Hôm nay,  

Cuộc chiến chưa tàn

25/05/202313:03:00(Xem: 3850)
Truyện

alley-in-saigon

An lớn lên bên cạnh mẹ từ tấm bé, đến khi có trí khôn hiểu biết em cũng chỉ thấy có mẹ. Em không thắc mắc dù trên khai sinh của em tên cha là vô danh. Một đôi lần hiếm hoi lúc mẹ con gần khít bên nhau, rảnh rang như đi hè, ngồi trên bãi biển, trời cao gió mát, biển mênh mông, An vô tình hỏi mẹ vô danh là gì? Mẹ trả lời là không có tên, rồi mẹ cũng giải thích thêm là, ba đi buôn bán xa, tận ngoài Bắc hay đâu đó, bên tàu bên tây, đi lâu quá là lâu rồi, cũng quên liên lạc về nhà nên phải khai như vậy, đặng con có giấy khai sinh đi học.
    Thời gian qua An học xong tiểu học, lên trung học cũng không thấy ba em về, em đã quen và không hề nhắc tới, cũng không nhớ tới cái ông vô danh đó nữa. Ngoài mẹ ra, An còn có bà ngoại và cậu mợ Ba là em má và hai em trai, con của cậu mợ. Gia đình gồm bẩy người, cũng khá đông vui.
    Căn nhà mẹ con An ở sát một bên nhà cậu mợ và ngoại, đi qua đi lại như chung một gia đình. Hai em trai, Tuấn và Tú học chung trường tiểu học với An suốt sáu năm. Lên trung học thì phải học riêng, hai em vào trường nam, còn An thi đậu vào trường nữ Gia Long. Tuy nhiên cuối tuần và ngày hè, má vẫn mướn một gia sư về dậy kèm thêm cho An và Tuấn, Tú, những môn học chính như toán, lý, hóa. Riêng Anh và Pháp văn, má An tự đích thân dậy kèm con và cháu. Bà có vốn kiến thức và ngoại ngữ rất khá An cũng chẳng biết bà học hành tới đâu, nhưng từ lúc nào đã thấy bà bươn chải đi làm viêc ở cái công sở, tư sở mang tiền về nuôi gia đình một cách vững vàng sung túc. Bà là mẫu người hoạt bát, năng động ngoài xã hội hơn là loanh quanh trong nhà. Vào những năm 1965-1970, khi thấy đồng lương kém cỏi so với giá cả sinh hoạt đời sống xã hội, bà đi học để bổ túc thêm ngoại ngữ một thời gian ở hội Việt Mỹ, rồi xin việc làm trong các cơ sở ngoại quốc. Bà thành công trong việc kiếm tiền nhất là thời gian xin được vô làm cho tòa đại sứ Hoa Kỳ ở đại lộ Thống Nhất, bà khá lanh lẹ, hỏi làm gì trong đó? Bà nói bà làm thoại chương viên điện toán các hồ sơ. Càng kiếm ra tiền, mẹ An càng bận rộn với công việc làm. Bà cũng ít khi giao tiếp bạn bè, việc nhà, kể cả áo quần, đồ gia dụng, đồ trang sức riêng, những tiện nghi vật chất thời thượng bà cũng ít quan tâm đến, gần như nhờ vả cậu mợ Ba mua sắm giùm. Kể cả đồ ăn uống đã có ngoại lo.
    Những người bên cạnh lo cho má An và An rất chu đáo, nên đi ra ngoài, lúc nào mẹ cũng tươm tất, đoan trang và lịch sự, bà khá xinh xắn. Cái gì mẹ cũng đầy đủ, tính tình mẹ khá quyết đoán và hơi lạnh lùng. Bà rất một mình, buổi sáng ra đi một mình, buổi chiều tối cũng về lại một mình. Bà không có một người bạn thân, nữ hay nam, bà lủi thủi kể từ khi đi làm sở ngoại kiều. Bà cũng không có một người bạn Mỹ nào.
