Hôm nay,  

Thương nhớ Ba

17/06/202320:51:00(Xem: 3688)
Tùy bút -- Father's Day

hoa-sống-đời

Dòng đời lặng lẽ trôi không một phút ngừng nghỉ, người sanh diệt đến đi cứ như áng mây trời, thoạt có thoạt không. Cái hình hài nhân dáng này coi vậy chứ vô thường lắm, có đấy mất đấy không hẹn kỳ hạn định. Cuộc trăm năm ngỡ dài nhưng thật sự chẳng mấy chốc, ấy là chưa nói đến những bất ngờ không biết trước được. Người đến thế gian này vì ân oán, vì duyên nợ mà gặp nhau để làm cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái, bạn bè... những mối ân tình sâu đậm ràng buộc chúng ta với nhau.
    Dòng đời trôi miên viễn, dòng tử sanh bất tận, cuộc mưu sinh vất vả và bận rộn, có đôi khi chúng ta quên những mối ân tình, hoặc giả không quên nhưng vì xa cách hay vì hoàn cảnh nào đấy mà không thể sống trọn tình với những mối ân tình. Cũng may thế gian này thiên hạ đặt ra những ngày lễ để nhắc nhở, để tưởng nhớ những kỷ niệm, những mối ân tình. Âu-Mỹ có những ngày lễ rất đẹp, rất hay mang đậm tính nhân văn: Ngày Lễ Mẹ, Lễ Cha, Lễ Tình Nhân…
 
