(Ở trại Xuân Phước có tù nhân đã ăn 500 con ruồi, nhưng sau đó bị ói mửa gần chết”. -- Trại Kiên Giam, Nguyễn Chí Thiệp).
* Huân cầm cái vỉ đập ruồi, chăm chú, im lặng, rình mấy con ruồi đang bay, đợi chúng đáp xuống một chỗ nào đó trên cái bàn ăn dành cho tù nhân được đúc bằng xi măng nham nhở. Huân thủ thế, ngồi bất động. Đàn ruồi bay vo ve, vòng quanh, chờn vờn, rồi có con đáp xuống trên một mảnh khoai mì bé tí còn sót lại trên bàn. Huân thủ thế. Bọn ruồi nầy cũng tinh khôn đáo để, đã nhiều lần, Huân chỉ có một chút động tĩnh là chúng vụt bay lên trước khi cái vỉ được đánh phạch xuống mặt bàn. Dĩ nhiên là con vật nhỏ tí nầy làm sao khôn bằng người được. Dù có con thoát nhưng rồi nó cũng sẽ bay trở lại và trở thành nạn nhân của Huân. Huân đợi khoảng 5 con ruổi tụm lại một chỗ, rất nhanh, anh đưa cái vỉ lên và đập xuống thật lẹ. Ba con chết, hai con bay thoát. Huân cầm lấy cái vỉ dồn mấy con ruồi chết vào một đống. Suốt buổi trưa, Huân đã làm công tác đập ruồi, trong chiến dịch diệt ruồi của toàn trại.
Khu doanh trại nhốt tù buổi trưa im phắc. Anh em tù nhân đi lao động về, tranh thủ tắm, lãnh cơm ăn rồi tranh thủ nằm nghỉ lưng một chút để đến 1 giờ, sau hồi kẻng họ phải bật dậy để tập họp đi lao động tiếp buổi chiều. Cuộc sống của tù nhân ở đây như cây kim đồng hồ. Sáng dậy sớm súc miệng rửa mặt xong rồi lãnh phần ăn sáng, một chén khoai mì lác đầy vỏ. Ăn qua quít với nước muối rồi tập họp đi lao động. Quần quật ngoài hiện trường đến 11 giờ mới về, cũng ăn vài chén khoai mì lác rồi đi nghỉ một chút. Buồi chiều 1 giờ tiếp tục ra hiện trường. Cuốc đất, trồng khoai mì, trồng lúa, hay đi vác củi từ trong rừng sâu. Huân làm anh nuôi ở đội rau xanh. Đội rau xanh của Huân chuyên môn sản xuất rau cho toàn trại, cả tù nhân và nhân viên trên khung cùng cán bộ quản lý trại, tất cả đều trông nhờ vào đội rau xanh nầy. Huân được phân chia làm anh nuôi của đội, chuyên môn nấu nước và mang thức ăn đến cho anh em tù nhân. Thật ra thì công tác nầy cũng nhẹ hơn một chút so với anh em đi lao động ngoài hiện trường, nhưng với Huân, cũng trần ai khoai củ lắm. Với cái chân khập khiễng sau khi anh bị té ngã trong lần đi đón củi trên rừng Long Giao năm ngoái, bàn chân anh bị lật và trở thành tật, nhờ đó Huân được điều về làm anh nuôi.
Tháng rồi có chiến dịch diệt ruồi. Ruồi ở đâu má xuất hiện nhiều quá, bay đậu đầy trên tường, trên nền xi măng, trên mặt bàn ăn như một đám đậu đen. Có nhiều tù nhân bị bệnh thổ tả vì sự lây lan bệnh truyền nhiễm do ruồi đem lại, nên ban chỉ huy trại mở chiến dịch diệt ruồi. Mỗi đội được giao mỗi ngày phải diệt 1000 con ruồi, đội trưởng kiểm soát đếm từng con, nên Huân được đề cử thêm chức đập ruồi cho đội. Thật ra, buổi trưa Huân không ngủ được nên anh cũng lấy công việc nầy làm thú vui. Suốt năm năm rồi, từ ngày đi tập trung cải tạo, hình như không lúc nào anh chợp mắt được buổi trưa. Có phải là cái tâm thức anh không nằm im để ru anh vào giấc ngủ dù chỉ mười, mười lăm phút thôi. Buổi trưa, anh nằm thường gác tay lên trán và nhớ miên man. Nhất là gia đình anh đã biệt tăm trong anh gần ba năm nay. Anh loay hoay. Suy nghĩ. Nhiều khi đang nằm nghỉ mà anh bật dậy. Bật dậy để làm một chuyện gì đó, để xua đuổi đi những ý nghĩ đen tối trong đầu. Khi đội họp để phát động chiến dịch đập ruồi thì Huân giơ tay xung phong lãnh trách nhiệm. Anh sung sướng được tiếp nhận công việc. Anh muốn bất cứ lúc nào cũng có một công việc gì đó để làm. Nằm, hay ngồi, anh lại nghĩ ngợi lung tung.