    Lúc nhỏ An không để ý, nhưng khi dần dà khôn lớn lên, An thương mẹ, cho là mẹ rất chung tình với ba, nên không có lấy một ý trung nhân trong suốt một quãng thời gian dài, nhưng không thấy bà buồn, thản hoặc, nhìn mưa rơi bà thở dài kín đáo rất nhè nhẹ. Vậy thôi, rồi lại lo vào công việc lo kiếm tiền. Chẳng vậy mà má An mua được ba bốn căn nhà giáp liền với khu nhà của ngoại vẫn ở từ đời nào.
    An không có ba ở bên, nhưng ăn học không hề thiếu thốn, phải nói là đầy đủ đến có phần vương giả, thầy, sách, vở, áo quần phủ phê. Xe nhà trường đến tận cửa đưa rước hàng ngày. Gia đình An sống cứ yên bình như thế hàng bao năm ở đường Trương Minh Giảng, nhìn lên phía trước là cầu, xế bên là đường Trương Tấn Bửu. Nhưng rồi những năm 1965-1970 Saigon rộn ràng chao đảo nhiều hơn những tin chiến sự, cộng quân liên kết với mặt trận phía nam áp lực ngày càng nặng. Việt Cộng pháo kích bừa bãi vào các trường học ở các tỉnh và pháo kích luôn cả vô thành phố Saigon. Nhà An phải làm hầm. Ngay tại thủ đô, các thế lực tôn giáo, giới sinh viên học sinh, các đảng phái chống chính phủ, rồi những tư tưởng phản chiến bị Việt Cộng trà trộn cũng lan tràn khó kiểm soát, Saigon những năm cuối của tự do đầy hỗn độn đầy chao đảo, vừa bị tấn công vừa bị lợi dụng. Tội nghiệp Saigon.
    Gần đến tháng 3, tháng 4 năm 1975, nói chung là sau hòa đàm Paris, nhiều gia đình có bề thế có tiền của đã rục rịch di cư ra ngoại quốc. An thấy mẹ, ngoại và cậu mợ ba bàn soạn với nhau nên đi đâu, đi thế nào, sang Singapore hay sang Mỹ. Mẹ cô có chút thế lực ở sở và có tiền, nên từ đầu năm 1975 cả đại gia đình đã có đủ giấy tờ xuất cảnh. Dự trù là họ sẽ lên máy bay vào cuối tháng hai. Nhưng phút chót ấy, mẹ An tiễn gia đình đi trước. Mẹ tình nguyện ở lại đi chuyến cuối, sẽ đi cùng sở làm. Mẹ có hỏi ý An muốn đi với cả nhà hay ưng ở lại chờ mẹ. Dĩ nhiên là cô quyết định ở lại, để được sẽ đi với mẹ. Vì cái quyết định không ngờ này mà An gặp lại ba.
    Tại sao mẹ không giải thích trước thì có trời mà hiểu. Chỉ biết ngày 10-5-1975 bà mừng rỡ đón chồng gõ cửa rồi vào nhà. Em vẫn chờ anh. An cảm động được biết ông là ba cô, nhìn vội trong tấm kiếng lớn trong phòng khách, An thấy mình giống cha khá đậm nét, khuôn mặt trái xoan hơi vuông, cặp lông mày khá dài.
