Hôm nay,  

Sử Ta, Sử Tàu

26/05/202319:48:00(Xem: 4326)
Tạp bút

old warrior

Người Việt bị người Tàu đô hộ hàng ngàn năm, các triều đại phong kiến Tàu ra sức hủy diệt văn hóa Việt, đồng hóa người Việt, sáp nhập đất Việt vào đất Tàu. Lịch sử cho thấy họ không thể làm được việc đó. Người Việt vẫn giữ được nước và bản sắc văn hóa riêng của mình, tuy nhiên bị ảnh hưởng nặng nề về văn hóa, ngôn ngữ, lịch sử, tư tưởng, thể chế chính trị…
    Ngoài chủ đích xâm lăng và đồng hóa của người Tàu ra, các triều đại phong kiến Việt cũng tôn sùng văn hóa và văn tự Tàu một cách cao độ, gắn kết chặt chẽ với những hình thức nhà nước, tư tưởng văn hóa. Sau những chiến thắng về quân sự, các triều đại phong kiến Việt vẫn cúc cung với văn hóa Tàu, xem văn hóa Tàu như là mực thước, là đỉnh cao, là tất cả, tôn lên thành đạo thánh hiền, chữ thánh hiền. Việc này kéo dài hàng ngàn năm, người Việt bị vây hãm trong cái “ngục tù văn hóa Tàu”, mãi đến khi người Pháp xâm lược và đô hộ nước ta thì mới tạm tách khỏi cái quỹ đạo văn hóa Tàu. Pháp xâm lược nước ta là một nỗi đau đớn của lịch sử, sự cai trị của người Pháp gây ra bao nhiêu thống khổ cho dân và người Việt tốn rất nhiều xương máu để đấu tranh giành độc lập. Nhưng ở một khía cạnh khác thì Pháp xâm lăng đã đưa ta thoát khỏi nạn “bóng đè” của văn hóa Tàu, từ đó tiếp cận với văn minh phương tây từ văn hóa, kỹ thuật, kinh tế, nghệ thuật, tư tưởng… (Ta tiếp cận với văn minh phương tây không phải là mục đích của thực dân Pháp).
    Người Việt chúng ta bao lâu nay mê phim kiếm hiệp Tàu, phim bộ Hồng Kông, Đài Loan... biết rất nhiều những sự kiện và nhân vật lịch sử Tàu, thuộc rành rẽ nhiều chi tiết sử Tàu, trong khi ấy thì sử Việt, nhân vật sử Việt lại hoàn toàn mơ hồ. Có một giai đoạn vào khoảng thập niên tám mươi và chín mươi của thế kỷ trước, phim Tàu thống lĩnh thị trường điện ảnh Việt, càn quét từ quốc nội ra hải ngoại, nhà nhà xem phim Tàu, người người mê phim Tàu, những bộ phim như: Thần điêu đại hiệp, Tam quốc chí, Tây du ký, Tể tướng Lưu gù, Hoàn Châu cách cách, Bao Công, v.v… Những tiệm sang phim, cho mướn phim mọc lên như nấm và người xem quên cả thời gian. Người Việt thuộc sử Tàu như cháo nhuyễn, tên những nhân vật sử Tàu thành lời cửa miệng. Những giai thoại và nhân vật sử Tàu ăn sâu vào tâm trí người Việt. Ai ai cũng biết Bao Công, Khổng Minh, Tào Tháo, Lưu Bị, Càn Long, Khang Hy, Nhạc Phi... Buồn một nỗi không ai biết về sử Việt, những nhân vật lịch sử Việt cũng không ai hay, mà những nhân vật sử Việt cũng hào hùng nào có kém, ấy là chưa nói đến công lao đã giữ gìn và bồi tài cho nước Việt của chính mình. Bút giả không thích xem phim Tàu, tuy nhiên có đọc qua những tác phẩm văn học, tất  nhiên cũng thích thú với những câu chuyện lịch sử hay ví dụ như Tam quốc chí. Thế rồi một lần đọc sử Việt, bút giả tình cờ phát hiện ra sử ta cũng có một câu chuyện thật trong lịch sử, câu chuyện hay và thú vị nhưng cũng đầy bi thương. Sử Việt có một tình tiết giống hệt chuyện Khổng Minh tặng váy áo đàn bà cho Tư Mã Ý. Chuyện trong sử ta là vào năm 1377, lúc này nhà Trần đã suy yếu rệu rã lắm rồi. Nhà Trần bấy