Nói vậy chứ nhiều khi đang làm việc, như đang nấu nước cho đội ngoài hiện trường, anh tự dưng thấy Như Ngọc dẫn ba đứa con đang từ xa chạy đến với anh. Như Ngọc vẫn còn đẹp như xưa, vẫn còn dáng dấp của cô giáo trung học. Nàng bận áo dài màu tím than, tóc thắt nơ vàng. Còn ba đứa con gái thì tung tăng chạy nhảy vui đùa. Anh thấy đúng y chang là Như Ngọc và ba con trước mắt anh. Thế nhưng khi anh dụi mắt thì tất cả tan biến mất. Đã năm năm xa vợ con, những năm đầu tiên của những năm dài cải tạo ở vùng Long Khánh, Long Giao, Như Ngọc có đi thăm Huân hai lần. Thế rồi khi anh đổi ra đây, trại Xuân Phước nầy, nàng biệt tăm luôn. Ba đứa con của anh đâu? cuộc sống thế nào? Đến bây giờ anh không biết được, cho nên trong đầu óc Huân là cả một trời u uẩn, không nghĩ đến thì thôi chứ nghĩ đến là nó như làm bung cái đầu anh ra vậy.
Hồi ở Long Giao, Huân đi lao động đào hố trồng cao su, anh lượm được một mảnh nhôm máy bay. Anh cất kỹ trong xách lén lút đem về doanh trại. Anh nghĩ anh sẽ nhờ thằng “Nguyện sira” làm cho anh 4 thứ đồ trang sức. Một cái lược và ba cây trâm cài tóc. Cái lược sẽ dành cho vợ anh, Như Ngọc, còn ba cây trâm dành cho ba đứa con gái. Công trình làm lược cũng rất nhiêu khê. Thằng ”Nguyện sira” ra giá, tất cả công lao cho 4 đồ trang sức kia là nửa bịch thuốc lào và 4 tán đường. Anh lấy đâu ra những món hiếm quý ấy. Suốt hai năm anh chỉ được hai lần thăm nuôi mà anh biết Ngọc ở nhà lo cho ba đứa con cũng “quá tải” rồi, nên còn sức đâu để nuôi anh, nên anh chả đòi hỏi gì. Ngọc đem cho anh khoảng đâu một ký đường. Anh ăn hà tiện được hai tháng là hết. Cơ thể anh bắt đầu xuống cấp trầm trọng, người anh gầy oặt ra. xanh xao, vàng võ. Nhưng thôi, cố chịu đựng, anh nghĩ thế. Giá của thằng “Nguyện sira” đưa ra là cái giá chung cho các anh em trong trại cải tạo. Thằng Nguyện có hoa tay nên nó cưa, mài, đục, đẽo, mấy ngày là xong và sản phẩm thì “xịn” không chỗ chê. Mới đầu thì thằng Nguyện làm không công cho bạn bè, sau đó nhiều người nhờ vả quá nên nó ra giá. Bây giờ thì nó nổi tiếng toàn trại về chuyện sản xuất đồ nhôm, nên nó một bảng giá hẳn hoi. Huân thấy mình không có đường, không có thuốc lào, nên anh đành thúc thủ. Sau một đêm suy nghĩ, trằn trọc, anh quyết tâm: Sao mình không tự làm lấy, thằng Nguyện làm được mình làm được. Nghĩ thế là ngày hôm sau anh bắt tay vào việc ngay. Anh đi ra hiện trường lượm được một thanh sắt nhỏ, anh nhặt bỏ vào túi xách. May mà anh đem vào được trong trại an toàn chứ cán bộ kiểm soát mà bắt được thì chắc anh cũng tàn đời, sẽ bị hai ba tháng trong hầm kỷ luật vì tội đem kim loại vào trong trại, với âm mưu trốn trại hay nhen nhúm phản động gì đây?
