Hôm nay,  

Muộn màng

07/07/202300:00:00(Xem: 2764)




“Mua giùm em đôi giầy nghe.” Rải nhạc vào thơ, giọng người đàn bà nghe vẫn ngọt ngào như ngày nào. Và lòng người đàn ông lại nao nao như đã từng.

           

Hắn ậm ừ vài giây cố nuốt cho xuôi cơn xúc động, rồi mới thì thầm, “Giầy gì?”

           

“Giầy đi tiệc đó.” Người đàn bà nhanh nhảu.

           

Bên cái nước Mỹ giầu sang ấy có thiếu gì giầy mà phải mua bên này gửi qua. Hắn nghĩ, toan nói ra điều đó, nhưng ngần ngừ một chút, lại thôi. Hắn hỏi vu vơ, “Tiệc à?”

           

“Ừa, đám cưới.” Nàng trả lời mau mắn.

           

Lòng người đàn ông chao xuống như cánh diều bắt hụt cơn gió.

           

“Đám cưới?”

           

Chắc là hiểu được nỗi lo âu trong lòng cái kẻ đang bồi hồi ở tận đầu kia đường dây viễn liên, người đàn bà vồn vã, “Đám cưới đứa em bà con. Đám cưới người ta mà.”

           

Ừ thì đám cưới người ta. Hắn thở ra. Chừng nào đến đám cưới mình. Hắn toan hỏi, nhưng nghĩ ngợi sao đó, lại thôi.

           

“Được hôn anh?”

 

            “Được chứ.” Với em thì thì cái gì cũng xong và bao nhiêu cũng được. Đến mạng sống người ta còn không tiếc nữa là. Hắn thầm nghĩ.

 

            Nhưng nàng không để cho hắn nghĩ ngợi lung tung. “Chừng nào gửi qua cho em được?”

 

            “Chừng nào đám cưới?”

 

            “Sắp rồi.”

 

            “Sắp à?”

 

            “Ừa.”

 

            Hình như bên ngoài trời đang mưa. Tiếng nước đổ trên mặt nhựa trải bãi đậu xe luồn qua khung kính cửa sổ nghe xa vắng, chập chùng. Bắt đầu từ lúc nào người ta nói chuyện nhát gừng với nhau như thế nhỉ. Người đàn ông ngẫm nghĩ. Những lúc bên nhau, giả như có nói chuyện rời rạc, hoặc không nói gì cũng chẳng sao bởi người ta còn nhìn được vào mắt nhau. Những ngón tay còn đan được vào tay nhau. Và môi rất thường khi đậu trên vai, trên tóc, trên môi. Còn xa cách như thế này, im lặng phút giây nào là lạc nhau phút giây ấy.

 

            “Anh đâu rồi?” Nàng nhắc hắn trong điện thoại.

 

            “Anh đây.”

 

            “Có gì lạ hôn?”

 

            “Nhớ em.” Hắn phun ra cái ý nghĩ sài mòn, èo uột.

 

            Người đàn bà lặng thinh. Người đàn ông càng không biết nói gì. Trong đầu hắn trống trải như căn phòng mà người thuê vừa dọn đi mảnh đồ đạc cuối cùng.

 

            Một lát, hắn hỏi cái câu cũ rích, “Chừng nào em về?”

 

            “Mai mốt.”

 

            “Mai mốt gì hoài...”

 

            “Về thiệt mà. Nhớ gửi giầy qua cho em.”

 

            Người đàn ông nghĩ ngợi, cố tìm một câu nói đùa.

 

            Một lát, hắn nghĩ ra. “Anh sẽ dán bùa vào gót giầy, gửi qua cho em.”

 

            “Chi vậy?” Nếu như có nàng bên cạnh, hẳn đôi mắt nàng sẽ tròn xoe, cái đầu nàng sẽ nghiêng và tóc sẽ chảy xuôi một bên vai; tất cả những thứ ấy phụ họa cho cái nét ngạc nhiên đáng yêu đã khắc sâu trong trí nhớ hắn.

 

Nỗi bâng khuâng nào đó chợt níu lấy trái tim, hắn nói nhỏ, như cho một mình hắn nghe, “Để lá bùa dẫn em về với anh.”

 

            “Thiệt hôn đó, anh hai?”

 

            Câu nói quen thuộc biểu lộ sự quan tâm của người đàn bà đến chuyện bùa phép làm người đàn ông thấy hào hứng.

 

            “Thật đó. Bùa Miên thiêng lắm!”

 

            “Ừa, bùa Miên ghê thấy mồ. Hồi ở trại tỵ nạn, em bị người ta bỏ bùa, sợ quá trời...”

 

            Hắn pha tất cả lòng thành khẩn gom góp được trên thế gian vào giọng nói, “Anh sẽ thỉnh bùa dán vào đế giầy, đôi giầy sẽ dẫn em trở về.”

 

            “Ghê!”

 

            Người đàn ông hình dung đôi môi trề xuống của người yêu. Cái đầu gật gù, những sợi tóc vắt ngang vai. Hắn mỉm cười với cái hình hài mờ ảo ấy.