giờ có một ông vua trẻ là Duệ Tông được xem như là hy vọng có thể phục hưng được cơ nghiệp Trần triều. Duệ Tông vốn trẻ, khỏe, háo thắng và liều lĩnh. Năm ấy Duệ Tông thống lĩnh đại binh đi đánh Chiêm Thành, kéo quân vào tận kinh đô Đồ Bàn (Vijaya) của Chiêm Thành (tức Bình Định ngày nay). Thành Đồ Bàn cửa mở toang để trống, các tướng can gián bảo đây là mưu kế của quân Chiêm (kiểu như Khổng Minh chơi chiêu “không thành kế”). Tướng Đỗ Lễ ba lần can gián, Duệ Tông không nghe lời mà còn giận dữ chửi mắng tướng Đỗ Lễ hèn nhát, Duệ Tông ngạo mạn, đại ngôn kiểu mấy anh tướng Tàu: “Ta đường đường là hoàng đế, kéo quân từ ngàn dặm đến đây, quân Chiêm nghe danh ta sợ vỡ mật đã bỏ trốn hết rồi, chẳng dám đối địch với ta”. Nói xong hạ lệnh đem một bộ váy áo đàn bà ban cho Đỗ Lễ hòng làm nhục Đỗ Lễ, xem Đỗ Lễ hèn nhát, đàn bà. Duệ Tông kéo quân vào thành Đồ Bàn và hậu quả là quân Chiêm mai phục sẵn xông ra tiêu diệt gần hết quân Đại Việt, bản thân vua Duệ Tông cũng bị chém chết tại Đồ Bàn. Vua Duệ Tông là ông vua Việt duy nhất bị chết trận và chết ngoài biên giới quốc gia Đại Việt thuở ấy. Ngoài chuyện này ra còn có rất nhiều những chuyện khác rất hào hùng, bi tráng tỷ như hậu quân Võ Tánh tự thiêu, tướng Trần Quang Diệu vào thành cho tẩm liệm tử tế kẻ thù không đội trời chung và tôn trọng di thư của Võ Tánh, không làm hại một ai… Sử ta hay như thế, đẹp như thế và là sự thật chứ chẳng phải tiểu thuyết hay tô vẽ của các nhà làm phim, tiếc là đa số người mình không biết đến mà chỉ biết chuyện sử Tàu.

    Sử Việt và nhân vật sử Việt cũng hay và thú vị không kém sử Tàu, tuy nhiên chúng ta không có được những bộ phim tầm cỡ như Tam quốc chí của Tàu. Điện ảnh Việt không có khả năng làm những bộ phim sử lớn, không có kịch bản lớn, không đủ năng lực, vật lực và tài lực… Từ đó người Việt xem phim Tàu và mê sử Tàu là vậy.
    Hồi bút giả còn học ở trường đại học Tổng Hợp (tức đại học Văn khoa cũ), lúc ấy có giáo sư sử học Nguyễn Khắc Thuần (thầy của cô Hậu khảo cổ) ông là một vị giáo sư đáng kính, có tâm huyết với sử Việt. Ông có viết mục “Giai thoại Sử Việt” cho các báo, những bài viết của ông đã nêu ra nhiều nhân vật lịch sử, những sự kiện lịch sử, những nghi án sử… Việc này gây hứng thú cho nhiều người trong một thời gian, rất tiếc sau đó thì tắt lịm đi.  Văn học sử chúng ta có bộ “Hoàng Lê nhất thống chí”, đây cũng có thể tạm xem như “Tam quốc chí” của Việt nam, tuy nhiên tầm vóc và quy mô không thể tương xứng, tiếc là người Việt ít biết đến, giá mà điện ảnh có đủ khả năng thì cũng sẽ làm được phim hay như Tam quốc chí. Khoảng đầu thập niên chín mươi của thế kỷ trước, ở Sài Gòn có cha con nhà họ Huỳnh lấy bối cảnh Hoàng Lê nhât thống chí để dựng phim nhưng làm quá nhếch nhác, cẩu thả, quá tệ hại: Vua Quang Trung là anh chàng tí tởn, cỡi con ngựa gầy nhom nhỏ xíu, đại quân tây Tây Sơn chỉ một dúm diễn viên quần chúng chạy bộ theo sau và vài con ngựa nhỏ bé, thành Thăng Long chỉ là bức tường ở khu du lịch Văn Thánh, lời thoại ngây ngô không có hồn khí… phim làm như vậy thì chỉ làm hại thêm, chỉ bôi bác lịch sử chứ chẳng thể làm người ta yêu sử được.
