Hôm nay,  

Song Ngữ: Chẳng Phải Sướng Sao / Isn’t That So Happy?

22/04/202320:57:00(Xem: 5338)

blank

 

CHẲNG PHẢI SƯỚNG SAO

 

Tiểu Lục Thần Phong

 

Kim Thánh Thán là một văn nhân nổi tiếng vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, trong gia tài văn chương của ông có một bài tản văn nổi tiếng mà người yêu thích văn chương xưa nay đều biết. Bài ấy viết về ba mươi ba cái sướng, liệt kê những việc rất quen thuộc của đời thường, những việc thậm chí tưởng như như rất tầm thường nhưng lại bất ngờ đem đến sự vui sướng hạnh phúc. Chúng ta vì bận bịu trong cuộc mưu sinh, vì mưu cầu những cái gì cao xa, đeo đuổi những việc lớn mà quên đi cái hạnh phúc thực tại “ Bây giờ và tại đây”. Trong những việc ông liệt kê có một việc như sau:

 

“ Nhà có món đồ cổ sứt bể không sao hàn gắn được, để thì thấy tiếc nhưng bực vì chẳng đượcc việc gì, bèn giao cho nhà bếp đựng mắn muối, thế chẳng phải sướng sao?”

 

Sướng, sướng thật đấy! Nhẹ cả người, món đồ cổ tuy có quý nhưng sứt mẻ rồi, cất giữ ngày đêm lâu nay đã mệt, giờ hư hỏng nhìn thì tiếc, giữ lại chẳng được gì, mỗi lần nhìn thấy lại thêm khó chịu trong lòng. Giao quách cho nhà bếp đựng mắn muối, hóa ra món đồ sứt mẻ cũng còn hữu dụng, đã thế dứt đi cái lòng tiếc bấy lâu nay, thật sướng làm sao.

 

Sự việc là thế, có thể hiểu và lý luận  nhiều kiểu nhưng theo cái nhìn Phật học thì đây chính là sự buông xả, buông bỏ, buông xuống ( let it go, let it down). Mọi người chúng ta ai ai cũng có một món “ Đồ cổ”đeo nặng trong tâm, giữ thì chẳng được việc gì mà bỏ thì tiếc, thật sự thì không phải chỉ một món “ Đồ cổ” như ông Kim đâu. Trong tâm chúng ta có rất nhiều món “Đồ cổ sứt bể” vô dụng lắm!  Thôi thì học theo họ Kim, đem cái vật ấy giao cho nhà bếp đựng mắm muối, chẳng còn lo hay tính toán quý hay tiện, sang hay hèn, cao hay thấp mà chi! Người đời chỉ vì cái “Vật cổ” vô lý ấy mà khổ, ngày nay mình học Phật, cứ bắt chước ông Kim làm một phát thử xem sao:

 

- Mặc kệ tông môn, pháp phái, truyền thừa, đàm luận, học thuyết đúng sai… Ta cứ một việc niệm Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc kệ sự bài bác, chê bai cao thấp, không phải chánh pháp… ta cứ nhất tâm niệm Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc kê sự phân tích, chia chẻ, triết thuyết… Ta cứ hết lòng niệm Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc kệ Nam truyền, Bắc truyền, Tạng truyền… ta dốc chí niệm Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc kệ thiền, tịnh, tạng, thông, biệt, viên… ta chỉ biết niệm Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc kệ sắc với không, hữu với phi, tánh không bát nhã...Ta chỉ trụ vào câu Phật hiệu, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc kệ thanh trần hay thanh tịnh, tịnh hay uế âm… Ta chỉ niệm và nghe Phật hiệu, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc kệ cho hương phàm hay hương thánh, hương như ý hay bất như ý… Ta chỉ trụ vào danh hiệu Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc cho vị đời hay vị xuất thế, vị ngọt bùi hay vị đắng cay… Ta chỉ trụ vào câu phật hiệu, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc cho xúc chạm thân với tâm, xúc thích hay xúc bất như ý… Ta vẫn trụ vào câu Phật hiệu, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc cho pháp trần vây lấy, pháp sanh diệt diễn ra… Ta chỉ trụ vào hồng danh Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc cho tài tác oai tác quái, điều khiển người thế gian… Ta quay về niệm Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc cho sắc dục lẫy lừng, sắc mê hoặc thế gian….Ta quay vào niệm Phật, há chẳng sướn g sao?