 

            Nàng tiếp, cái giọng véo von của con chim hay hót buổi sáng trên cành phong trong bãi đậu xe khu chung cư, “Bé Angela khỏe hả anh?”

 

            Lòng hắn nhói lên cái đau của kẻ thua đậm trong mặt trận tình yêu. (Mai mốt có con mình đặt tên Angela anh há, Angela là Thiên Thần. Em thích tên Angela dễ sợ.)

 

            “Giờ em mới hỏi.”

 

            “Hả anh?”

 

            “Khỏe.” Giọng hắn thấm chút giận hờn. Hắn mân mê sợi dây điện thoại mầu ngà. Cái mầu nàng chọn cho những đồ đạc trong nhà. Cái mầu buồn nản như mầu cà phê sữa lợt.

 

            “Nó ở với ông bà nội em an tâm hơn ở với anh nữa đó.” Nàng nói, chắc là cùng với một cái nhún vai quen thuộc.

 

            Người đàn ông lặng thinh. Cả tuần nay mẹ hắn bệnh. Bố hắn phải loay hoay với đứa cháu đang lững chững tập đi. Hắn đi làm xa, ở trọ nhà người bạn, cuối tuần mới về một lần.  Lúc điện thoại về hỏi thăm, mẹ hắn rầu rĩ kể lể: tội nghiệp con bé nhớ mẹ, cứ ngủ thì thôi mà thức là khóc rề rề. Con bé giống mẹ. Con bé giống em. Tóc búp bê chạm hờ đôi vai mỏng. Môi cười trái tim như môi nàng công chúa trong truyện tranh cổ tích nào đó. Con bé giống mẹ quá trời là giống.

 

            Người đàn ông kéo người đàn bà về với chuyện bùa ngải. Hắn biết nàng sợ bùa phép, sợ thần linh, sợ làm điều sai trái. Hắn cố gạt hình ảnh con gái qua một bên, lên giọng hào hứng, “Đôi giầy có bùa Miên sẽ dẫn lối cho em về với anh, với con.”

 

            Nàng ngập ngừng, “Bên này làm gì có thầy bùa.”

 

            “Sao không. Trong hãng anh có mấy người Miên...”

 

            “Thôi, đừng nhờ người ta mất công, lại uổng tiền.” Câu trả lời hấp tấp của người đàn bà làm hắn hình dung nàng cuống cuồng phủi con sâu uốn éo bò trên gấu váy lúc hai người ngồi dựa vai nhau nói chuyện trời trăng mây nước trong công viên độ nào. Phủi con sâu xuống bãi cỏ trí nhớ xong, nàng dịu dàng, “Thế nào em cũng về với anh mà.”

 

            Người đàn ông thích thú, “Em cũng sợ chứ bộ.”

 

            “Không có. Em chỉ nghĩ không bùa nào mạnh bằng tình yêu.”

 

            “Là sao?” Hắn bàng hoàng hỏi không ra hơi.

 

            “Em sẽ về.” Nàng nói chắc như - người ta vẫn ví von với - đinh đóng cột.

 

            “Vì em vẫn còn yêu anh?” hắn hỏi gặng mà lòng thì không nén xuống cho được nỗi lo căng kéo.

 

            Nàng trả lời gọn hơ, “Chớ sao.”

 

            Bốn bức tường chữ nhật quay quay chung quanh làm hắn thấy như mình đang ngồi trong lòng chiếc máy bay nhỏ lúc bắt đầu cất cánh. Nàng bao giờ cũng ngọt ngào.

 

“Nhớ gửi giầy cho em nghe. Mua giầy mới uổng tiền. Để dành tiền mai mốt mua đồ cho cục cưng Angela có lý hơn.”

 

            Thế là nàng thuyết phục được hắn. Cho dù hắn không nhớ từ hai năm trời nay, nàng đã gửi về cho con được thứ gì. Hắn lặng thinh nghe nàng nói. Nàng kể chuyện trên trời dưới đất, chuyện công việc làm ăn, chuyện cơ sở thương mại, chuyện khủng bố nhắm vào nước Mỹ, chuyện thị trường chứng khoán lên xuống bất thường vì tình hình chiến tranh ở Trung Đông. Cuối cùng, nàng chúc hắn ngủ ngon. Hắn lập lại cái câu I love you cũ rích và hân hoan chờ nàng I love you too như mọi khi.

 

            Nhưng chờ hoài nàng chẳng nói gì, hắn đành chào tạm biệt.

 

            Và trước lúc buông ống nghe điện thoại xuống hắn vẫn không quên nhắc lại cái câu cũ rích, “Về với anh nghe!”

 

 

                                     ***

 

Hôm sau, hắn lặn lội tìm mua cho được đôi giầy cao gót mầu đen mà hắn tin là nàng rất thích.  Phải cho nàng thấy rằng dù gì đi nữa, hắn vẫn tôn thờ tình cảm hai người đã chia sớt bao nhiêu năm tháng. Suốt ngày, hắn loay hoay với ý nghĩ làm cách nào để kéo được nàng về với hắn và đứa con gái đang chập chững tập đi. Đứa con chưa nói sõi được hai chữ, “má ơi” thì người mẹ đã bặt tăm bặt tích.