***
 
Ngày Lễ Cha lại về, con vẫn tận chân trời góc bể, nhớ ba, thương ba, muốn ôm ba một cái cũng không sao làm được! Nhân duyên quá khứ thế nào không biết nhưng quả hiện tại thật xa cách, không thể nào cưỡng lại được nghiệp lực. Ba đã già yếu và nhiều chứng bệnh, thời gian không còn nhiều nhưng giờ biết làm sao đây? Ơn ba má là một trong tứ trọng ân mà nhà Phật vẫn thường nhắc nhở chúng ta. Không phải đến ngày Lễ Cha con mới nhớ ba, ngày nào cũng nhớ cả, hình bóng ba luôn ở trong con, tuy nhiên khi ngày Lễ Cha lại về thì nỗi niềm nhớ lại lung linh lay động mạnh hơn, cứ như gió thổi làm cho lửa âm ỉ trong tro bùng lên,
     Thế gian này ai cũng thương ba má mình, người mình vốn là cư dân nông nghiệp lúa nước, đời sống quây quần bên xóm làng, gia đình, dòng tộc, cho nên tình cảm ông bà, cha mẹ gắn bó chặt chẽ với nhau. Sau này chịu ảnh hưởng văn hóa phương Tây, cuộc sống hiện đại nghiêng về chủ nghĩa cá nhân, tuy vậy tình cảm cha mẹ và con cái không vì thế mà suy giảm. Tiếng Việt mình phong phú lắm, tùy từng vùng và tập quán văn hóa địa phương mà cách gọi ba cũng rất đa dạng, nào là: cha, ba, bố, thầy, cậu, tía, ông thân…
    Ngày xưa khi nền Hán học và tư tưởng Nho giáo còn thống trị thì cha là một trong tam cương: Quân- sư-phụ. Chữ phụ trong Hán tự vẽ người đàn ông hai tay cầm hai roi, ngụ ý việc dạy dỗ con cái. Điều này cũng tương ứng với tục ngữ Việt ta: “Mẹ sanh cha dưỡng”. Ca dao Việt có câu: “Công cha như núi Thái sơn”, núi Thái lớn lắm, cao lắm nhưng vẫn còn đo và ước lượng được, công cha thì làm sao mà đong đếm đo lường đây?
    Ngày Lễ Cha, con nhớ ba, thương ba. Con vẫn thường hồi tưởng lại lúc tuổi thơ êm đềm trong sự yêu thương bảo bọc của ba má. Ba dạy con học vỡ lòng, tập đọc, tập viết trước khi đến trường. Ba cầm tay con tập từng nét chữ, tiếc là con quá hậu đậu không theo kịp ba. Chữ viết của ba đẹp tuyệt vời, nét chữ mà người đời thường khen tụng là “rồng bay phụng múa”, nét chữ thường được dùng để viết văn bằng. Ba đẹp trai và hào hoa, con chẳng bằng ba, người ta nói “Con hơn cha nhà có phúc”, vậy là nhà mình không có phúc rồi! Mặt nào con cũng hổng bằng ba hết trơn! Có một điều này thì con giống hệt ba, giống y chang, giống như đúc luôn. Con và ba rất hậu đậu và lận đận. Con như thể là bản sao của ba, hổng biết nghiệp lực gì mà giống nhau như vậy! Ba hào hoa, phong nhã, đọc sách ngấu nghiến dù là sách ngoài đời hay kinh sách nhà Phật, ba tài hoa nhưng chưa đến độ chín mùi và cũng lỡ vận. Nhiều lúc con cảm nhận ba ở trong con, thương ba nhiều lắm.
    Nhà Phật bảo vì nhân duyên, vì cùng tâm thức tương ứng mà sanh vào một nhà làm cha mẹ, con cái với nhau. Con với ba có lẽ là một minh chứng đây! Cái sở thích, điều quy hướng và cái quả hiện tại của con và ba giống nhau lạ lùng. Ngày lễ cha, nhớ ba, thương ba nhưng con chẳng làm được gì để ba má nở mày nở mặt, chẳng làm được gì để gọi là chút báo hiếu. Con hậu đâu, lận đận, ngoài mớ chữ nghĩa ẩm ương ấm ớ này ra con chẳng được tích sự gì!