 

- Mặc cho danh thơm ca tụng, danh xấu ố chê bai, danh cao vọng cái tôi… Ta chỉ có hồng danh Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc cho thực lôi cuốn, ăn uống làm đầu, miếng ngon đầu lưỡi…. Ta chỉ dùng miệng lưỡi niệm Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc cho thùy miên theo thói thường hay quá độ… Ta chỉ chú tâm vào Phật hiệu, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc cho đời thị phi bất tận, hắc bạch bất phân… Ta cứ một lòng trụ trong hiệu Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc cho đông tây cách biệt, bắc nam bất đồng, cao thấp tương tranh…. Ta chỉ bình đẳng trong danh hiệu Phật, há chẳng sướng sao?

 

 

Là phật tử chắc mọi người ai cũng biết đến câu kinh nổi tiếng trong Kim Cang:” Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Hàng Phật tử sơ cơ như chúng ta chưa thể, chưa làm được, thậm chí làm không nổi việc:” Ưng vô sở trụ” đâu!  Biết thì biết trên mặt văn tự, chữ nghĩa thế thôi, nhìn vào thực tế đời sống là biết ngay, hễ mất tí tiền, thua thiệt một chút vật chất là lập tức lồng lộn tranh đấu cho bằng hoặc cho hơn, ấy là tâm trụ vào vật chất chứ đâu có “ Vô sở trụ”. Hễ được khen một lời thì sướng rần rật, còn khi bị chê bai hay phê bình thì giận cành hông, tìm cách trả đũa, thanh minh, thậm chí ôm hận... rõ ràng tâm trụ vào danh chứ đâu có “ Vô sở trụ”. Sắc thì càng tệ hơn nữa, thấy sắc là bập vào ngay, tham luyến đắm đuối và không bao giờ thõa mãn, chính sắc dục và tham ái sắc dục là nhiên liệu bất tận của tái sanh luân hồi, sáu căn chấp chặt sáu trần là đầu mối của luân hồi, rõ ràng tâm trụ vào sắc chứ đâu có “ Vô sở trụ”. Ăn uống càng không phải nói nữa, phần lớn ai cũng tham ăn, muốn ăn ngon, ăn nhiều, ăn sang, ăn bổ dưỡng cho chí cường dương, chỉ vì chút ngon đầu lưỡi mà gây nên sự thống khổ và chết thảm của vạn vật muôn loài, kể cả côn trùng cũng ăn nốt. Ngủ nghỉ và chơi bời thì thế gian này hiếm có người bỏ qua được. Tóm lại cái tâm chúng ta trụ vào ngũ dục lục trần chứ làm gì có “ Vô sở trụ”. Mình là hạng sơ cơ mà nói chuyện “ Ưng vô sở trụ”thì chỉ là chót lưỡi đầu môi, là con vẹt dối người và dối cả chính mình.

 

Ngũ dục, lục trần chấp chặt, dính mắc, đắm sâu. Sáu căn chỉ thích những gì vừa ý và ghét những gì không vừa ý. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý cứ trụ vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp theo cảm tính, theo thói quen, theo tập quán chứ không hề nhận biết bản chất thật của sáu trần.

 

“Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” là việc của các bậc thượng thừa, hành giả tinh chuyên, các vị hòa thượng, cao tăng, đại đức… Hàng Phật tử sơ cơ như chúng ta thì vốn trụ ở ngũ dục lục trần, giờ học đạo, hiểu đạo thì tập tành để giảm bớt sự lệ thuộc vào ngũ dục và lục trần bằng cách rút nhè nhẹ, rút từng tí một để chuyển cái tâm mình trụ vào Phật hiệu, trụ vào hồng danh Phật. Đây là cách làm tương đối dễ dàng, nhẹ nhàng, vững vàng và an toàn. Ngày xưa trụ vào ngũ dục lục trần, giờ từng bước trụ vào câu Phật hiệu, trụ sâu hay cạn tùy thuộc vào khả năng của mỗi người. Trụ vào Phật hiệu có thể áp dụng cho tất cả mọi người,  mọi giới, thực hành được ở mọi nơi, mọi thời… thế thì niệm Phật há chẳng phải sướng sao!

 

Tiểu Lục Thần Phong

 

Ất Lăng thành, 2022

 

Source:

https://thuvienhoasen.org/a38381/chang-phai-suong-sao

 

.