 

Đêm ấy, hắn không sao ngủ được.

 

Nửa đêm hắn loay hoay với đôi giầy. Tình yêu mầu nhiệm. Lá bùa linh thiêng. Hai thứ ấy sẽ đưa đẩy cho em trở về. Hắn nhớ những lần nằm bên nhau, hắn sinh tật kể chuyện tiếu lâm lăng nhăng, nàng hay dụi đầu vào ngực hắn, thì thầm, “Bậy bạ quá!” Hắn lật gối lên, chiếc áo lót của nàng nằm ép bên dưới. Hắn phủ manh áo lên mặt. Hương da thịt nàng còn phảng phất trong từng sợi vải. Hắn luồn tay xuống dưới lớp chăn bông, hai người mua ở tiệm tạp hóa Việt Nam độ nào, tìm chiếc quần lót mầu hồng. Chiếc quần lót nhỏ bằng nửa bàn tay. Hắn nằm nghiêng, chiếc quần lót nằm trong lòng bàn tay. Hắn nhìn chăm chăm từng mũi chỉ, như gã độc giả say mê một trang tiểu thuyết diễm tình. Sợi dây thun mỏng cũng mầu hồng. Bông hồng thêu ở đáy quần. Sợi dây thun và những ngón tay hẳn đã quen hơi nhau. Trăm ngàn lần tháo gỡ. Đầu ngón tay hắn búng búng sợi dây. Tiếng động quen thuộc. Hắn lăn qua lăn lại. Hắn chồm dậy, vói tay lấy cái điện thoại, bấm những con số thuộc làu. Nhưng hắn ngừng lại ở số cuối cùng. Giờ này mười hai giờ rưỡi đêm bên ấy. Nàng cần ngủ để mai thức dậy sớm đi làm. Thôi thì rán gạt nỗi nhớ qua một bên. Hồi còn sống với nhau nàng vẫn giao hẹn, “Ban đêm hổng được đụng địa, sáng hôm sau em đi làm hổng được đó.”

 

Thôi, dù không đụng địa cũng hãy để yên cho nàng ngủ. Hắn bỏ cái điện thoại xuống, thở dài.

 

Hắn ngồi thụp xuống trước mặt người con gái, loay hoay tháo mối dây, cởi hai chiếc giầy cho nàng. Hắn nâng bàn chân nhỏ, bóp nhẹ những ngón mềm dưới làn vớ mỏng. Hôm qua anh làm biếng bóp chân cho em, giờ này vẫn còn nhức đó. Nàng phụng phịu. Để tối về anh bồi thường em. Anh massage overtime. Hắn nheo một con mắt. Nàng nói bâng quơ. Anh bậy bạ quá. Hắn ngước lên nhìn người con gái. Nàng cũng nhìn hắn đăm đăm. Mắt trong, môi hồng. Rồi hắn đẩy cho hai bàn chân nàng chuồi vào đôi giầy mới, lớp da mềm và mát lạnh. Những ngón tay ân cần buộc từng sợi dây giầy cho nàng. Hắn bảo nàng thử bước đi xem có vừa không. Nàng chạy nhảy tung tăng, một bên đế giầy nhọn vỡ ra, nàng lảo đảo, hắn ôm chầm lấy nàng. Hắn cúi xuống nhặt mảnh vỡ, đưa lên nhìn. Mảnh vỡ hình trái tim. Hắn giật mình thức giấc.

 

Hắn lăn bên này, lật bên kia. Chiếc giường trống trải. Ngày xưa nàng hay luồn bàn chân dưới bắp chân, dưới đùi hắn như con chó nhỏ, như con mèo con tìm hơi ấm. Bây giờ chiếc giường rộng thênh thang.

 

Hắn bật dậy, mở hộc tủ, lấy xấp hình hai vợ chồng ra coi. Nàng dễ thương như con chim nhỏ, hót ngoan trong chiếc lồng tình yêu. Hồi còn theo đuổi, hắn mua bánh, đốt nến sinh nhật cho nàng trong công viên thành phố. Những nụ cười tươi rói năm xưa. Hắn lật những tấm thiệp đầy những hình trái tim và bông hồng.

 

Một mảnh giấy rụng ra từ những trang thư cũ.

 

        Hắn trang trọng đặt mảnh giấy lên lòng bàn tay. Một lời thề độc. Nàng viết ra cho hắn. Năm xưa. Hắn cười một mình. Đàn bà con gái bao giờ cũng khôn ngoan, tinh quái hơn đàn ông con trai. Lần ấy, trong cơn hờn ghen, nàng bắt hắn thề - trên giấy tờ, có ký tên đàng hoàng – Lời thề ấy hắn chẳng bao giờ quên được. Nếu anh thay dạ đổi lòng, sẽ không còn ai trên thế gian này ngó ngàng tới anh, suốt một đời anh sẽ sống lẻ loi, và anh sẽ chết trong cô độc. Chữ ký của nàng ngoằn ngoèo bên cạnh chữ ký của hắn. Lần ấy, hắn hân hoan ký vào lời thề, nghĩ rằng mình là người hạnh phúc nhất trần gian.