Thế là trong những lúc rãnh rỗi hoặc thứ bảy, chủ nhật, Huân hỳ hục đục đẽo thanh nhôm. Nghĩ thì dễ nhưng thực hành thật khó. Nhôm máy bay là loại nhôm cứng nên mấy lần Huân đục đẽo, anh đục quá mạnh, lưỡi đục xuyên vào tay làm tay anh máu chảy dầm dề. Máu chảy loang cả miếng nhôm, anh xin thuốc lào rịt vào và lấy cọng dây thun cao su cột ngón tay lại, nhờ vậy máu bớt chảy ra, nhưng cánh tay anh bị sưng vù lên, thâm tím. Máu cuả anh đã đổ ra bao nhiêu lần. Hai lần bị thương, máu anh chảy tràn đầy trên băng ca tải thương từ núi rừng Quảng Ngãi. Các con anh cũng là máu của anh, máu anh đã chuyền qua máu các con anh. Bây giờ các con anh đâu? những giọt máu của anh đã thất tán nơi nào anh chẳng biết?
Huân vẫn không nản lòng. Anh đếm từ bây giờ đến ngày thăm nuôi khoảng cũng còn 3 tháng nữa. Anh nhẩn nha làm. Ngày một, ngày hai. Cuối cùng rồi anh cũng hoàn thành được cái lược và ba cái trâm cài tóc. Anh thầm nghĩ, lần nầy mà Như Ngọc lên thăm anh, có dẫn theo ba đứa con, anh sẽ lấy cái lược chải tóc cho vợ, lấy cái trâm cài đầu cho ba đứa con gái, chắc là Như Ngọc sẽ vui lắm và hạnh phúc lắm. Anh nghĩ cái hạnh phúc cũng tầm thường thôi mà sao anh chụp bắt hoài mà không gặp được.
Đúng là hạnh phúc cũng rất tầm thường mà anh không có được. Lần thăm nuôi đó Ngọc không lên. Anh mòn mỏi đợi trông từng ngày, anh đem cái lươc và ba cái trâm ra đánh bóng đi đánh bóng lại nhiều lần. Anh vẫn tự bảo lòng, có lẽ Như Ngọc bận chuyện gì đó nên đi trễ thôi, thế rồi anh mòn mỏi đợi chờ cho hết đợt thăm nuôi. Đến mùa đông năm đó, có đợt thay đổi trại. Anh bị kêu tên, rồi lên xe bít bùng đi suốt mấy ngày mấy đêm liền. Khi xe dừng lại anh thấy mình đã đứng trước một trại tù hiện đại hơn, được xây cất đàng hoàng kiên cố hơn. Nhà tù có cửa khóa, có công an canh giữ. Anh được xếp loại vào hàng ngũ ác ôn, chống đối không chịu cải tạo nên mới được đưa đến nơi chốn đèo heo hút gió nầy. Đây là trại kiên giam Xuân Phước.
Từ đó, anh biệt tăm luôn tin tức vợ con. Nhưng anh vẫn nhủ lòng và hy vọng sẽ có ngày gặp lại. Anh quyết tâm giữ kỹ, cất kín cái lược và 3 cái trâm. Cái lược và ba cái trâm đã thấm máu anh trong đó, anh hy vọng có một ngày nào đó anh được thả về, anh sẽ đem về cho Như Ngọc và các con. Anh cố giữ nó bên mình như giữ lấy một vật quý hiếm nhất, dù nhiều lúc trại có đợt kiểm tra gắt gao. Anh đào lỗ chôn “báu vật” xuống dưới đất hàng tuần, hàng tháng, khi nào thấy tình hình yên ổn, anh lại đào lên, rồi lại gia công đánh bóng cho láng, cho lên nước như gương, có thể soi mặt được.
Như vậy, đến nay là năm thứ sáu từ ngày anh trình diện tập trung cải tạo. Dĩ nhiên không được thăm nuôi thì làm gì có quà nên Huân đói rã họng. Những bạn bè thấy anh thương tình, khi có thăm nuôi họ thường cho anh phần khoai mì lác, là phần ăn của họ dư ra. Nhưng cũng được mấy ngày. Cuối cùng cái đói lại trở về và Huân âm thâm chịu đựng.
Buổi trưa trong căn phòng ăn im phắc. Chỉ có tiếng ruồi vo ve và chỉ có Huân ngồi rình rập để thoắt một cái, cái vỉ đập ruồi đưa lên và quật mạnh xuống. Những con ruồi chết nằm la liệt. Huân lấy cái vỉ dồn ruồi vào một một chỗ, rồi lấy một tờ giấy báo gom lại. Cũng được gần mấy trăm con. Huân tiếp tục âm thầm làm việc.