---- o ----

 

 

Isn’t that so happy?

 

Author: Tiểu Lục Thần Phong

Translated by Nguyên Giác

 

 

Lời giới thiệu (Nguyên Giác): Trong bài viết này, tác giả Tiểu Lục Thần Phong kêu gọi nhất tâm niệm Phật. Đáng chú ý, trong bài viết, tác giả nhiều lần kêu gọi buông xả tất cả... Và tác giả cũng nhiều lần viết rằng chúng ta nên dùng niệm Phật để đoạn trừ ái dục từng chút một. Đặc biệt, tác giả viết rằng chúng ta nên vừa niệm Phật vừa xa lìa vạn pháp, xa lìa tất cả các tông phái Phật giáo, xa lìa cả Thiền tông và cả Tịnh độ. Như vậy, niệm Phật là một phương cách giúp hành giả vào sơ thiền. Kinh MN 64 ghi lời Đức Phật dạy rằng những ai vào sơ thiền và từ đó nhận ra vô thường trong vạn pháp sẽ đắc quả A-la-hán. Thêm nữa, kinh AN 4.123 ghi lời Đức Phật dạy rằng những ai vào sơ thiền thường trực sẽ được tái sinh vào cõi trời và sau đó sẽ đạt được Niết bàn. Khi bạn chú tâm vào một âm thanh, dù là tiếng chim kêu hay tiếng niệm Phật, không một chút gì của ba độc có thể khởi lên được. Theo cách này, niệm Phật có năng lực giải thoát. Cũng như trong Phật giáo Thái Lan, nhiều hành giả niệm chữ "Buddho." Cũng như một câu chuyện trong Thiền, một bà cụ chú tâm vào công án “Tùy tha khứ.”

 

Introduction by Nguyên Giác: In this essay, author Tiểu Lục Thần Phong calls for reciting the Buddha's name with one mind, whole heart, and full strength. Notably, in the article, the author many times calls to let go of everything... And he also writes many times that we should use recitation of the Buddha's name to get rid of craving bit by bit. Particularly, the author writes that we should chant the Buddha’s name while throwing away all things, casting away all the Buddhist sects, and dropping all the Zen and the Pure Land schools. Thus, chanting the Buddha's name is a way to help practitioners to enter the first immersion. The MN 64 Sutta records the Buddha's words that those who enter the first immersion and then realize the impermanence in all things will attain Arahantship. Moreover, the AN 4.123 Sutta records the Buddha's words that those who enter the first immersion constantly will be reborn in the heavenly world and later will attain Nirvana. When you focus on a sound, be it the chirping of a bird or the recitation of the Buddha's name, not a trace of the three poisons could arise. In this way, chanting the Buddha's name has a liberating power. Just like in Thai Buddhism, many practitioners chant the word "Buddho." Just like a story in Zen, an old lady focused on the koan “Drop all other things.”   

 

.

 

Jin Shengtan was a famous writer in the late Ming and early Qing dynasties. In his literary legacy, there is a famous prose that all lovers of literature know. That article was about thirty-three pleasures, listing the very familiar things of everyday life, the things that even seem to be very ordinary but suddenly bring joy and happiness. We are so busy in our lives. We are pursuing lofty things, pursuing great things, that we forget the real happiness of the Here and Now.

 

Among the things he listed, there was one thing like this: "The house has a broken antique that can't be repaired, so you feel sorry and angry because you can't do anything, so you give it to the kitchen to store salt and fish sauce. Isn’t that so happy?"

 

Happy, really happy! That's a relief. The antique is precious but chipped. It's been tiring to keep it for a long time. Now it's damaged. It's useless to keep it. Every time I see it, I feel more uncomfortable in my heart. Giving that chipped thing to the kitchen to store fish sauce and salt will make it useful again. That also will end my long-standing regret. Isn’t that so happy?

 

That's the way it is. It can be understood and reasoned in many ways. But from the point of view of Buddhism, this is letting go, letting go, letting go. We all have an "antique" that weighs heavily in our hearts. If we keep it, we will regret it. It's really not just one "antique" like Mr. Jin said. In our minds, there are many useless “broken antiques”! Well, then you should learn from Mr. Jin, give that thing to the kitchen to store fish sauce and salt. Thus, you no longer have to worry or figure out if it is precious or cheap, elegant or humble, high or low! So, this absurd 'antique' causes people to suffer. Today, we study Buddhism and just try to imitate Mr. Jin.