    Hai tuần lễ đầu tiên, nhà ba mẹ thật vui. Mẹ không đi làm và có thì giờ ở nhà lo toan, thăm hỏi ba, cả hai người đã kể cho nhau nghe nhiều điều và đã nói với nhau khá nhiều bà dặn ông sáng sáng có lên cơ quan, thì về ăn cơm chiều. Họ cũng có lúc thì thầm nhắc lại kỷ niệm cũ xưa rồi dắt nhau đi mua sắm cho ông. Bà mua cho ông khá nhiều, đồng hồ tự động, bút máy hiệu Parker, kiếng lão, kiếng râm là những thứ cần thiết. Bà cũng may cho ông một mớ áo quần mới, mà ông rụt rè không dám mặc ngay. Ông nói sợ các đồng chí ở cơ quan cười ông là bị hủ hóa, mất lập trường. Chữ hủ hóa, và chữ mất lập trường, ông lặp đi lặp lại hai ba lần, sau cùng bà như nổi cáu, bà bảo: “Thôi sợ hủ hóa sợ mất lập trường… thì cứ lấy mấy cái áo quần cũ me cũ mét ấy ra mà bận!” Đúng như An đã nhận xét về mẹ, mẹ cô cho là tư tưởng, ý nghĩ trong đầu mới là quan trọng, chứ cái vỏ ngoài bề mặt thì không kể, nhưng ông chồng mới về, lại cho là cái bề ngoài nó thể hiện cái chiều sâu méo xẹo “ngụy quân ngụy quyền” bên trong. Hai người cố né, mỗi người né về phía cực đoan của mình, vậy mà cũng có lúc đụng chạm. Má hỏi ba:
    “Méo xẹo ngụy quân ngụy quyền là cái gì ông nói rõ tôi coi”.
    “Thì đi theo Mỹ đó!”
    “Ý cha, vậy phe ông Bắc kỳ đi theo Tầu, theo Nga bộ hay ho hơn tụi tôi sao?”
    Ba An làm hòa, nói ở ngoài kia, họ dùng xe đạp đi khắp nơi, tiện lợi, không phải mua xăng dầu và thành phố không ô nhiễm, không ồn ào náo động. Mẹ bảo là, toàn là thành phố đều đi xe đạp, lạ nhỉ, mẹ không thể tưởng tượng ra một thành phố ai ai cũng đạp xe. Rồi bà nói thêm, theo ý bà phải có đủ loại xe, xe máy, xe hơi, xe Honda, mới đẹp. Đi xe đạp, đạp lâu quá, mất thì giờ, mẹ không chịu được.
    Rồi ở bên nhau lâu ngày hơn, nửa tháng, một tháng… Người bên này, kẻ bên kia, cả hai cùng có ấn tượng mạnh trong đầu, nói nhiều về quan điểm riêng tư, có lúc đụng độ đến bất hòa. Mẹ An cho là bà bị đàn áp chứ bà có thua ai bao giờ, ba An cho là bà có nhiều lấn cấn trong tư tưởng mà ông phải giải thích! Nhưng bà không theo. Có lúc họ cũng tương đắc, vì chiến tranh lâu quá, giờ cần tái lập lại hòa bình, nhưng hòa bình hiểu như đem tất cả dâng biếu cho nhà nước là má của An không đồng ý, bà lặp lại nhiều lần và rất nhiều lúc với ông chồng là, nhà cửa, cơ ngơi này, bà cong lưng làm việc gần 20 năm mới tạo ra, chứ có ai cho không bà một viên gạch nào đâu? Bắt đầu những mâu thuẫn bực mình.
    Ấy tại vì ở bên nhau lâu, lâu ngày, thành sinh ra bất hòa, đấu khẩu, cứ kể mà họ ít gặp nhau lại hay hơn. An nghĩ là nếu đừng bao giờ gặp lại khỏi mất công cãi lộn. Có lần họ đứng bên nhau uống trà trong hiên nhà, tưởng là tương đắc lắm, nhưng tự nhiên ông bà lại đưa ra nhận xét riêng tư:
    “Nhà này rộng rãi quá, có hai mẹ con, cộng thêm bà ngoại và cậu mợ Ba ở, thì phí quá, như ngoài đó, cả mười gia đình ở được đấy!”
    “Nhà ai nấy ở chớ! Ở chung vậy sao tiện? Vả lại em thích mai này, nếu con gái có gia đình khi cần về đây ở luôn… Mẹ con quầy quần”.