Buổi trưa vẫn im ắng. Có mấy người tù thức dậy sớm và đi ra ngoài giếng nước tắm. Có người đang lui cui nhóm lò tự sáng chế bằng cái lon guigoz, họ nấu nước sôi để chế mì hoặc pha trà, và có người đang nướng lạp xưởng. Ơi, mùi mì gói sao thơm lạ lùng. Rồi mùi lạp xưởng ngào ngạt xộc vào mũi Huân, Huân nuốt nước miếng, anh nghe bụng mình cồn cào, nước miếng anh chảy ra đầy miệng. Huân cố gắng nuốt vào, nhưng mùi mì gói và lạp xưởng vẫn xộc vào mũi anh làm anh run rẩy, cơn thèm khát ăn lên đến cùng cực.
Trong những ngày đói khổ đã qua, Huân đã ăn qua nhái, ếch, cào cào, châu chấu, dế. Nhưng những dịp như vậy cũng chỉ là dịp may hiếm có. Tù thì nhiều và ai cũng đói, cho nên khi đi lao động ngoài các nương rẫy, nếu có một con nhái, con dế, con châu chấu nhảy ra thì đã có hàng chục con người nhào tới giành giựt chụp ngay, ai nhanh tay trước thì được. Huân đâu có lanh lẹ và khoẻ mạnh như mấy người bạn tù kia, cho nên dù chỉ là một con dế, anh cũng khó bắt mà bỏ vô miệng. Khi đã đến tận cùng của sự đói, có người đã tuyên bố một câu xanh rờn: “Con vật nào nhúc nhích được đều ăn được cả”.
Mùi thơm của lạp xưởng mà một người bạn tù nào đó nướng lên đã xông vào lỗ mũi Huân một mùi ngào ngạt khó tả. Đã lâu lắm rồi, hình như là đã từ một kiếp trước nào đó rất xa, anh đã được ăn miếng lạp xưởng đó. Nay với anh, những thứ đó được coi như là món quá cao lương mỹ vị, xa quá tầm tay của anh, vì với hoàn cảnh anh bây giờ, không thăm nuôi trong mấy năm ròng rã, anh làm sao có được. Mùi lạp xưởng vẫn ngào ngạt xông vào mũi Huân khiến vực dậy trong anh nỗi thèm thuồng vô tận, nước miếng từ các tuyến bọt trào ra, anh cố gắng ngăn lại những thèm muốn cùng cực nầy, anh cố gắng đưa cây vỉ lên đập trên mặt bàn mấy cái liên tiếp cho quên đi cái mùi vị hấp dẫn kia.
Huân nhìn đống ruồi bị đập nằm dồn trên mảnh giấy báo, có con chưa chết hẳn còn bò loe ngoe. Huân bỗng nghe văng vẳng tiếng người bạn tù nói hôm trước, con gì nhúc nhích được là ăn được, tại sao ta không ăn ruồi.Ăn ruồi. Ăn ruồi. Cũng được lắm chớ, nó cũng là động vật thôi, cũng như dế, cào cào, châu chấu chứ có khác gì đâu. Huân suy nghĩ và lấy cây vỉ khươi khươi đống ruồi, Huân tự nhủ, mình sẽ rang lên cho chín, thêm vào chút muối hoặc chút mỡ, chắc ăn cũng được như mấy loại kia, dù gì mình phải cần một chút chất thịt, chút đạm, để nuôi cơ thể, chứ mình cũng đuối quá rồi. Gục ngã ở đây sẽ không còn nhìn thấy mặt vợ, mặt con. Phải cố vươn lên mà sống, cơ thể mình như hết sinh khí, không có được chút thịt nào từ ba bốn năm nay.
Tiếng kẻng tập họp đi lao động buổi chiều vang lên, anh em tù nhân lục tục ra xếp hàng. Đội trưởng Phương đi qua phòng ăn, thấy Huân đang lui cui gom ruồi vào mảnh giấy báo thì hỏi to:
– Hôm nay đội ta diệt được bao nhiêu ruồi đây, anh Huân?
Huân chỉ đống ruồi trên mảnh giấy báo, rồi đáp:
– Tôi không đếm, nhưng độ cũng khoảng trên năm trăm con.
Phương nói to như ra lịnh:
– Hôm nay anh khai bịnh không đi lao động thì ở nhà nhớ đập ruồi cho đủ chỉ tiêu một ngàn con nghe.