    Sử Việt cũng hào hùng với những trận đánh dẹp quân Nguyên, phá Tống, phá Thanh… Những trận chiến oai hùng quyết liệt giữa Đại Việt và Chiêm Thành suốt hơn bảy thế kỷ, những tình sử Huyền Trân công chúa, Ngọc Hân, Ngọc Vạn hay công chúa Mỵ ê của Champa… giá mà chúng ta có nhà viết kịch bản giỏi, có những nhà làm phim tài ba và đủ năng lực thì ắt sử Việt lên phim cũng hay không kém phim Tàu, và việc ấy sẽ lôi kéo được khán giả Việt xem phim sử Việt. Tiếc là giấc mơ chẳng biết bao giờ mới có thể thành sự thật!
    Cơn sốt phim Tàu ngày trước giờ đã qua, tuy nhiên người Việt vẫn thích và xem phim Tàu, văn hóa Tàu, hàng Tàu vẫn thống trị ở đất Việt và những nơi có người Việt sinh sống. Thế hệ phim Tàu mới với những: Ngô Kinh, Tiêu Chiến, Dương Mịch, Địch Lệ Nhiệt Ba… vẫn làm cho người Việt mê. Thật chẳng biết đến bao giờ người Việt mới có được những bộ phim hấp dẫn như phim Tàu và có lẽ phải đến lúc ấy thì người Việt mới yêu thích phim Việt, sử Việt.
 

– Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 0523)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chị nhớ lại, vào một buổi sáng ngày cuối tháng 1 năm 1973, khi Chị đi lấy bản tin ở bên Macv về cho AP, chị thấy sao hôm nay văn phòng đông thế. Ký giả của AP và cả của NBC News bên cạnh cũng chạy qua chạy lại, Chị nghe ông chánh văn phòng nói: Viêt Nam sắp ngưng bắn rồi, sắp hòa bình rồi…” Văn phòng Associated Press xôn xao, từ ông chánh văn phòng đến các ký giả, nhân viên của AP đều hứng khởi với cái tin “Nóng bỏng” này. Chị thấy các phóng viên của các hãng thông tấn, hãng truyền hình ngoại quốc chạy hối hả sang nhau và chạy qua cả đài phát thanh Quân Đội Việt Nam để cập nhật tin tức viết bài…
Chị đi bằng xe hàng. Là dân Đà Lạt gốc Huế nên chị gọi xe đò là “xe hàng”. Đi xe hàng, tức là xe đò, là xe chở người và cả hàng chứ không chở riêng hàng. Tiếng Việt hay như vậy đó! Đến Gò Công rồi đi xe lam vào Đồng Nguơn. Ấp Đồng Nguơn. Không phải đây là lần đầu tiên chị được thấy cảnh đồng quê. Đồng quê miền nam hầu như đâu đâu cũng giống nhau. Nhưng có đi nhiều mới thấy mỗi nơi có một chút khác. Phải thế không? Hay chính là cảm giác của chị mỗi lần một khác?