    “Ờ, tư sản là vậy, anh nói vậy thôi…”
    Áo quần bà sắm cho ông khá bộn, ông không ưng mặc ngay, mà ông có ý mang theo ít bộ, bà cũng đồng ý, ba cái lẻ tẻ, bà không quan tâm, vì có đáng gì đâu. Nhưng rồi một lần khác quan trọng hơn là lúc hai người đang đứng trong khuôn viên cửa trước, trồng đầy bông hồng đủ màu, đang đua nở, gió đưa hương thơm ngào ngạt, bà cứ nghĩ là ông đang thưởng ngoạn, nhưng mà bất ngờ, ông đưa ra một nhận xét rất cộng sản:
    “Cứ ba cái luống đất trồng cây trồng bông hoa này, mà để trồng bắp hay khoai, thì ăn mệt không hết. Bông bắp lên cũng đẹp mà lại có ăn, kể có lúc khỏi đi mua lương thực!”
    “Bộ ông không thấy bông hoa tươi đẹp sao? Lúc nào cũng nghĩ tới chuyện ăn. Chán quá!”
    “Mà rồi em coi, bây giờ em không còn đi làm sở này sở nọ, ở nhà phải trồng tỉa thôi, củ để ăn, rau nhợ ta nuôi heo”.
    “Ô, heo, ông thích nuôi thì ông nuôi. Khoai lang, bắp, khoai mì, ông muốn trồng ông trồng. Ba thứ đó, ghê quá, dơ hầy, tôi không có kham nổi. Ông điên hả?”
    “Đồng chí Liên, đồng chí ấy làm được tất đấy! Hay ta cho đồng chí Liên một góc nhà và một góc vườn, đồng chí ấy sẽ sản xuất”.
    “Đồng chí Liên là ai mà ông đòi cho một góc nhà này?” Má trợn tròn hai mắt.
    “À, đồng chí ấy công tác ở chung cơ quan kiểm tra văn hóa và sách giáo khoa với tôi. Họ mới vô, chưa xin được chỗ ở riêng”.
    “Không được, ông điên nặng lắm rồi, nhà tôi, tôi ở một mình, không thể cho ai vô ở chung”.
    “Mình cũng không thể giữ được cho một mình nhà này đâu”.
    Ba còn nhỏ nhẹ giảng, khuyên nhủ theo kinh nghiệm riêng tư mới mang theo vô Nam, nhưng má của An, bà chán nản, bực bội và thất vọng, thêm nghi ngờ tràn ngập. Bà nhắc lại với An, lúc ông đã đi khỏi, bà kể lể với con gái, giọng điệu đầy uất ức:
    “Ổng khoe đồng chí Liên của ổng sản xuất được ngay, cô ta đa năng đa hiệu, ối, tụi nó toàn hết thẩy là đồ ăn cướp. Có mà đa bặm đa trợn thì có”.
    Ít bữa sau, vào tháng bẩy, bà đề nghị với ông Ba là ông lên cơ quan ở đỡ vài ba tuần lễ, vì má bận công chuyện, phải về Long Xuyên khui hụi góp hụi lần cuối. Má hứa hão là góp được hụi bà về lại nhà ngay. Ba thu xếp đi rồi, má khóa trái cửa nhà và cửa cổng vườn trước, hai mẹ con theo cửa sau nhỏ hẹp ra vô kín đáo. Việc đầu tiên là bà khóc, khóc đã nư, bà đề nghị An lên cơ quan, đường Bà Huyện Thanh Quan của ba, gặp ba đòi nợ giùm má.
 
***
 
    “Ba à, ba cho má xin lại đồng hồ, radio và bút máy đi, má nói má cần xài”.
    “Ủa, sao lạ lùng vậy? Cho rồi giờ đòi lại là sao?”
    “Đúng vậy, má xin lại tất cả đồ… cả áo quần mà má đã mua sắm cho ba”.
    “Rồi ba lấy gì ba dùng?”
    “Thì hồi xưa ba dùng những cái gì, thì nay ba lại xài cái đó”.
    “Thiệt là mấy tuần trước, ba có cái gì đâu, có mà toàn đồ hư cũ không à, khi má con sắm cho lô đồ mới, thì ba đã liệng bỏ đồ cũ đi rồi còn đâu”.