 

- Regardless of sects, lineages, discussions, and doctrines of right and wrong... we just recite the Buddha's name with one heart. Isn’t that so happy?

- Regardless of the rejection, high and low criticism, not the right Dharma... we just keep reciting Buddha's name with one heart. Isn’t that so happy?

- Regardless of the analysis, scrutiny, and philosophies... we keep reciting the Buddha's name wholeheartedly. Isn’t that so happy?

- Regardless of the Southern tradition, the Northern tradition, or the Tibetan tradition... we dedicate ourselves to reciting the Buddha's name. Isn't that happy?

- Regardless of Zen Buddhism, the Pure Land, the Tantra, or any other sects... we just recite the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the form and emptiness, of the existence and non-existence, or of the essential emptiness of wisdom... we just recite the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the sound which is pure or unpure, we just focus on the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the smell which is worldly or saintly, pleasant or unpleasant... we just focus on the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the taste which is secular or holy, sweet or bitter... we just focus on the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of whether the sensation that the body or mind feels is pleasure or displeasure... we just focus on the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of all things around us are impermanently changing, we just focus on the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the power we would have to control humanity, we just go back to reciting the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of all the beautiful that are deluding the worldly, we just go back to reciting the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the fame that praises us, or the notoriety that hurts us, we just go back to reciting the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the good food and drink that savors us, we just use our tongues to chant the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the good sleep that we would enjoy normally or excessively, we just focus on the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the endless right or wrong arguments in life, we just focus on the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the East and West distance, the North and South difference, we just focus equally on the Buddha's name. Isn't that so happy?

 

As a Buddhist, everyone would know the famous verse in the Kim Cang Sutra: "When your mind does not cling to anything, the Nirvana mind will arise." Beginner Buddhists like us can not and have not the ability to fulfill the advice "Do not cling to anything." We understand the practice just in terms of words, not in the reality of life. When we lose money or a few material things, we get angry and try to earn back or even more; hence, we still cling to worldly things and still can not "cling to nothing."

Whenever we receive a word of praise, we feel very happy, and whenever we are criticized, we get angry, seek revenge, justify, or even hold a grudge. This shows we still cling to fame, unable to cling to nothing.

Beauty is the bigger pitfall. Seeing beautiful people, most of us would feel attached, infatuated, and never satisfied. Nevertheless, the desire for beauty and lust is the fuel for endless reincarnation. The six senses that cling to the six sense-objects are the source of samsara: in this way, we cling to the forms, and cannot follow the advice "Cling to nothing."

Food is also a danger. Most of us are gluttonous. We want to eat well, eat a lot, eat luxuriously, and eat nutritiously despite the deliciousness on the tips of our tongues causing suffering and tragic death of living things. We also eat insects.

Sleeping, resting, and playing are activities that trap most of us. In short, we cling to the five pleasures and six sense objects, and feel it's hard to cling to nothing. Most of us are beginner Buddhists, and see the advice of "Have the mind of clinging to nothing" is just impractical words. If we just repeat that motto like macaws, we would become liars, telling lies to others and to ourselves.

 

Grasping the five kinds of pleasures and the six sense objects, we dive deep into the ocean of samsara. The six senses only like what is pleasing and hate what is not. The eyes, ears, nose, tongue, body, and mind dwell on form, sound, smell, taste, touch, and dharmas according to sensations, and habits, but do not perceive the true nature of the six sense objects.

 

"Having the mind that clings to nothing" is the work of the superior persons, the professional practitioners, and the high-ranking monastics. Surrounded by the five kinds of pleasures and the six sense objects, beginner Buddhists like us who understand and practice the Dharma should gradually seclude from sensual pleasures and gently seclude from unwholesome states by focusing on the Buddha's name. This is a relatively easy, gentle, stable, and safe way to do it.

 

 

In the past, we dwelled on the five kinds of pleasures and the six sense objects. Now we step by step focus on the Buddha's name, deep or shallow depending on each person's ability. Focusing on the Buddha's name can be practiced by all people or all levels, at any time or any place. So, just chant the Buddha's name. Isn't that so happy?

 

Tiểu Lục Thần Phong

Atlanta City, 2022

.

Source:

https://thuvienhoasen.org/a38381/chang-phai-suong-sao   

 

.

.

.

 

 

.

+

 

 

 

 

 

.