Tôi ước mơ có một ngày nào đó, khi thanh bình thật sự trở về trên nước VN, khi chính thể CS hoàn toàn tan rã, khi con người công chính trở lại làm nền tảng trong xã hội mới, chúng ta sẽ trở về, những ngưới bạn từ thời xa xưa, cùng nhau làm lại một bữa tiệc Tất Niên, mời vong linh các thầy, các bạn, các anh em đồng đội đã chết trong khói lửa chinh chiến, trong các biến cố tang thương của đất nước, trong các trại tù, trên biển…cùng nhập tiệc. Kẻ đang sống cùng người thiên cổ bên cạnh nhau hoài niệm đến một miền thùy dương ngọt ngào nhân tính, một ngôi trường thân yêu giàu truyền thống giáo dục và y đức, một thành phố mến yêu thơ mộng. Để nghe những người quá cố tâm sự về cái chết oan khiên của mình. Được như vậy, hương hồn các vị đó sẽ sớm được siêu thoát và vĩnh viễn an nghỉ chốn nghìn thu. Và chúng ta đây giảm khắc khoải đau thương…
Tôi đã có bốn cái Tết trong trại Panatnikhom và Sikiew, Thailand. Tết đầu tiên thật nhiều kỷ niệm và bất ngờ, vì lúc đó chúng tôi vừa nhập trại trong khi còn hơn một tuần nữa là Tết. Tôi và ba cô bạn đi chung chưa kịp gửi thư cho thân nhân ở nước ngoài để ca bài ca “xin tiền”. Ai lo bận bịu đón Tết thì lo, còn chúng tôi thì lo đi mượn tiền để mua vài vật dụng cần thiết như tấm trải nhựa, tre nứa, dây nilon để làm “nhà” (phải “an cư” mới “lập nghiệp” tỵ nạn được chớ).Khoảng một tuần trước Tết, có một nhóm mấy thanh niên đến thăm vì nghe nói chúng tôi là dân Gò Vấp, nên muốn nhận “đồng hương đồng khói”. Họ là những người trẻ như chúng tôi, nên câu chuyện mau chóng trở nên thân mật và rôm rả
Hỏi thăm ông Hai bán hoa lay-ơn gốc Bình Kiến, nhiều người ngơ ngác hỏi nhau. Tôi lại rảo qua thêm mấy vòng chợ hoa, cũng vừa đi tìm ông Hai, cũng vừa ngắm hoa và ngắm những chậu bonsai bày bán cuối năm, cũng tìm lại mình của gần 20 năm trước, năm nào cũng cứ vào những ngày này, tôi theo ba tôi hóng gió đón sương không hề chợp mắt cùng gian hàng cây kiểng rất bề thế của ba ở đây.
Có lẽ những rộn ràng, hân hoan nhất trong năm không phải là "ba ngày tết", mà là những ngày cận tết. Bắt đầu vào ngày 23 tháng chạp, tối đưa ông Táo về trời. Tất cả mọi sinh hoạt đều hướng về việc chuẩn bị để đón một mùa xuân mới, chào đón nguyên đán và mấy ngày xuân trước mặt. Lúc nhỏ là mùi vải thơm của bộ đồ mới, mùi gạo nếp ngâm cho nồi bánh và hương thơm ngào ngạt cho sàng phơi mứt dừa, mứt bí, mứt gừng ngoài sân. Những đêm ngủ gà ngủ gật ngồi canh bên nồi bánh tét cùng với má, với gia đình xúm quanh. Mùi bếp lửa, mùi khói hương, mùi áo mới lan tỏa của tuổi thơ ngan ngát những ngày xa...
Người ta được nuôi lớn không chỉ bằng thức ăn, mà còn ở lời ru, tiếng hát, và những câu chuyện kể. Chú bé cháu của bà thích được bà ôm vác, gối đầu lên vai bà. Có khi bà mở nhạc từ chiếc nôi cho chú nghe thay cho lời hát, chiếc nôi chú bé đã nằm khi mới lọt lòng mẹ. Có khi bà hát. Bà không ru à ơi, nhưng âm điệu dân gian len vào trong từng lời hát. Chú bé mãi rồi ghiền nghe giọng hát của bà.
Lóng rày tôi hay tẩn mẩn viết về những hồi tưởng tuổi thơ, nhất là những côn trùng ngày xa xưa đó như chuồn chuồn, bươm bướm, ve sầu, dế mèn…Nhiều lúc ngồi nghĩ lẩn thẩn: tại sao vậy? Chắc đó là tâm trạng của người tuổi sắp hết đếm số, tiếc nuối những khi còn cắp sách tới trường. Cắp sách tới trường không phải là chuyện vui nhưng tuổi học trò thì vui thật. Lúc nào, khi nào, chỗ nào cũng toàn thấy chuyện vui chơi. Bạn chơi là người nhưng nhiều lúc là những côn trùng quanh quẩn bên người. Một ông bạn mới gặp nhướng mắt hỏi tôi viết về những bạn chơi nhiều hơn hai chân nhưng chưa thấy nhắc tới bạn của ông ấy. Đó là bọ ngựa. Ông này thuộc loại rắn mắt. Tôi không chung tuổi thơ với ông nhưng chắc ông cũng thuộc loại phá làng phá xóm. Ông kể chuyện ăn me chua trước mấy ông lính thổi kèn trong hàng ngũ khiến mấy ông thợ kèn này chảy nước miếng thổi không được. Tôi thuộc loại hiền nên không có bạn không hiền như bọ ngựa. Ông ta thì khoái bọ ngựa.