    Ngày Lễ Cha khác với ngày Lễ Mẹ, thiếu hẳn sự sôi động rộn ràng, hoa và quà cũng ít hơn. Có lẽ thiên hạ vẫn quan niệm cha là đàn ông, trượng phu nên ít sắc thái màu mè. Mặt khác cũng cần phải nhìn nhận là người mẹ gắn bó với con cái sâu đậm hơn cha, ngoài việc mang nặng đẻ đau ra người mẹ còn chăm sóc, nuôi nấng từ lúc sơ sinh đến lúc trưởng thành, vì thế con người ta gần gũi và gắn bó với mẹ hơn là với cha.
    Xứ mình không có ngày Lễ Mẹ hay Lễ Cha. Xứ mình trọng ngày tử (giỗ) hơn là ngày sinh, tuy nhiên những năm gần đây, ảnh hưởng văn hóa phương tây mà giới trẻ thích thú và hưởng ứng ngày Lễ Mẹ, Lễ Cha, Lễ Tình Nhân… Cái hay, cái đẹp, điều nhân văn càng lan tỏa càng tốt cho xã hội.
    Ngày Lễ Cha, con lại nhớ về kỷ niệm ngày xưa lúc con còn nhỏ, ba thường chở con về quê nội chơi. mùa hè cũng là mùa mía, nhà nội có rẫy mía lớn nhất vùng, mía đem ép để nấu đường. Về rầy mía tha hồ ăn mía, uống nước mía, ăn kẹo đậu phộng, kẹo dừa… Ba đi loanh quanh những chỗ mía vừa cắt để nhặt chim non, ba đem đặt chúng ở những cây cao hay bụi rậm. Ba chở con đi khắp đồng quê, những cánh đồng xanh bát ngát và cò trắng chao lượn đẹp như cổ tích, từ rẫy mái nhà nội đi qua gò Đu để đến chùa Bàu Lương, những con đường mòn nhỏ xíu chạy quanh quất qua gò Đu sao mà đẹp lạ thường. Ông sư già chùa Bàu Lương lông mày bạc trắng rớt che cả mắt, nhìn ông cười hiền từ ngỡ như ông tiên trong truyện cổ tích ngày xửa ngày xưa. Ba chở con đi chơi khắp nơi, đi lòng vòng rồi viếng mộ tổ, ngôi mộ to như ngọn đồi, xây bằng đá ong đỏ quạch dù nắng mưa tháng năm thế nào cũng không làm phai màu, mộ tổ đã sụp đổ một phần theo lẽ vô thường của cuộc bể dâu. Ba kể chuyện ngày xưa dòng họ vốn từ ngoài bắc đã theo quân Nguyễn Huệ vào nam lập nghiệp, tính ra cũng gần ba trăm năm rồi. Hồi ấy vùng này là hoang vu, tổ đến đây và quyết định dựng lập tại đây! Từ đó dòng họ phát triển ra khắp vùng, cách đấy không xa mấy là tiểu trấn Phù Dung. Đất xứ này không phải địa linh nhưng có thể bảo là đất lành, người trong thiên hạ vẫn thượng tụ về. Thời cổ đại thì người Lâm Ấp, kế đến là người Chăm, sau đó Việt và người Tàu cùng hội tụ ở đây để sinh sống. Trấn nhỏ, dân ít ấy vậy mà số dòng họ người Tàu còn nhiều hơn số người Việt, nào là: Họ Hàn, Thái, Hoàng, Khưu, Diệp, Tạ, Hứa…
    Con dân một nước thì ắt phải chịu hậu quả hay hưởng thành quả của xã hội đó! Xưa tổ từ vượt sông Gianh chia cắt để vào nam lập nghiệp. Đến đời nội thì nội lại vượt sông Bến Hải để đi tập kết ra bắc. Nước mình cứ lẩn quẩn trong vòng chiến chinh chia cắt. Sông Gianh hay sông Bến Hải tuy khác danh tự nhưng sự chia ly, ngăn cách, tang thương thì chẳng khác gì nhau. Thực tế hiện tại không còn sự chia cắt của sông Gianh hay sông Bến Hải nhưng lòng người vẫn có sự chia cách, phân biệt rất rõ ràng.
    Cái vòng sanh tử liên lỉ, sự đời ly tán hợp tan. Ngày xưa khi tổ vào nam chắc cũng biền biệt cách xa những mối ân tình thâm trọng, đến đời nội thì ba và nội cũng chia cách hai mươi mốt năm ròng, đến lượt con thì con và ba cũng xa xôi vạn dặm, muốn gặp nhau thật chẳng dễ tí nào. Nhân quả thế nào? Nghiệp lực ra sao? Thật không sao biết được! Ngày Lễ Cha, con nhớ ba, thương ba nhiều lắm.

