, nhưng âm điệu dân gian len vào trong từng lời hát. Chú bé mãi rồi ghiền nghe giọng hát của bà.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.