Huân gật đầu tỏ vẻ anh đã hiểu, Đội trưởng Phương bước ra khỏi nhà ăn, rồi đi thẳng ra sân nhập vào đội rau xanh. Huân nhìn theo bóng những người tù lũ lượt bước đi như một đám “bù nhìn” biết cử động. Trời tháng tám nóng ran, nắng như đổ lửa xuống đầu những thân phận người tù.
Khi khu doanh trại chỉ còn Huân, anh mới bắt đầu thực hiện ý định của mình. Anh gom hết những con ruồi vào một cái rổ, những con ruồi như những hạt đậu đen, anh đem ra giếng nước lấy lon guigoz múc nước giội lên hai ba lượt. Anh vẫn còn ý niệm được một chút vệ sinh, vì anh vẫn biết loại ruồi nầy đã bay và đậu bất cứ ở đâu, nhất là dãy cầu tiêu nằm sát bên lán trại nầy. Tù nhân ra đó đi cầu xuống những thùng phuy, từ đó đội rau xanh ra lấy phân hòa với nước lạnh tưới lên rau làm phân bón. Ruồi nhặng tha hồ đến đó mà kiếm ăn, nhứt là những con ruồi xanh to cỡ hạt bắp, màu xanh dương tuyền ánh lên và khi nó bay tiếng kêu vo vo thật lớn. Vì vậy nên Huân phải rửa sơ qua những con ruồi nầy cho vệ sinh chút xíu. Xong xuôi anh đem cái lon giugoz bỏ vào mấy giọt mỡ mà người bạn đã cho anh trong lần thăm nuôi vừa rồi. Chút mỡ chỉ còn mấy giọt thôi, anh lấy những bao nhựa quấn chặt lại rồi đem đốt lên, khi lửa cháy bùng anh đặt lon gô lên. Mở trong lon gô bắt đầu nóng và chảy xèo xèo, anh đổ đám ruồi và lấy đũa quậy qua, quậy lại cho đều, lửa càng cao thì mỡ càng nóng sôi lên sùng sục, những con ruồi dính vào nhau sền sệt và co quắt lại. Huân rắc một chút muối vào, thế là anh có món ruồi xào hoàn tất.
Bây giờ thì Huân thảnh thơi đem chén mì lác còn lại buổi trưa, anh để chén mì trên bàn. Cái lon guigoz kho ruồi đặt bên cạnh, hơi nóng còn bốc khói. Huân suy nghĩ, dù gì cũng là lần đầu tiên ăn ruồi, nên anh nghe ớn ớn và thấy lợm ở cổ, dù vậy, vì cái sống, cái sinh tồn, và cái bao tử cồn cào quá đỗi, sôi sục lộng hành kêu gào riết róng, Huân phải ăn, phải ăn gấp, chứ không thì không kịp nữa, cơn lợm giọng lại trở về, Huân run run một tay anh bốc miếng khoai mì, một tay anh cầm đũa quệt một vòng vô trong lòng lon guigoz, một đám ruồi lổn nhổn quyện trên đôi đũa Huân bỏ lên lát khoai và đưa vào miệng, động tác mau chóng, nhanh lẹ, Huân nhai vội rồi nuốt ngay. Vị muối mặn đánh thức từng tế bào trong cơ thể anh, nhưng cái nhờn nhợn, tanh tưởi bắt đầu làm anh khó chịu. Huân vội uống một miếng nước sôi để nguội cho nó đẩy củ khoai và ruồi xuống sâu dưới bao tử, Huân cầm lát khoai mì thứ hai lên và lấy đũa tiếp tục quệt vào trong lon guigoz, anh vừa lấy đôi đũa ra thì từ trong ruột anh quặn lên từng hồi, bắt anh phải ngáp thật dài và anh bắt đầu ói. Huân cố nín nhưng nước miếng, nước mũi, từ trong người anh tự động trào ra, Huân ngồi thụp xuống đất và không tự chủ được nữa rồi, anh lấy tay móc vào họng, một dòng nước ố vàng chứa những con ruồi tuôn ra. Huân lăn vào trong một góc nhà ăn rồi ngồi xuống, miệng há ra cho nước, khoai mì và ruồi tiếp tục trào ra, Huân chỉ còn há miệng ra cho bao tử có gì trào ra hết, mắt Huân mờ đi, anh mửa đến lộn cả mật xanh mật vàng, người anh co quắp, mắt anh lờ đờ, một tay đưa sâu vào cổ họng để móc, mùi tanh lợm làm anh không chịu nổi, đến khi người Huân run lên, có lẽ trong ruột Huân không còn một chút gì, khô ran, trống rốc, nhưng miệng anh vẫn tanh lợm, anh nằm xuống nền xi măng thở phì phò và ngất đi.