Hắn hăng hái ký vào bản án bởi hắn biết mình sẽ không bao giờ thay dạ đổi lòng.

Anh chỉ còn một mình em trên đời này. Hắn đã nói cho nàng nghe trăm ngàn lần. Hẳn tới chết nàng cũng không cách gì quên được. Nàng đâu phải loại người dễ quên.

 

 

                                      ***

 

Trầy da tróc vẩy hắn mới tìm ra được địa chỉ ông thầy bùa. Nghe nói ông thầy Miên rất giỏi. Bùa dán trên mũ thì đầu óc sáng suốt, học đâu nhớ đó, thi đâu đậu đó. Bao nhiêu người đi thi quốc tịch đậu nhờ dán bùa trên đầu. Người ta đồn như vậy chẳng biết đúng hay sai. Rồi bùa dán trong áo thì mạnh khỏe (khỏi cần chích ngừa bịnh cúm vào mùa đông! Người giới thiệu nói vậy.) Và quan trọng nhất cho hắn là người có bùa gắn trong đế giầy thì sẽ không bao giờ lạc lối, đi đâu rồi cũng sẽ quay về.

 

Ông thày Miên tiếu lâm lại thích nhậu. Món nhậu của ông không tốn kém gì mấy. Ông thích món phụng trảo. Hắn nhìn những chân gà co quắp ướp nước sốt mằn mặn, ngòn ngọt. Muốn thử một miếng nhưng sợ thất lễ với ông thầy. Người dẫn mối dặn rằng chỉ cần mua món ấy đến làm lễ ra mắt ông thầy.

 

            Hắn chọn thầy Miên vì nghe nói ông ta giỏi bùa yêu. Nàng đã kể hắn nghe hồi ở trại tỵ nạn nàng bị người ta yểm, chút nữa thì lậm bùa. Hú hồn! Hồi đó có cái ông người Miên kia đó anh, ổng thích em mà em đâu có biết.

 

Hắn nhớ suốt đời hình ảnh ông thầy lúc cụng ly thì dzô, dzô náo nhiệt nhưng nói chuyện bùa yêu thì mặt ông đanh lại như mặt ruộng tưởng chừng sắp nứt ra vì khô hạn. Trên đường tới gặp ông thầy Miên, hắn đã ghé thăm bố mẹ, luôn tiện thăm con. Tội nghiệp ông bà cụ. Lụm cụm rồi mà còn chưa được nghỉ ngơi. Thiếu chút nữa là hắn đã buột miệng hứa với con bé rằng mummy sắp về tới.

 

“Không kết quả hổng lấy tiền. Cứ gửi giầy cho con dzợ, chừng nào con dzợ nó dzìa thì hãy đến trả tiền.” Ông thầy Miên quả quyết. Hai con mắt nhiều tròng trắng xoáy vào hắn. Cái đầu gật liên tiếp như hổ trợ cho điều vừa mới nói ra.

 

Hắn không biết nói gì. Đầu óc trống rỗng. Con mắt bận xăm xoi cái miệng ông thầy, nơi hai chiếc răng cửa bị sún để lại miệng hang đen ngòm như một ngăn địa ngục.

 

“Bòn không tin tui phải không?” Ông thầy bùa chợt hỏi.

 

“Dạ, tin chứ.”

 

“Tin sao bòn lặng thinh dzậy?”

 

Bàn tay phải hắn bẻ vu vơ những khớp xương của bàn tay trái. “Dạ, bao lâu mới có kết quả?”

 

“Bòn nói chi?”

 

“Chừng nào vợ tui mới về?”

 

“Làm sao tui biết được!”

 

Câu trả lời làm hắn sửng sốt. Nhưng ông thầy bùa đã gỡ đi dùm hắn cái băn khoăn. “Ở xa thì hơi lâu, ở gần thì chắc dzìa lẹ. Bòn phải tin tui. Sớm muộn gì y ta cũng dzìa.”

 

Hai ngày sau hắn hồi hộp trở lại nhận đôi giầy linh thiêng. Trước mặt ông thầy, hắn vẫn không bỏ được cái tật phải nhìn xoáy vào hai con mắt nhiều tròng trắng, qua tới cái hang miệng đen ngòm sau hai chiếc răng sún. Nhưng hắn không dám nhìn lâu, sợ ông thầy cho là thất lễ.

 

“Nhà con sẽ trở về hở thầy?”

 

Hắn dùng hai chữ nhà con với tất cả sự trìu mến có được, như ngày xưa, nàng vẫn hãnh diện my husband này my husband nọ với lũ bạn.

 

“Bảo đảm sẽ dzìa. Cứ tin tui, bùa của tui cộng với tình yêu của bòn sẽ làm trái tim con dzợ ấy rung động và y ta sẽ trở về.”

 

Hình ảnh nàng lỉnh kỉnh đẩy chiếc xe hành lý qua trạm quan thuế phi trường vào cái hành lang rộng thênh thang có chữ arrival trên trần làm hắn điên lên vì xúc động.

 

Hắn quỳ thụp xuống lạy tạ ông thầy bùa.

 

Lúc hắn ngước lên, nước mắt nước mũi hắn đầm đìa làm hình ảnh ông thày nhập nhòa như thể sắp biến vào cõi u linh.