    “Con cũng không biết tính sao, mà má nói ba phải trả đồ lại cho má, má đã nói chắc như vậy”.
    “Trời, vậy con không thương ba sao?”
    “Ơ mà, dễ mà, đồ trên người ba, ba tháo ra trả cho má, không thôi bà lên giằng co kỳ lắm. Má con từ hồi nào, bà chắc chắn lắm, ba à”.
    “Tại sao khi không lại đòi?”
    “Tự là má về quê, rồi bị bệnh, má cần tiền uống thuốc hay đi bác sĩ”.
    “Con có tiền riêng không?”
    “Con không có một xu, bị là từ hồi nào tới giờ, má lo mua bán tất cả. Thôi ba, thương con, thì ba trả đồ cho má con đi! Không thôi, mất công má bắt con đi tới đi lui theo ba hoài để đòi, mệt quá!”
    An phải đi đòi nợ cho mẹ như thế tới đâu năm, bẩy lần. Nhưng ba cô có đời nào trả lại. Ông cứ khất lần, khất lần, tuần sau, rồi tuần sau, tuần sau nữa. Má khuyên An cứ kiên nhẫn theo tìm ông mà đòi nợ, để cho ông né tránh và đừng tìm cách trở về nhà của má An. Cứ nói với ba là má còn đau dưới quê, chưa lên Saïgon lại. Như vậy má sẽ có rộng thì giờ, đi tìm đường tìm nẻo, mà mẹ và con ra đi thoát, theo ngoại và cậu mợ ba. Má An rất hối hận đã ở lại, trong danh sách ra đi di tản sau cùng của sở, ai cũng ngạc nhiên tại sao tên của bà lại bị bôi đen, xóa đi.
    Đúng thế, má ân hận đã quyết định sai lầm, đã ở lại chờ đợi một người chồng kỳ quặc, không thể nào giải thích được. Một người chồng cộng sản. Nhưng bà không còn tâm trí nào để khóc lóc như đã khóc mấy bữa đầu. An ôm mẹ và chỉ nghe mẹ lặp đi lặp lại nhiều lần trong bóng tối: “Ba con hết xài được rồi. Ổng chết rồi.”
    Rồi bốn tuần lễ sau, mẹ đã lo xong công chuyện, mẹ để lại giấy tờ nhà cửa, mẹ lo luôn hộ khẩu cho một người bà con từ miền Trung chạy giạt vô Nam. Lần chót, để tránh gặp mặt ba, mẹ lại sai An lên đòi nợ, như để cho cha con vĩnh biệt từ giã. Vẫn giọng điệu ỉ ôi năn nỉ cũ:  “Ba ơi, ba có thương con thì ba trả lại đồ cho má con đi.” Nói xong, An để nhẹ vào tay ba một tờ giấy 100 đồng tiền mới rồi nhẹ nhàng đi thoát ra cửa cantine. Ba của An ngạc nhiên, vừa đứng lên đi tới vài bước chân, thì con bé đã khuất bóng sau bờ tường, bờ tường đường Bà Huyện Thanh Quan, bên đối diện vẫn là trường nữ trung học Gia Long, trường đang reng chuông báo hiệu giờ ra chơi… ra chơi…

 

– Chúc Thanh

(Paris, mai 2023)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm đó, tôi qua Arlington,Texas thăm gia đình, rồi ghé Dallas thăm người hàng xóm cũ thân thiết từ khi còn ở Việt Nam . Chú Thím ấy đónvợ chồng tôi nồng hậu như mọi khi, bữa ăn đặc sản món Huế như tôi yêu cầu, sau đó kéo nhau ra phòng khách ăn bánh uống trà . Rồi Thím gọi cháu ngoại: - Thiên Ân ơi, ra đây ca hát cho hai bác Canada nghe đi con.-Cô bé hai, ba tuổi tung tăng ngoan ngoãn khoanh tay chào chúng tôi, rồi bạo dạn chạy ra giữa phòng, tay giả bộ cầm micro phone, rồi nhún nhảy tự nhiên hát một bài hát Tiếng Việt thật rõ ràng .