 



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Lẽ ra nàng cũng muốn yên thân sau khi đất nước thống nhất một mối. Nhưng số cô truân chuyên, năm 76 đậu vào ĐHSP ban Anh Văn, học chỉ được nửa năm thì nhận được tờ quyết định cho nghỉ học vì lý lịch bằng giấy pelure xanh mỏng tanh mà thay đổi một phận người. Cô không bỏ cuộc, về lại địa phương miệt mài đi lao động rồi sang năm thi lại CĐSP AV, xong hai năm học nàng cũng không được bổ nhiệm vì lý lịch. Biết không còn đất dung thân trên chính quê hương mình nên cô và các em đã mơ đến một phương trời xa.
Đây là một câu chuyện có thật, đã được nhân vật chính cho phép ghi lại và phổ biến. Hiện nay, nhân vật chính đang sống ở Mỹ, bên cạnh các con cháu thành đạt và hết lòng thương yêu Cô. Ngoài chuyện kể về con đường phấn đấu đem các con sang Mỹ của một người mẹ, câu chuyện còn ghi lại nhiều chi tiết trung thực trong bối cảnh xã hội miền Nam Việt Nam ngay sau tháng Tư, 1975, cũng như tấm lòng của người dân miền Nam đối với nhau trong gian đoạn vô cùng đen tối đó.
Kỷ niệm đầu tiên của tôi liên quan đến nhà văn Mai Thảo. Những ngày mới di cư vào Nam, gia đình tôi cư ngụ tại con hẻm gần nhà thờ Huyện Sĩ. Hai đầu con hẻm nối với hai đường lớn, là đường Võ Tánh và Ngô Tùng Châu. Một anh bạn thân đã chỉ cho tôi một người có bóng dáng rất văn nhân, đó là Mai Thảo. Ông ta thường xuất hiện trong những buổi sáng ở đầu hẻm trên con đường có nhà in mà tôi được biết là ông đang chăm lo cho ra đời tác phẩm đầu tay của ông, đó là cuốn “Đêm Giã Từ Hà Nội”. Tôi đã phải lấy tiền để dành nhỏ nhoi ra mua và nghĩ rằng nó sẽ là một kỷ niệm để đời cho mình. Tôi đọc truyện ngắn “Đêm Giã Từ Hà nội” nhiều lần, và đến nay vẫn còn nhớ mang máng câu “Tôi nhìn xuống nước sông Hồng đục ngầu như máu mà Hà nội đang ở dưới đó…”. Tôi cũng rời Hà nội như ông, cũng ngồi trong một chiếc xe vận tải lớn chở những người di cư qua cầu Long Biên trong buổi tối nửa đêm về sáng sang phi trường Gia Lâm để đáp máy bay vào Saigon.
Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975 đã có nhiều mảnh đời tang thương. Trong số đó có cô bạn thân của tôi. Thu Nguyệt là một cô gái có khiếu thơ văn. 13 tuổi đã có nhiều bài đăng trên Nguyệt san Thiếu Nhi với bút hiệu Tê Hát Nguyệt Thi. Bạn khiến cả lớp chúng tôi ngưỡng mộ. Ngày đất nước im tiếng súng, gia đình bạn từ Trại gia binh ở phi trường Đà Nẵng phải dọn ra ngoài; sống vất vưởng nhờ cậy nhà người quen. Vì không có địa chỉ cố định, ba mẹ bạn cùng đàn con 7 đứa bị xếp vào gia đình phải đi Kinh Tế Mới đợt đầu tiên của thành phố Đà Nẵng. Năm đó tôi đang học lớp 12.
Câu truyện mà tôi kể dưới đây diễn ra trên toàn miền Bắc Việt Nam từ khoảng năm 1965 tới 1972. Trong bẩy năm trời đó, hàng triệu người tham gia vào câu truyện này và là nhân chứng, vậy mà cho tới nay không một báo chí, một truyện ngắn, truyện dài nào nói đến “sự kiện lịch sử” này. Điều này làm cho tôi cứ băn khoăn suy nghĩ trong nhiều năm trời: Tại sao có những sự việc phi lý đến như vậy mà lại có hàng triệu người vui vẻ tuân theo; cho tới bây giờ đang thời kỳ “mở cửa”, tiếp xúc với “Thế giới văn minh” bên ngoài nhưng khi nghe hỏi về sự việc đó thì vẫn có rất nhiều người đồng tình với nó và cho đó là đúng, là hợp lý.