 

Suốt buổi tối, hắn nằm mân mê đôi giầy cao gót như ngày xưa vẫn vuốt ve bàn chân nàng. Hắn hôn lên mũi giầy như ngày xưa thường hôn lên những đầu ngón chân nàng trước lúc yêu đương. Hắn miết đầu ngón tay lên cái gót giầy lờ mờ vết keo dán. Hắn tiếc đã không hỏi ông thầy có dán đế giầy bằng loại keo phẩm chất tốt không. Chỉ sợ nàng mới chưa dạo được nửa vòng cái plaza Phước Lộc Thọ, miếng dán đã vỡ ra và nàng sẽ vĩnh viễn không trở về.

 

Hắn mở thêm ngọn đèn trần, đưa cái đế giầy sát mặt, soi mói vết dán. Mùi keo còn nồng sặc lên mũi hắn. Đường nối lờ mờ. Người phụ tá của ông thầy quả là khéo tay, như gã thợ thủ công chuyên nghiệp. Phải nhìn kỹ lắm mới nhận ra vệt nối. Hắn mà làm một mình, đế giầy nàng hẳn sẽ lam nham như bị chuột gặm. Hắn tắt đèn. Rồi mở đèn. Cầm cái ống nghe điện thoại lên lẩm nhẩm những con số. Nhưng những ngón tay không chịu bấm những con số quen thuộc. Giờ này nàng đã đi làm về chưa nhỉ. Hồi mới xa, tối nào hai đứa cũng điện thoại cho nhau. Những tấm thẻ điện thoại xài hết hạn bó lại thành một cọc. Mai mốt em về anh sẽ đưa em coi. Hai đứa mình làm giầu cho công ty điện thoại. Bao nhiêu tiền đổ ra chỉ để nói cho nhau nghe vài ba câu vặt vãnh.

 

Đó là tình yêu. Dạo này ít gọi cho nhau vì nàng đổi giờ làm (hắn nghe nàng nói vậy thì biết vậy.) Nhưng làm thế nào để biết người ta còn yêu nhau. Hắn bỏ cái điện thoại xuống. Chỉ có vậy mà nghĩ hoài không ra.

 

Suốt đêm trằn trọc. Nghĩ đến lúc nàng trở về, nghĩ đến ngày ra phi trường đón người vợ thân yêu, nước mắt người đàn ông đầm đìa. Những giọt nước mắt của gã đàn ông lụy vì tình xóa nhòa khuôn mặt tiểu thơ mắt một mí lót trên tấm lịch treo tường.

 

Nửa đêm về sáng, hắn cạy cục tháo cái đế giầy, lấy miếng bùa kỳ quái ra. Phải tin tưởng vào tình yêu. Nếu để lá bùa, mai mốt làm sao biết được nàng về vì tình yêu hay vì bị yểm.

 

Hắn đặt miếng vải lên lòng bàn tay. Cảm thấy ngứa ngáy nơi phần thịt da tiếp xúc lá bùa. Miếng vải bố dầy cộm pha trộn nhiều mầu sắc: mầu nâu đỏ, mầu gạch cũ, mầu nền xi măng xám xịt. Ngay cả những sợi tua vải chung quanh cũng cứng như những cây kim nhỏ. Hắn tẩn mẩn nâng niu miếng bùa, không dám mạnh tay, sợ làm rụng đi những sợi vải hình mũi kim. Hắn đặt miếng bùa vào cái hộp nhỏ, cất vào hộc tủ. Hắn nhét vào lỗ trũng trong đế giầy miếng giấy ghi cái lời nàng bắt hắn thề năm xưa. Có chữ ký của nàng, cái chữ ký hắn mạo nhận để điền đơn xin giấy thông hành, gửi qua cho nàng, để nàng về Việt Nam thăm nhà. Mỗi nơi nàng ký một kiểu. Lời thề ấy bảo rằng nếu bỏ nàng, hắn sẽ sống cô đơn, khổ ải suốt phần đời còn lại. Đó là lá bùa đáng tin cậy nhất.

 

Hắn ghé ngôi chùa ngày xưa nàng đi cài hoa cho thiên hạ hôm lễ Vu Lan. Hắn ghé ngôi giáo đường quen. Hắn đưa đôi giầy, xin thần linh làm chứng, rồi gửi đi cho nàng. Gởi gói quà đi xong, hắn thơ thới trở về nhà ông thầy bùa, dự tính biếu lại lá bùa để ông thầy dùng cho người nào khác, bởi hắn biết trên thế gian này còn bao nhiêu kẻ đang mỏi mắt mong đợi một ai đó trở về.

 

May quá, ông thầy có nhà. Mấy lần trước ghé ngang, toàn thấy cửa đóng bít bùng. Số điện thoại cũ không còn gọi được. Hôm nay gõ cửa cầu may, sao lại hên. Gã đệ tử thân tín ra mở cửa. Hơi lạnh máy điều hòa không khí ùa ra khung cửa.

 

“Có ông thày ở nhà không ạ?”