Buổi chiều đội rau xanh đi lao động về, thấy Huân nằm bất động bên góc nhà ăn, anh em tù xúm lại khiêng anh lên bệnh xá. Huân còn thoi thóp thở. Lên bịnh xá, y tá khám qua loa rồi cho uống mấy viên thuốc nam xuyên tâm liên, vì bệnh gì ở đây cũng cho uống xuyên tâm liên cả. Huân cựa quậy một chút rồi nằm im, thở đều. Anh em tù trong đội nghe tin Huân bị bất tỉnh vội chạy vào trong nhà ăn để xem, trên hiện trường còn bỏ lại một chén khoai mì lác đã nguội, một lon giugoz sền sệt những con ruồi. Anh em tù nhìn nhau, ai cũng thầm hiểu ra sự việc, vẻ đau xót, thương cảm, hằn sâu trên nét mặt mỗi người.
***
Hai mươi năm sau tại một nhà nursing home ở đường Habor, tiểu bang California, ông Huân đã vào sống ở đó. Thời gian đã làm ông già đi và tiều tụy thấy rõ. Các con ông đã đem ông vào đây sống vì tụi nó mắc bận công việc làm ăn xa. Một đứa là bác sĩ, nó mở phòng mạch ở tận tiểu bang Florida, một đứa là chủ tiệm nail ở Mass, một đứa theo chồng về sống ở WA state. Còn Như Ngọc thì đã có một người đàn ông khác.
Lần đó, đứa con lớn nói:
– Ba già rồi, ba vào đó ở rất tiện cho tụi con, tụi con không thể mang ba theo được.
Huân bằng lòng và nghĩ “Tụi nó còn non lòng nhẹ dạ, nó đem mình theo nó chỉ cản trở công việc làm ăn của tụi nó thôi”.
Nhớ ngày Huân được tha về sau bảy năm ở trại tập trung, ông lặn lội đi tìm ba con đã thất tán mỗi đứa mỗi nơi. Cả Như Ngọc nữa, nàng trở về lại với ông sau khi đã trải qua nhiều người đàn ông. Huân bươn chải với cuộc sống với đủ mọi thứ nghề để nuôi thân, nuôi gia đình. Cuộc sống còn khổ cực hơn ngày ông ở trong trại. Cho đến ngày gia đình xuất cảnh.
Nay thì ông an tâm, ông tự nhủ lòng: “Thôi thế cũng xong, cũng lo được toàn vẹn cho tụi nhỏ đến bến bờ. Đời như vậy cũng tạm yên.”
Ông âm thầm sống trong khu nursing home. Chỉ hiềm một nỗi, ở đây, xứ sở nầy không có ruồi cho ông đập nữa.
Tôi bị bắt tại huyện Tân Hiệp chiều ngày hai mươi, giáp Tết. Lý do, mang theo hàng không giấy phép. Thế là tiêu tan hết vốn lẫn lời mà tôi chắt chiu, dành dụm gần cả năm nay. Nhớ đến mẹ và gia đình trong những ngày Tết sắp tới, tôi vừa buồn vừa tức đến bật khóc. Xui rủi, biết trách ai. Tiễn, anh phụ lơ, đã cẩn thận cất dấu hàng cho tôi, vã lại anh cũng quá quen biết với đám công an trạm kiểm soát. Không ngờ chuyến nầy bọn công an tỉnh xuống giải thể đám địa phương, nên tôi bị “hốt ổ” chung cả đám. Đây không phải là lần đầu bị bắt, nhưng lại là lần đầu tiên tôi đi chuyến vốn lớn như vầy. Năm ký bột ngọt, năm ký bột giặt, hơn chục ống thuốc cầm máu và trụ sinh hàng ngoại. Bột ngọt, bột giặt không nói gì, nhưng hai thứ sau hiếm như vàng mà giới “chạy hàng” chúng tôi gọi là “vàng nước”. Nên thay vì đưa về khu tạm giam huyện chờ lập biên bản, hồ sơ xét xử tôi nghe bọn công an thì thầm, bàn tán giải thẳng về khám lớn tỉnh Rạch Giá.