Ngày xưa rất xa xưa, ở vùng quê thôn dã, người dân sống giản dị, đơn sơ, mộc mạc; người ta trồng tỉa những vườn rau cải, vườn ngô, vườn cà… lấy hoa lợi để sống. Thường thường có chim chóc kiếm ăn đến phá phách, dãi dãi, mổ mổ những hạt mới ươm trồng hay những nụ hoa mới ra, chúng ăn, với con người trồng tỉa lấy hoa lợi là chúng nghịch ngợm và phá hoại, ăn khín. Mới đầu chúng đến một vài con, sau rủ nhau đến nhiều hơn, cả nhà cả đàn chim chóc… và người gia chủ trồng tỉa phải tìm cách bảo vệ hoa màu của họ, nguồn sống của họ.
Người đàn bà với tay kéo tấm bạt vải phủ hai mặt bàn thấp và lổng chổng mấy cái ghế úp lại phía trên. Buổi chiều tháng chín nhả vài vệt nắng vàng sậm trên mấy lùm cây mắm khẳng khiu mọc hoang dại bên hông. Căn nhà chia làm hai, phía trên mặt lộ làm quán lộ thiên, phần còn lại là căn nhà sàn nằm doi ra mặt bờ kinh Cụt. Mặt quán cũng được biến dạng mỗi ngày. Sáng có cà-phê, hàng xôi và thuốc lá. Buổi trưa là quán cơm bình dân cho đám khách hàng chợ Giữa, đến từ các huyện xa xôi. Tối đến, chỉ còn vỏn vẹn thùng thuốc lá bán lẻ. Tất cả sinh hoạt biến dạng dưới bàn tay của người đàn bà và đứa con gái nhỏ. Người ta nhìn thấy trong đôi mắt nâu đen của hai má con in đậm hình ảnh căn nhà chật chội, bày biện lượm thượm những ghế bàn buồn bã, lạnh lùng. Bóng dáng người đàn bà và bếp lửa áo cơm, vẫn không đủ vẽ lên khung cảnh đầm ấm của một gia đình. Đứa con gái mười bốn tuổi, giống má, lầm lũi như chiếc bóng trong nhịp đời hờ hững.
Ai cũng có những hoài niệm mang theo cả cuộc đời, hoài niệm ngày càng nhiều theo tuổi tác dâng lên, người may mắn có nhiều hoài niệm vui hơn buồn để khi chợt nhớ thấy lòng vui vui. Ai cũng có những ước mơ thầm kín để khi hoài niệm thấy mình còn là người, giả như ước mơ cho người yêu cũ có cuộc sống hạnh phúc. Điều ấy nói ra ai tin nên xếp vào ước mơ thầm kín, còn những ước mơ nói ra được chỉ là hoang tưởng nhất thời như thấy chiếc xe đẹp lướt qua, ước gì mình có chiếc xe ấy. Nhưng giả sử ngày mai trúng số, có tiền mua chiếc xe ấy thì ước mơ nói ra được hôm qua đã thay đổi thành chiếc xe mắc tiền hơn nữa và đẹp hơn nữa vì là chiếc xe của hôm nay, của người mới trúng số. Khác với ước mơ thầm kính vui buồn riêng mang coi vậy mà theo ta như hình với bóng, càng thầm kín càng bền lâu sau nỗi buồn chia xa đã gặm nhấm tâm can theo tháng ngày, nghe tin người xưa không hạnh phúc thì nỗi buồn tăng lên gấp đôi nhưng nói ra ai tin trong trời đất bao la này…
Truyện HOÀNG CHÍNH - Thứ Mùa Màng Không Có Thật
Má Chanh mất rồi, đưa vô bệnh viện bị má khó thở, rồi bà đi rất mau, đi ngay trong phòng khám. Ông nói một hơi rồi lặng lẽ khóc… khóc ấm ức, nghẹn! Cứ nhìn ông già khóc vợ nghẹn lời, mà nhớ lại nhiều lần ông còn như muốn kể lể: Cuộc tình của ba với má Chanh gián đoạn rồi kết nối nhiều lần mà không đáng buồn vì là cuối đời ba vẫn yêu quý má, má vẫn yêu thương ba như ngày đầu mới gặp…
Thật khó mà nói về mình khi bước vào tuổi 90-cái tuổi lớn nhưng không thừa, đôi khi lại thiếu- Ở tuổi 90, sức khỏe xuống cấp, lôi theo sự trì trệ thoái hóa của não bộ, trở nên bảo thủ. Đôi khi lại phấn chấn, một chút quá khích, muốn bước thêm những bước dài nữa thì bị hụt hơi. Ngày xưa hăm hở viết, cứ tưởng mình đắc thủ tư tưởng cổ kim nhiều lắm. Bây giờ ở tuổi 90 lại thích đọc, như tim về nơi trú ẩn, tự an trí mình.