 

Đang loay hoay sắp xếp những mảnh giấy nhỏ đủ mầu sắc trên mặt chiếc bàn gỗ nâu bóng, ông thầy Miên ngước lên, "Có chuyện chi dzậy?" Và như chợt nhận ra người khách quen, ông thầy ngưng công việc xếp giấy. "Con dzợ dzìa chưa dzậy?"

 

Hai mí mắt sụp của ông thầy bùa nhướng lên, bắt gặp nét gì đó trên mặt hắn, ông thầy hiểu ra ngay, "Phải chờ lâu lâu một chút chớ. Y ta chưa dzìa phải không?"

 

"Dạ chưa nhưng không sao." Hắn luồn tay vào túi áo ngực, lôi ra gói giấy nhỏ. "Tui gửi lại ông thầy lá bùa."

 

"Trời đất! Chi dzậy?"

 

Đang loay hoay lau bụi trên mặt chiếc bàn gỗ nâu, gã đệ tử chêm vào, "Không refund à nghe."

 

Lúc nhận lá bùa, hắn lịch sự trả tiền trước dù ông thầy đã hứa không kết quả, không lấy tiền. Hắn thong thả đặt gói giấy mỏng lên mặt bàn. "Vợ tui ô kê rồi. Trả lại thầy lá bùa, để giúp người khác."

 

Và hắn hân hoan ra về, ngỡ như mình mới đóng góp được chút tiền bạc cho công tác từ thiện.

 

 

                                     ***

 

Một buổi tối nàng điện thoại cho hắn báo tin đã xong khóa học.

 

“Anh đón em được hôn?”

 

Hắn ngạc nhiên vì câu hỏi đó nên không vội trả lời. Bộ nàng tưởng hắn không muốn chạy xe một trăm mười cây số ra phi trường nên xuống giọng buồn rầu như người chia buồn đám ma thế ư, “Thôi để em nhờ nhỏ bạn lại đón cũng được.”

 

Từ lúc nào người ta bắt đầu xa cách nhau như thế nhỉ. Từ lúc nào. Hắn muốn gào lên trong điện thoại. Đầu hắn nghĩ vậy, nhưng miệng hắn vẫn ngọt ngào, “Anh sẽ đón em.” Và hắn quả quyết, “Chỉ một mình anh được phép đón em.” Và hắn toan thêm, “Như ngày xưa” nhưng kịp dừng lại đúng lúc.

 

“Em về thiệt hả?”

 

“Sao hổng thiệt, anh hai!” Nàng trách móc dịu dàng.

 

Rồi cơn vui tràn ngập lòng hắn, trào ra mắt, mũi thành dòng nước sụt sùi, ngập lụt căn phòng. Hắn xoa miết bàn tay xuống mặt nệm. Vải lụa mềm mại mát rượi. Chiếc nệm này không bao lâu nữa sẽ tràn trề thịt da em. Hắn nói năng huyên thiên như người cuồng trí. Trời ơi, anh biết thế nào em cũng về. Đêm nào anh cũng cầu nguyện. Anh cầu Chúa hay Phật. Cả hai. Nàng hỏi. Hắn hăng hái trả lời. Hình như trời chuyển mưa bên ngoài. Mùa màng dạo này thay đổi không ngờ. Bóng tối phủ chụp không gian. Nằm ngửa trong vũng tối âm u nhưng hắn thấy rõ lắm đôi mắt nàng ngây dại nhìn xuống hắn. Hai bầu vú đong đưa. Tóc phủ kín khuôn mặt. Rồi hắn lan man qua chuyện đi tìm bùa yêu, dán vào gót giầy để bùa yêu dẫn nàng trở về.

 

Nói liên tu bất tận cả giờ đồng hồ hắn mới nhận ra rằng nãy giờ nàng không nói câu nào.

 

“Em đâu rồi?”

 

Giọng nàng buồn phiền, “Em đây nè.”

 

“Nói gì anh nghe đi.”

 

“Anh trả lại lá bùa cho ông thày Miên rồi phải hôn?” Nàng rầu rĩ.

 

“Sao em biết?”

 

“Em biết chớ.”

 

“Bộ cái đế giầy dán keo bị sút ra hả?” Hắn lo lắng hỏi.

 

“Hổng có, nhưng em tò mò mở ra coi.”

 

Hắn lặng đi một phút đồng hồ rồi rụt rè tiếp, “Anh biết không cần bùa yêu em cũng trở về.”

 

Nàng lặng thinh.

 

Hắn hỏi gặng, “Phải không?”

 

Nàng vẫn lặng thinh. Nhưng dường như hắn nghe được tiếng thở dài của nàng ở đầu dây xa lơ lắc.

 

Và bỗng nhiên nàng nói một hồi bằng giọng buồn thiu, “Phải chi anh đừng trả lá bùa lại cho ông thày Miên; phải chi anh cứ dán lá bùa vào đôi giầy, phải chi anh cũng đừng cho em biết là anh dán bùa vào đế giầy...”

 

“Em nói gì vậy?” Hắn ngắt lời nàng. “Bộ em tính không về thiệt hả.”

 

“Về chớ. Em phải về ký giấy custody cho anh. Em phải về mang đồ qua bên này... Mấy cái áo hồi đó đem từ Việt Nam qua... Hello anh; anh đâu rồi?”