 

– Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 0623)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Có thể nói ai cũng có lần nói lái ở trong đời, đôi lúc chỉ vô tình thôi. Nếu bạn buột miệng nói “đi giữa trời nắng cực quá” hoặc khi đèn điện không sáng mà bạn nói “điện sao lu quá chừng”, người nghe sẽ cho là bạn nói tục, có oan cũng đành chịu vì, dù bạn không cố ý nhưng nắng cực, điện lu nói lái nghe tục thật. Tương tự như thế, hãy cẩn thận đừng nói dồn lại, dồn lên, đồn láo, đồn lầm…
Không biết có phải do được học tập và làm việc trong môi trường lập trình điện toán nên tôi cứ nghĩ rằng mọi việc xảy ra trên thế gian này đều được an bài qua việc lập trình sẵn. Có người cho rằng sự lập trình sẵn này là định mệnh, là do ông trời sắp đặt hay do thượng đế an bài. Tuy nhiên, sau khi được tiếp cận với giáo lý nhà Phật, tôi cho rằng không ai lập trình sẵn cho cuộc đời mình, tất cả đều do nhân duyên.
Cách nay mười năm tôi có một chuyến sang Nhật Bản vào mùa xuân. Chọn đi vào dịp này là để xem anh đào ngoài chuyện viếng các thắng cảnh nổi tiếng như núi Phú Sĩ, Kim Các Tự, các đền đài, cổ thành, hào lũy… qua các thời trị vì của các tướng quân cũng như thăm một số thành phố như Tokyo, Kyoto, Kobe, Nagoya, Osaka…
Hễ mỗi lần nghe nói ai mới qua định cư xứ tự do, mà họ bày tỏ lòng biết ơn, cảm kích với quê hương thứ hai, tôi cũng thấy mát lòng mát dạ sao á!
Được biết đến nhiều nhất về một tiểu thuyết về chế độ nô lệ –Uncle Tom’s Cabin (Túp Lều của Chú Tom), xuất bản năm 1852 – tác giả Harriet Beecher Stowe, nhà văn người Mỹ gốc Âu tích cực ủng hộ chủ nghĩa bãi nô...
Thuở xưa, theo lệ thường, những cô gái được tuyển vào cung bao giờ cũng phải được các vị nữ quan hoặc các viên thái giám dạy dỗ qua một hai khóa về lễ nghi để biết phép tắc cư xử trong cung, để ôn lại bổn phận người đàn bà, v.v... Một phụ nữ từ dân giả được tuyển vào cung, dần leo lên tới địa vị quốc mẫu lẽ nào lại không trải qua những khóa giáo dục đó? Khi đã được giáo dục mà không chịu theo phép tắc, hành động vượt lễ nghi đến nỗi gây tai tiếng trong dân gian thì khó ai chấp nhận được. Những động lực thúc đẩy mấy người “đàn bà yếu đuối” ấy dám đạp đổ cả lễ nghi của triều đình thường là tình yêu, tình dục, lòng tham... Liệt kê những phụ nữ này vào hạng “lộng hành phép nước” chắc hẳn không oan!
Ở Việt Nam, hồi xa xưa đó, cuộc sống giản dị nên rất ít nhà tư có mắc điện thoại, điện thoại công cộng đặt ở các bưu điện nhưng người dân ít quen sử dụng. Khi có việc cấp bách thì đánh điện tín. Ở công sở, trường học có trang bị điện thoại, nhưng thường chỉ có các sếp lớn gọi nhau đi họp hẹn hò cờ bạc hay hoạt náo cuối tuần...
Khi tình yêu đến độ mùi mẫn, khi hai tâm hồn hòa hợp đến mức không thể xa nhau, khi trái tim đã thuộc về nhau… Người con trai cất lời: “Em bằng lòng làm vợ anh không?” Đây là giây phút tuyệt đẹp, đẹp nhất đời, đây là cái khoảnh khắc tuyệt diệu nhất của kiếp người. Tình yêu thăng hoa bay bổng, hai người quyết định về với nhau, gắn bó với nhau, bây giờ thế giới của hai người là cả một cung trời mộng, mặt đất này là cõi địa đàng bướm hoa...
Gần đây cô cũng hay nghĩ về người chồng xấu số. Đúng ra cô thấy anh trong những giấc mơ. Cô thấy anh và cô đi dạo tại những nơi chốn thơ mộng của vùng đất cố đô nơi cô sinh ra và lớn lên. Những giấc mơ lạ, bởi cô gặp anh và kết hôn với anh khi cô đã vào Nam. Anh là người miền Nam và không hề ra thăm miền đất đó bao giờ. Nhưng trong giấc mơ cô thấy cô và anh thật rõ, khi thì ngồi bên nhau trong ngôi nhà cổ của ba mạ cô ở khu Gia Hội, khi thì thơ thẩn bên bờ sông Hương gần ngôi trường Trung học thân yêu của cô, khi thì đứng dưới bóng mát ngôi nhà thờ uy nghiêm sừng sững trên một ngọn đồi.
Thỉnh thoảng nổi hứng, ông bảo, để ông nấu nướng, bà dọn dẹp rửa chén. Ông nấu nhanh, mắm muối mạnh tay. Khi nghe ông thông báo trổ tài món thịt heo kho trứng, bà tưởng như lượng Cholesterol phóng vút lên trần nhà...
Sau khi công sản chiếm miền Nam Việt Nam họ chủ trương lùa dân thành phố đi kinh tế mới, một đề án to lớn mà rỗng tuếch vì không hề được đầu tư chuẩn bị. Bao nhiêu gia đình đã phải ra đi dù họ không hề mong muốn. Họ đập phá nhà cửa để lấy tôn, lấy gỗ hoặc là mang đến vùng kinh tế mới để cất lại nhà cửa, hoặc bán lấy tiền, nhà gỗ nhà tôn trở thành có giá trị hơn nhà xây gạch kiên cố vì còn lấy được những vật liệu...
Ngày 12 tháng 3 vừa qua, tác giả Trần Viết Ngạc vừa ra mắt cuốn sách "Bùi Huy Tín với Thực nghiệp Dân báo và Tràng An báo” tại Vườn Ý Thảo (số 3 Thạch Hãn, TP. Huế).


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.