Câu chuyện ngày nay kể về một chuyện ngày xưa, một ngày của thuở hồng hoang loài người; hằng triệu năm trước, khi một mảnh đất trên địa cầu, sau cơn địa chấn, tách ra và trôi dạt về phương Nam, ngày càng xa thẵm và nó trôi đến phía cực Nam của trái đất, dừng lại một nơi chốn tận cùng, rồi một biên giới được dựng lên bởi bức tường Băng Tuyết vĩnh viễn. Trên mảnh đất xa xôi, ngàn năm cô đơn ấy, một loài chim Cánh Cụt ríu rít sống bên nhau, yêu thương che chở nhau cho đến chết vì nhau.
Lúc tôi đậu thanh lọc, được chuyển từ trại “cấm” sang trại tự do, tinh thần vui vẻ, tôi không có ý định tiếp tục công việc ở post office mà muốn thử công việc mới, làm thiện nguyện 3 jobs không hề mệt mỏi . Sáng sớm dạy lớp English Vỡ Lòng cho người lớn tuổi tại trường ESL, sau đó chạy “show” qua trường Việt Ngữ dạy Tiếng Việt cho các em nhỏ, và thời gian còn lại trong ngày làm việc là dành cho Văn Phòng Cao Ủy Định Cư.
Tôi đang đổ xăng, bỗng có người thanh niên tiến đến nên tôi cảnh giác xem anh ta muốn gì? Anh ấy không có thái độ gây hấn hay gì hết, ngược lại là nụ cười xã giao dễ mến và và hành lễ khoanh tay là điều đã hiếm thấy ở giới trẻ Việt trên nước Mỹ bây giờ.
Nhân tuần lễ kỷ niệm 49 ngày Khánh Trường rời cuộc thế gian, tờ Ngôn Ngữ số đặc biệt tháng Hai dành trọn số báo tưởng niệm người họa sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà báo tài hoa Khánh Trường, do nhà thơ Luân Hoán và bạn hữu nhóm Ngôn Ngữ ưu ái thực hiện. Mời đọc bài viết của Trần Yên Hòa trích nhà phê bình văn học Thụy Khuê như một nén nhang tưởng nhớ người họa sĩ/nhà văn tài hoa.
Có thể nói cuộc đời của những du học sinh thời VNCH như tôi trải qua khá nhiều truân chuyên từ dạo ấy, sau tháng Tư đen 1975, từ khi cộng sản Bắc Việt thống trị Nam Việt Nam. Khác với quyết định đi tìm Tự Do, đi tìm sự sống trên cái chết qua hình thức vượt biên vượt biển của đồng hương sau 1975, chúng tôi may mắn hơn, đơn thuần chỉ phải chọn lựa một trong hai: về Việt Nam hay ở lại nước ngoài. Nếu quyết định về VN thì phải cúi đầu phục tùng nhóm sinh viên đoàn kết và toà đại sứ Việt Cộng. Còn ngược lại nếu quyết định ở lại nước ngoài thì phải chấp nhận xa quê hương, xa gia đình, bạn bè anh em và không biết khi nào mới gặp lại!


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.