 

Lời nàng nói như sóng thần xóa tan lục địa. Nàng dùng cả cái chữ tiếng Anh nàng không bao giờ nói thuở hai người còn ở với nhau. Cái chữ hắn không bao giờ nhắc tới từ lúc nàng bỏ quê hương tình yêu qua cái xứ sở bội bạc ấy học nghề uốn tóc. Bé Angela là bằng chứng tình yêu một đời của hắn. Không ai được phép tước đoạt cho dù người ấy có được tòa cho quyền trông coi con bé hay không.

 

Nàng nói nhiều lắm nhưng tai hắn lùng bùng. Chắc đường dây điện thoại bị nhiễu sóng. Âm thanh nhập nhằng đổ vào tai hắn. Hắn nhớ lá bùa mầu đỏ gạch. Những sợi vải tưa ra ở cạnh. Lá bùa yêu. Thế nào em cũng trở về. Trở về. Ai sẽ trở về. Muộn quá rồi. Tôi ơi. Hai hàm răng ngậm chặt đầu lưỡi.

 

“Nói gì đi anh.” Nàng nhắc.

 

Nói gì bây giờ. Nói gì nữa bây giờ. 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Xe đò vừa vào Phan Rang thì kỷ niệm cũng vừa tràn về thốc tháo trong lòng bà, như làn gió nóng của miền Trung nắng cháy đang lùa vào các khung cửa xe một cách hăm hở. Bà gỡ đôi kính mát xuống để nhìn hai bên đường cho rõ hơn. Phan Rang. Con đường Thống Nhất. Bốn mươi năm. Nhưng bà ngạc nhiên vì thấy mình không đến nỗi lạc lõng sau những năm tháng dài như thế. So với nhiều thành phố khác, Phan Rang dường như không thay đổi gì mấy. Rõ ràng là con đường cũng như mấy thập kỷ qua, không được mở rộng ra chút nào. Từng hàng cây cổ thụ dễ đến trăm năm vẫn còn lác đác chạy dài theo hè phố. Nhà cửa có lô nhô nhiều căn cao hơn trước, nhưng chưa đủ để thành phố có một khuôn mặt khác lạ đối với người lữ khách lâu ngày vừa trở lại.
Tiếng khánh réo rắt ngân dài và lan toả trong không gian như những vòng sóng tròn, càng loang xa vòng tròn càng lớn, bao trùm cả đất trời. Âm thanh bay lên tận trời xanh, xuyên thấu vào lòng đất như mũi dùi chọc thủng cả địa ngục A Tỳ. Bọn quỷ đói rùng rùng kéo về hướng phát ra tiếng khánh, chúng đông hơn quân Nguyên, hình thù quái dị, trông gớm ghiếc vô cùng. Cứ thường lệ mỗi buổi chiều, chúng ngóng đợi tiếng khánh để được ăn bữa chiều.
Cũng vì ích kỷ muốn ăn ngon, muốn ăn bổ, nên con người đã tạo cho con virus Corona có cơ hội lây từ thú sang người ở Vũ Hán và chỉ với một thời gian ngắn đại dịch đã bùng phát gần như ở tất cả các quốc gia trên thế giới, hiện nay vẫn còn tiếp diễn chưa chịu dừng lại.
Một trong những cuộc đua Marathon nổi tiếng, và lâu đời nhất thế giới dành cho người tham dự từ nghiệp dư đến chuyên nghiệp từ khắp các quốc gia là Boston Marathon bị hủy bỏ . Cuộc đua truyền thống dài hơn 26 miles (khoảng 42km) hàng năm chạy qua 8 thành phố của Massachusetts bắt đầu từ năm 1897 chỉ có 15 người tham dự, là một trong 6 cuộc đua Marathon quan trọng nhất thế giới hàng năm. Lần đầu tiên trong 124 năm, sự kiện thể thao hàng năm -có lúc quy tụ đến nửa triệu người quan sát và hơn 38 ngàn vận động viên- bị hủy bỏ trong năm 2020 vì đại dịch cúm Tàu. Ngay cả trong hai thế chiến (1914-1918 và 1939-1945), Boston Marathon vẫn được tổ chức , và là một truyền thống văn hóa cả trăm năm của Bostonians.
Đó là một buổi chiều, lớp tôi được nghỉ môn học giữa giờ vì cô giáo bịnh. Chúng tôi, ba đứa bạn thân và tôi, rủ nhau ra ngoài trường, tản bộ trên vỉa hè quen thuộc có hàng cây rợp mát. Đi dọc theo đường Bà Huyện Thanh Quan, ngắm những căn biệt thự nằm khuất bên trong khoảng sân rộng, bốn đứa chúng tôi hỏi nhau căn nhà nào đẹp, và thích căn nào. Đứa thích nhà trồng nhiều hoa. Đứa thích nhà có cửa sổ bốn phía, v..v... Bỗng dưng tôi nghe có tiếng dương cầm văng vẳng trong gió khi vừa đi qua. Tôi dừng chân trước một biệt thự cổ kính. Âm thanh phát ra từ trên lầu. Tôi ngắm kỹ ngôi nhà và thấy bức tường đá của nó được phủ kín bởi một loại dây leo có lá nhỏ tròn, bò ngộ nghĩnh. Bức tường cao quá nên tôi không thấy gì bên trong, chỉ nhìn qua song cửa sân. Lúc đó tôi sợ bị người ta bắt vì tội nhìn lén nên đứng xớ rớ một lát rồi đi.