Quỳnh Lâm báo tin sẽ đến Đức trong tuần lễ đầu tháng 10. Nisha vội vàng thu xếp “sự vụ lệnh“ để công du sang Đức. Nisha lo đi chợ sắm sửa đầy mấy tủ lạnh, tủ đá, để mấy cha con sống còn trong thời gian nữ tướng đi xa. Chúng tôi hồi hộp quá, ngày nào cũng thư từ, nhắn nhủ, dặn dò đủ điều tẳn mà, tẳn mẳn. Điện thư qua, về hoa cả mắt. Thư nào chúng tôi cũng nhắc nhở nhau giữ gìn sức khoẻ, vì đứa nào cũng “lão” rồi. Khi gặp nhau, tụi tôi nhất thiết phải đầy đủ tinh thần minh mẫn trong thân thể tráng kiện. Có hôm, đến trưa, chưa nghe tăm tiếng, tôi sốt ruột, xuất khẩu làm thơ... bút tre:
Sống ở đây an toàn và bình an gần như một trăm phần trăm trong hiện tại và tương lai, nhưng không thể bình thản hóa quá khứ. Cuộc chiến khốc liệt giữa thiên thần và ma quỉ luôn ám ảnh ông. Có những điều gì thao thức, âm thầm nghi hoặc, nhoi nhúc sâu thẳm trong ông. Lòng tin vào ông Gót có phần nào lung lay. Đông cảm thấy có lỗi khi nghi ngờ bố, người đã giúp đỡ, bảo vệ ông và Vá. Nhưng nghi ngờ là một thứ gì không thể điều khiển, không thể đổi đi, không thể nhốt lại. Nó vẫn đến, mỗi lần đến nó vạch rõ hơn, nhưng vẫn mù sương như đèn xe quét qua rồi trả lại sương mù.
Trâm gật đầu nhè nhẹ. Đoan nghĩ thật nhanh đến một cảnh diễn ra mỗi đầu tháng trong sân trường. Nơi đó, các sinh viên xúm xít cân gạo và các loại “nhu yếu phẩm”, mang phần của mình về nhà. Rồi thì trong khu phố, cảnh những người dân xếp hàng “mua gạo theo sổ” cũng diễn ra mỗi ngày. Nói “gạo” là nói chung thôi, thật ra trong đó phần “độn” chiếm đa số. Phần “độn” có thể là bo bo, có thể là bột mì, cũng có thể là khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô. Nồi cơm nấu từ gạo và một thứ khác được gọi là nồi “cơm độn.” Mỗi ngày hai bữa cơm độn. Bo bo thì quá cứng vì vỏ ngoài chưa tróc, nấu trước cho mềm rồi cho gạo vào nấu tiếp, trở thành một “bản song ca” chói tai. Khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô thường bị sượng, ghế vào cơm rất khó ăn. Chỉ có bột mì tương đối dễ ăn hơn, vì người nấu có thể chế biến thành bánh mì, nui hay mì sợi
Mùa đông, tuyết đóng dầy trên mái nhà. Ấy là lúc bà ngoại cũng lo là lũ chim - những con chim của ngoại - sẽ chết cóng. Nhưng bà không biết làm gì để cứu chúng nó. Ngoại đi tới đi lui từ phòng khách qua nhà bếp. Thở dài. Rên rỉ. Rồi lẩm bẩm, “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.” Bà ngoại tội nghiệp những con chim chết lạnh. Sinh nhật ngoại, chúng tôi chung tiền mua quà. Một con sáo trong chiếc lồng tuyệt đẹp. Bà ngoại cưng nó hơn cưng chị em tôi. Cho nó ăn, ngắm nghía bộ lông đầy màu sắc của nó. Chăm chú lắng nghe tiếng hót véo von lúc chớm nắng bình minh và buổi hoàng hôn nắng nhạt. Rồi một buổi sáng nọ tiếng chim thôi líu lo. Bà ngoại chạy ra phòng khách. Hấp tấp tuột cả đôi guốc mộc. Con chim sáo nằm cứng sát vách lồng. Hai chân duỗi thẳng. Cổ ngoặt sang một bên. Con chim của ngoại đã chết. Bà ngoại buồn thiu cả tuần lễ. Bố mẹ tôi bàn tính mua con chim khác. Bà gạt ngang.