Ngày đầu khởi hành từ làng Mangkang, đoàn người vừa đi vừa lạy được hai mươi dặm, cứ mỗi bảy bước là một lạy, mọi người lạy dài xuống đất, để cả đầu, mình tay chân chạm đất. Họ lạy với tất cả tâm thành tôn kính đức Phật. Chị Zesay có bầu nhưng vẫn lạy như mọi người, cô bé Ceba mới mười hai tuổi, con gái của Tenzin cũng lạy như mọi người.
Năm 1620 xa xưa con tầu Mayflower đã chở các gia đình người Anh từ Anh Quốc vượt Đại Tây Dương đến châu Mỹ để tìm đất hứa. Ngày nay con tầu này cũng đưa chúng tôi rời khỏi VN để đi tìm một vùng đất hứa như vậy. Chúng tôi đi trong Tháng Tư nên tên tàu April Flower được khai sinh từ đó
Bằng ngôn ngữ không chủ từ, bằng câu kệ không đầu đuôi, tôi cố thuyết phục bệnh nhân rằng chết không phải là chọn lựa thích hợp, rằng đâu đó trên thế gian này vẫn còn một người yêu thương cô hơn yêu thương chính mình, rằng trong những thứ con người có được, không gì quý bằng mạng sống. Tôi nói cho một mình tôi nghe. Tôi kể chuyện mẹ tôi. Tôi kể chuyện cha tôi. Tôi kể chuyện em gái tôi. Tôi kể chuyện nửa đêm tôi quýnh quáng lại nhà người bệnh. Con mắt đứa bé đã đứng tròng, chân tay co giật từng hồi. Muộn lắm rồi. Nhưng người mẹ khóc lóc nài van. Chích cho cháu mũi thuốc hồi sinh. Hay thuốc gì cũng được. Miễn là có chích. Biết đâu cháu nó lại không chết. Mũi kim nhọn ánh lên dưới ánh đèn dầu trong đêm tăm tối. Vậy mà thằng bé lại sống, cô Thắm biết không. Bây giờ cô Thắm biết thằng bé ấy đang làm gì không. Nó học y tá. Nhà nó nghèo không vào trường y được nhưng nó nhất định làm y tá để cứu người. Cô gái vẫn nằm nghiêng quay mặt vào tường. Lạnh băng tượng gỗ. Đôi vai khẽ chuyển động như v
Lão Honda Accord đã quá già, hơn hai trăm ngàn dặm rồi chứ ít sao. Lão đã gắn bó với cậu chủ mười mấy năm nay. Ngày mới về với cậu chủ, lão còn mới toanh, cậu chủ cưng như trứng hứng như hoa, một tí trầy xước trên thân lão cũng đủ làm cậu chủ đau lòng, mỗi tuần cậu chủ tắm rửa đánh bóng lão… Ấy vậy mà giờ cậu chủ chẳng ngó ngàng gì đến lão nữa, lão già và trở nên xấu xí, đôi khi còn giở chứng nữa.
Bất cứ ai sống trên đời, không nhiều thì ít, đều có những kỷ niệm đặc biệt vui buồn in sâu trong tâm trí. Một trong những kỷ niệm này cũng là khi mình từng được lãnh nhận những món quà xem như những kỷ vật tinh thần vô giá được lưu trữ từ đời này đến đời nọ cho con cháu sau này.
Tiếng chuông chùa đòng vọng, vang xa trong không gian buốt lạnh của một chiều cuối Đông khiến quang cảnh quanh chùa trông thật tịch liêu. Mặt trời nghiêng về phía quê xưa. Những tia nắng mong manh nhẹ nhàng ve vuốt từng phiến đá gầy trước sân chùa.
Đăng lại nhớ chuyện con chó bơi qua sông trong một truyện ngắn của sư Giới Đức. Con chó ở chùa nghe chuông, ăn cơm chay, quanh năm quấn quýt với thầy. Một hôm kia nó nghe mùi thịt nướng bên kia sông nên bơi qua bên ấy, bơi đến giữa giòng thì nghe tiếng sư phụ gọi nên bơi quay về, gần tới bờ thì lại thèm mùi thịt nướng nên lại bơi ngược qua sông, cứ như thế nó bơi qua bơi lại đến khi kiệt sức thì chết đuối giữa giòng.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.