Xuyên qua từng áng mây chĩu nặng hơi nước, những tia nắng đìu hiu của một buổi chiều như đang ngập ngừng bên ngoài khung kính của chiếc Boeing đồ sộ – đang bay. Bảo-Trân nghiêng một bên má sát vào mặt kính để nhìn lại phía sau. Dalat đã chìm khuất, chỉ còn những đóm sáng ly ty từ những tòa buildings trên triền núi cao. Từ những triền núi, hơi lạnh toát ra, tạo thành những phiến sương buồn, che khuất những khe núi thâm u rồi bay lang thang trong vùng không gian im vắng để đợi chờ ánh hoàng hôn.
Cho đến lúc nào có thuốc chủng ngừa COVID-19, càng ngày người ta càng cẩn thận hơn trong giao tiếp. Những lối đi giữa các aisle trong chợ Mỹ bắt đầu trở thành "đường một chiều" để tránh "mặt đối mặt" giữa khách hàng, tránh tình trạng Coronavirus "bành trướng" qua nạn nhân mới. Còn hơn thế nữa, các chợ đã bắt đầu cấm người không đeo khẩu trang vào chợ. Mỗi chợ còn cử một nhân viên ngồi ở cửa ra, vào để bảo đảm 100% khách hàng vào chợ đều có mang khẩu trang.
Cưu mang lắm việc rồi đến tuổi hưu ta cũng phải tự hỏi, ta làm được những gì cho đời? Lớn lên trong chiến tranh, hư hao đổ nát, mang nhiều ước vọng vào đời, phục vụ đất nước chưa đầy mươi năm, trôi giạt xứ người, cuộc sống lưu vong của ông thật là hẩm. Đến Mỹ tháng 11 năm 79, sau thiên hạ gần 4 năm, ông không thể nào trở lại nghề bác sĩ, mặc dầu ông thi đậu bằng cấp hành nghề bác sĩ tại Mỹ. Ông hài lòng với nghề tư vấn tâm thần vì với nghề này, ông có cơ hội trở lại phục vụ cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Ông đã được nhận là Giám đốc chương trình Bịnh Tâm Thần cho người tị nạn Đông Dương tại Chicago. Nhờ vậy, ông lúc nào cũng thấy phấn khởi. Ông chưa bao giờ an phận dừng chân. Năm nay, tuổi thật, ông đã 68, ông vẫn chưa biết đâu là bến đậu, lúc nào là lúc thả neo lần cuối để cho chiếc tàu đời ông được an nghỉ.
Cả ngàn cây im phăng phắc, không một chiếc lá lay, không một cơn gió thoảng. Khu rừng trầm lắng đến độ có thể nghe được âm thanh tăng trưởng của từng thớ gỗ trong thân cây, cái không khí lặng mà căng như dây đàn, nó dồn nén tưởng chừng chỉ cần một tác động nhỏ cũng có thể làm bùng lên, nổ tung ra. Toàn bộ cây rừng đang lo lắng cho số phận của mình, dù biết rằng có lo sợ cũng không giải quyết được gì, nhưng một khi đứng trước cái chết gần kề thì không thể nào không lo. Các loài thú rừng, chim muông, sâu bọ…cũng hoang mang tột độ.
Tôi không hề biết nguyên tên họ của bác Bích, vì từ lâu lắm rồi, bác là: Bà Tô Thùy Yên. Tôi lâu lắm mới gặp Bác Bích, ôm Bác được vài lần, nhưng tôi cảm nhận được hơi ấm rất gần gũi, thân quen, vì đó là hơi ấm của mẹ tôi, của một người đi trọn con đường chông gai, nhọc nhằn bên cạnh một tên tuổi lớn, của thi ca Việt Nam.
quý vị và các bạn đã cùng tôi trở về Mỹ Tho thân yêu qua hình ảnh sinh hoạt của một thời hoa mộng trên những con đường chính của thành phố, những con đường một thời đã in hình gót chân bay nhảy của tuổi thơ và thanh xuân nhưng chắc chắn rằng Mỹ Tho luôn luôn khắc ghi trong tâm tưởng những người đã gắn bó một phần đời hay cả đời với thành phố yêu dấu.
Đêm qua trăng sáng lắm, sáng đến nỗi tỏ cả đường chỉ tay, không gian im ắng lạ thường, tiếng côn trùng vốn nỉ non hàng đêm ấy vậy mà cũng im bặt, sự im lặng đến nghe rõ cả nhịp tim thì thụp. Chừng nửa canh giờ quá khuya thì gió bắt đầu nổi lên ào ào, dân quanh đình nhiều người nghe rõ mồm một tiếng ngựa hí, tiếng quân reo, sau đó thì tất cả bất chợt im bặt, chỉ còn tiếng vó độc mã gõ lộp cộp ở sân đình.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.