Hôm nay,  

Tuổi già

04/05/202322:06:00(Xem: 3899)
Tùy bút

daonhu
Ảnh tác giả.

 

(Gửi ông bạn già Phạm Hữu Đạo)

 

Nhiều lúc nghĩ cũng lạ, cái ý nghĩ về tuổi già cứ đeo đẳng mãi trong trí mình không sao quên nó đi được. Nghĩ cũng tại mình. Tuổi tác là vấn đề thuộc thời gian. Sống lâu lên lão làng.  Đó là tự nhiên. Mỗi tuổi đều có những khó khăn riêng, cũng như những bịnh tật. Bà nhà tôi thường bảo nhỏ: hơi đâu mà ông để ý đến chuyên tuổi tác, già nua. Sống khỏe mạnh qua ngày nào mừng ngày đó. Gần 90 rồi mà còn được thấy các con cháu mạnh khỏe, ăn học nên người, xây dựng gia đình, là mừng rồi. Thế là mình được an ủi quá rồi. Hơi đâu mà ông lo chuyện bao đồng, văn chương, chữ nghĩa, thi phú, chính trị, chính em... Các bà ai cũng vậy, thương chồng, muốn chồng được nghỉ ngơi vui sống với tháng ngày còn lại. Nghĩ mà thương các bà. Nhưng biết làm sao bây giờ. Cứ đến 9, 10 giờ tối là buồn ngủ đến híp cả mắt, nhưng ngủ đến nửa khuya thường thức giấc đến hai ba bận. Những lúc đó làm sao cầm lòng cho được. Cứ mỗi lần thức giấc là nhớ đến những chặng đường xưa, bạn bè xưa. những năm tháng chiến tranh khói lửa. Quê nhà thì xa vời vợi. Còn đâu ngày trở về. Già quá rồi! Không biết làm gì để lấp đầy quãng đường còn lại.
     Người xưa thường bảo vợ chồng là duyên nợ. Có lẽ ý tưởng đó đến từ kinh nghiệm sống hơn là tư duy, triết lý. Hai vợ chồng sống với nhau không có nghĩa là ở chung mà là sống chung với nhau với đầy đủ ý nghĩa yêu thương, trách nhiệm đùm bọc lẫn nhau.  Thường là các bà sống lâu và khỏe hơn chồng. Giúp đỡ chồng trong tuổi già. Bà nhà tôi chăm sóc tôi từng bữa ăn, từng giấc ngủ, từng viên thuốc. Về già các bà thường phải chấp nhận những nụ hôn của ông chồng già đầy mũi dãi. Nhưng sau cái hôn ướt át đó (theo nghĩa đen của nó) các cụ không quên xin lỗi vợ làm cho các bà cảm động. Ôi trái tim của các bà thật độ lượng chẳng những cho con cháu mà cả cho chồng lúc về già.  
     Ở đâu cũng vậy, bất cứ xóm làng nào, tỉnh thành nào, Tàu, Tây, Nhật, Mỹ... bà góa bao giờ cũng nhiều hơn đàn ông góa vợ. Các ông thường tái hôn nhiều hơn các bà. Phải chăng đàn ông thường yêu cuồng nhưng cũng quên vội? Những chuyện tréo cẳng ngỗng như vậy, người đời vẫn coi đó là bình thường. Phải chăng vợ chồng già phải biết nâng đỡ cho nhau, lỡ khi tối lửa tắt đèn...
     Mới hôm nào, đến 10 giờ tối thấy bà nhà tôi vẫn còn đọc sách, tôi đến khép cái mành mành kín lại. Bà hỏi, ông làm gì vậy? Tôi cười, em không thấy trăng đang nhìn trộm em sao? Bà nheo mắt nhìn tôi. Đôi mắt bà vẫn còn có đuôi…