Tôi là người viết báo nghiệp dư. Từ khi khởi viết vào năm 1959, tay cầm viết luôn là nghề tay trái. Tôi sống bằng nghề tay phải khác. Cho tới nay, nghề chính của tôi là…hưu trí, viết vẫn là nghề tay trái. Tôi phân biệt viết báo và làm báo. Làm báo là lăn lộn nơi tòa soạn toàn thời gian hoặc bán thời gian để góp công góp sức hoàn thành một tờ báo. Họ có thể là chủ nhiệm, chủ bút, tổng thư ký, thư ký tòa soạn hay chỉ là ký giả, phóng viên. Nhưng tôi nghĩ người quan trọng nhất trong tòa soạn một tờ báo là ông “thầy cò”. Thầy cò ở đây không có súng ống hay cò bóp chi mà là biến thể của danh từ tiếng Pháp corrector, người sửa morasse. Morasse là bản vỗ một bài báo cần sửa trước khi in.
Sáu tuần. Nàng đã đi ra khỏi mụ mị từ trong mối tình hiện tại của mình. Cô bạn gái hỏi "Tỉnh chưa?". Tỉnh rồi, nhưng tỉnh không có nghĩa không yêu anh ấy nữa, chỉ là không còn mụ mị mê muội nữa thôi...
Trong bóng tối dày đặc, dọ dẫm từng bước một, hai tay vừa rờ vào hai bên vách hang động, vừa quơ qua quơ lại trước mặt, dù cố mở mắt lớn, chỉ thấy lờ mờ, nhiều ảo ảnh hơn là cảnh thật. Cảm giác bực bội vì đã trợt té làm văng mất ba lô, mất tất cả các dụng cụ, thực phẩm và nước uống cần thiết. Bối rối hơn nữa, đã rớt chiếc đèn bin cầm tay, mất luôn chiếc đèn bin lớn mang bên lưng và máy liên lạc vệ tinh có dự phòng sóng AM. Giờ đây, chỉ còn ít vật dụng tùy thân cất trong mấy túi quần, túi áo khoát và hoàn toàn mất phương hướng. Chỉ nhớ lời chỉ dẫn, hang động sẽ phải đi lên rồi mới trở xuống. Trang nghĩ, mình có thể thoát ra từ lối biển. Là một tay bơi có hạng, nàng không sợ.
Cô người Nha Trang, lớn lên và đi học ở đó. Cô sinh trưởng trong một gia đình gia giáo, mẹ cô đi dậy học, ông thân cô cũng là hiệu trưởng một trường trung học lớn ở Phú Yên. Năm 22 tuổi, cô học năm cuối đại học văn khoa Huế thì gặp gỡ chú Hiếu trong một dịp hội thảo sinh viên do các biến động thời cuộc miền Trung bắt đầu nhen nhúm. Chú Hiếu lúc đó đang theo cao học luật. Họ thành đôi bạn tâm giao tuổi trẻ, sau thành đôi uyên ương. Ba năm sau khi Trang vừa 25 tuổi, Hiếu đã nhậm chức chánh án tòa thượng thẩm.
Nhà trẻ kế bên bệnh xá. Trong góc một trại giam. Nhà trẻ có sáu đứa con nít. Bệnh xá có mấy bệnh nhân già. Coi bệnh xá là một tù nam nguyên là y tá ngoài đời. Coi nhà trẻ là một tù nữ án chung thân. Coi cả hai nơi ấy là một công an mà mọi người vẫn gọi là bác sĩ! Sáu đứa con nít đều là con hoang. Mẹ chúng nó là nữ tù bên khu B, đừng hỏi cha chúng đâu vì chúng sẽ không biết trả lời thế nào. Cũng đừng bao giờ hỏi mẹ chúng nó về chuyện ấy vì rằng đó là chuyện riêng và cũng là những chuyện rất khó trả lời. Thảng hoặc có ai đó được nghe kể thì lại là những chuyện rất tình tiết ly kỳ lâm ly bi đát… chuyện nào cũng lạ, chuyện nào cũng hay
Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
Ông Hải đứng trước của nhà khá lâu. Phân vân không biết nên mở cửa vào hay tiếp tục đi. Tâm trạng nhục nhã đã ngui ngoai từ lúc nghe tiếng chim lạ hót, giờ đây, tràn ngập trở lại. Ông không biết phải làm gì, đối phó ra sao với bà vợ béo phì và nóng nảy không kiểm soát được những hành động thô bạo.
Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.
Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.
Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”
Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.
Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.
Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.
Chúng tôi sử dụng cookie để cung cấp cho bạn trải nghiệm tốt nhất trên trang web của chúng tôi. Nếu tiếp tục, chúng tôi cho rằng bạn đã chấp thuận cookie cho mục đích này.