“Mày có vợ hồi nào vậy?” chưa kịp chào, mẹ đã ném ra câu hỏi bất ngờ. Tôi lặng thinh. Cục nghẹn trong cổ họng. Tiếng mẹ đã khàn nhưng nghe vẫn quen, vẫn gần gũi, nhưng đặm chút ngạc nhiên và thấp thoáng chút phiền muộn. Hệt như lần hỏi tôi mười mấy năm trước rằng Sao con trốn học. Đường dây điện thoại chợt kêu ù ù, như thể có máy bay hay xe vận tải cơ giới hạng nặng chạy qua chỗ mẹ đứng. Cũng có thể tại tai tôi ù. Tôi cũng không chắc lắm. Giọng nói mẹ chìm vào khối tạp âm hỗn độn. Mẹ lặp lại câu hỏi trong tiếng động cơ rì rầm. Rồi tất cả im vắng bất ngờ. “Hở con?” Mẹ nói.
Bê, con trai của Mẹ, đã theo Mẹ đến giảng đường từ thuở còn trong bụng Mẹ. Suốt thời gian đại học của Mẹ, Bê có nhiều đóng góp khác nhau theo từng thời kỳ. Khi Mẹ làm bài kiểm tra môn Đầu Tư và Tài Chính trong lục cá nguyệt đầu tiên, Bê mới ba tháng tuổi. Mẹ nhẩm tính, bài thi một tiếng rưỡi, đi về từ nhà đến trường thêm một tiếng rưỡi. Như vậy, Bê phải xa Mẹ ít nhất ba tiếng đồng hồ. Mẹ biết tính Bê, mỗi hai tiếng đồng hồ Bê oe oe đòi bú sữa Mẹ. Bê xấu đói lắm, đòi mà không được, Bê nhăn nhó um sùm. Ngày hôm đó, dì Thành đến giữ Bê. Dì Thành rất hồi hộp. Dì chưa có em bé, chẳng biết phải làm sao cho đúng ý Bê. Mẹ thi xong, phóng ra xe về nhà. Mẹ bắt đầu sốt ruột. Mẹ xa Bê đã hơn ba tiếng đồng hồ. Giờ này Bê chắc Bê đã thức giấc. Hy vọng Bê chịu khó nhâm nhi món trà thảo dược cho trẻ sơ sinh trong khi chờ Mẹ về. Thời đó chưa có điện thoại di động. Bởi vậy, có lo cũng để bụng, chứ Mẹ chẳng biết làm sao. Mẹ ba chân bốn cẳng chạy ba tầng lầu. Vừa đến cửa đã nghe tiếng Bê khóc ngằn ngặt.
Khi chơi những bản nhạc hay, Khang khóc theo giai điệu. Mước mắt chảy, tay kéo tình xuống lên, thân hình diệu dẻo theo cảm hứng. gần như mê cuồng, không biết mình là ai. Tôi cảm nhận được cái hay xuất thần nhưng không hiểu. Khang nói: -- “Cậu Út biết không, cái hay của âm nhạc làm cho lòng sung sướng nhưng cái đẹp của âm nhạc làm cho hồn cảm động. Khi món quà quá lớn, quá sức yêu, không thể cười, chỉ có thể khóc.” Tôi nghĩ, những lúc như vậy, Khang không chơi đàn, mà múa với hồn oan.
Tôi làm việc giữ xe cho một casino ở ngoại ô Toronto, gọi là parking attendant. Đó là nghề mà thanh niên ít chịu làm, phần vì lương thấp, mức tối thiểu, hồi đó 5 đồng một giờ, nhưng lý do chính là vì nó buồn. Bãi đậu xe nằm dưới hầm tối, không nhìn thấy người qua lại, nếu ở ngoài trời cũng sau lưng nhà cao tầng. Không ai làm chỗ đậu xe ở khung cảnh xinh đẹp, nơi ấy dành cho hàng quán. Đi học ban ngày, tôi làm thêm ban đêm là việc thích hợp, có thể thỉnh thoảng ngồi học bài. Nhân viên trong phiên gác trước tôi là cô gái bằng tuổi hoặc cùng lắm lớn hơn một hai tuổi, nhưng không hiểu sao cô vẫn có thói quen gọi tôi là em và xưng chị.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.