Đào Như

(May 3-2023)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi yêu tiếng Việt từ thuở bé tí ti. Bập bẹ tập đọc trong lớp mẫu giáo của thầy Thống ở Quảng Ngãi, i u ư, o, ô, ơ, a ă â, e ê y, tôi đã cảm thấy những vần, những chữ hấp dẫn hơn nhảy cò cò, chơi ô quan...
Bóng tối mịt mùng bao phủ không gian, bên trong căn phòng lung linh ánh sáng từ ngọn nến tỏa ra, cái viền vàng hình lưỡi mác bọc lấy tim nến đỏ, ánh sáng phá vỡ màn đêm đen kịt ấy. Ngọn lửa nến âm thầm tỏa sáng, càng sáng bao nhiêu thì thân nến lại hao mòn bấy nhiêu. Những giọt lệ nóng hổi chảy dọc thân nến, đọng lại thành những mảng sáp hồng dưới chân...
Cứ mỗi khi nhìn trời mưa bên đây, tôi lại nhớ về mưa quê nhà, mưa trong ngõ hẻm nhà mình...
Khi chúng tôi được vô lớp học của thầy thì thầy chúng tôi đã cao tuổi rồi, lúc đó, khoảng năm 1965-1970 thầy đã trong, ngoài 60 tuổi. Với cái tuổi gọi là nhi nhĩ thuận đó, thầy tôi còn rất vui vẻ, phong độ uy nghi, đĩnh đạc và sức khỏe tốt. Tứ thời thầy mặc bộ complet đen tươm tất và tay sách cặp da đi dậy học, phía trong áo gilet, thầy cài đủ thứ bút viết, viết bic xanh, đỏ, bút máy, viết chì… để tùy nghi sử dụng và có ngay...
Bắc thang lên hỏi tận trời / Hỏi sao Cuội phải ấp cây cả đời / Cuội nghe thấy nói Cuội cười / Bởi hay nói dối nên ngồi gốc cây...
Ôi, bao nhiêu thứ vặt vãnh của cuộc sống đang về hùa nhau làm khổ thân tôi. Những ngày hạnh phúc xưa tôi nào biết cuộc đời có nhiều cái khổ như thế...
Quán đông. Ông khách nhìn quanh tìm chỗ. Tất cả mọi bàn đều có người ngồi. Chỉ riêng bàn tôi là còn dư một chỗ, bởi tôi có một mình. Người hầu bàn đi tới đi lui, ngóng cao cổ, tìm chỗ cho khách. Vẻ bối rối của anh ta gián tiếp nhắc khách ăn mau hơn để nhường chỗ cho những kẻ còn đang đói lòng. Người hầu bàn nhìn tôi, thoáng nét trông đợi. Mới gọi đĩa cơm, tôi không thể nào ăn hết trong vòng năm phút. Tôi nhìn người đàn ông. Tóc húi cua, lấm tấm những chân tóc muối tiêu. Thân thể gầy gò. Hai gò má nhô cao. Đôi mắt sáng. Vài sợi râu lún phún dưới cằm. Tôi ngước nhìn người hầu bàn và chỉ vào chiếc ghế trống trước mặt. “Nếu bác ấy muốn ngồi đây thì cứ tự nhiên. Tôi chỉ có một mình.”
Tin hoàng hậu Ma Gia đã hạ sanh con trai ở vườn Lâm Tỳ Ni bay về thành Ca Tỳ La Vệ làm cho cả hoàng tộc hớn hở vui mừng. Dân chúng trong thành cũng vui như thể đó là người của nhà mình, những đám đông dổ ra đường nhảy múa reo hò, những nhóm người tụ tập ở các đền thờ để tạ ơn thần Brahma...
Cái ổ gà ấy tôi quý lắm, bây giờ nhớ lại vẫn quý mà mơ hồ như những chú gà con mới nở, đẹp như những nắm bông gòn, tròn trịa, trắng tinh ấy vẫn còn loanh quanh luẩn quẩn xung quanh tôi, kêu chiếp chiếp...
Tôi đến thăm nghĩa trang vào lúc trời đã ngả về chiều. Nghĩa trang của dòng tộc tôi nằm sát chân núi Cà Đú, một rặng núi cuối cùng của dãy Trường Sơn, nằm về phía Bắc thị xã Phan Rang chừng 10 cây số...
Tiếng Mẹ nghe sao mà cao thượng, sao mà ý nghĩa vô cùng! Một người Mẹ luôn là một kho tàng được ẩn kín, như tất cả những điều quý báu nhất trên đời...
Mỗi khi tay tôi bị thương, hoặc bị nóng lạnh, khi tôi vuốt ve gương mặt các con hoặc người bạn đời của mình, tôi nghĩ đến Ngoại tôi...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.