Hôm nay,  

Cữ sáng...

26/07/202310:31:00(Xem: 3942)
Truyện

BIA 2

Bao năm qua, đã đến sống trong làng chài từ lâu lắm, đã làm bạn kéo lưới qua nhiều chủ ghe, chủ tàu cá, Tư Dầm vẫn nghèo, vẫn túng, không hề sắm nổi cho mình chiếc ghe câu để tự kiếm sống qua ngày. Hiện nay, do không được chủ ghe nào mướn, Tư thất nghiệp dai dẳng, chỉ còn biết đi giúp việc cho một người bạn. Hằng đêm, gọi là “đi làm”, Tư phải thức dậy từ 1, 2 giờ khuya để mò xuống chiếc ghe của bạn đậu ở bờ sông. Hai người chỉ quẩn quanh trong những khúc sông nước mặn vùng này vì ghe quá nhỏ và quá cũ nên không dám ra tới cửa biển.Và dù được bao nhiêu cá tôm, họ cũng quay về khi trời sáng bửng.
    Về đến nhà, Tư Dầm chui luôn vào giường, ý như ngủ bù vì thường anh rất mệt mỏi. Anh cũng cần ngủ cho qua cơn đói bụng, nhưng đúng ra anh còn đói thứ khác nữa. Nhà vắng vẻ, vì từ hừng đông, chị Tư đã dọn hàng cháo đậu ra bán ở gần cổng làng. Anh Tư trằn trọc mãi, không thể tự dỗ giấc ngủ của mình. Không chịu trăn trở nữa, anh ới gọi thằng con trai đang chơi trước nhà. Rồi thằng nhỏ chạy te te ra đầu đường, lớn giọng nói với mẹ: “Má, ổng kêu về kìa!”, và thường là nó nói tiếp luôn như đã được cha mình dặn dò kỹ càng “Về liền đó nha!”
    Người đàn bà ngán ngẩm đậy nắp nồi cháo, cúi mặt và nói rất nhỏ với bà già bán bánh căn ngồi sát bên, nhờ coi giùm gánh hàng một lát. Bước vào nhà, chị chỉ khép hờ cánh cửa, đi thẳng vô buồng, nằm bên cạnh chồng. Anh chồng có thì thầm một, hai câu hỏi ngắn gì đó cho có lệ. Bên ngoài, trời đã sáng rõ nhưng trong căn buồng tối tăm chợt như tối ám hơn nữa khi hai nguời ôm nhau, đúng hơn là anh chồng nhào lên thân thể vợ mình. Chị vợ nằm xuôi xị, quay mặt chỗ khác mà không nhìn vào mặt người bạn đời thô lỗ. Chị buồn bã, câm nín như đang cố gắng chịu đựng một nỗi tủi nhục lớn lao đã kéo dài qua bao năm tháng của kiếp làm vợ…
    Một lát sau, nguời ta thấy chị Tư trở ra – không ai dám quả quyết là người đàn bà này đã có thì giờ rửa ráy mình mẩy, chân tay hay không – ngồi bán cháo tiếp.
    Còn chồng chị Tư? Tư Dầm đã tự ngủ được sau khi ngủ với vợ. Không khác một đứa trẻ, đã to đầu, lớn xác và vừa được chìu một sở thích nào đó. Tư đã có thể ngủ một giấc tới trưa. Và Tư cũng có thể mặc sức ngủ luôn cho tới đợt làm tình kế tiếp vào ngày hôm sau, lại vào giữa buổi sáng dù vợ anh không hề sẵn sàng chút nào cho chuyện ái ân vì chị lại bận túi bụi cho chuyện buôn bán, kiếm sống cho cả gia đình hằng ngày hằng buổi bấy lâu...
    Qua ngày hôm sau, lịch sinh hoạt xác thịt hồn nhiên của anh đàn ông đã bị chao đảo, đột ngột thay đổi ngoài ý muốn của anh. Chị Tư gói ghém một ít đồ đạc, vội vã đi về quê của chị ở tận một huyện xa, thăm bà má đang ốm nặng. “Ông ở nhà một mình ít ngày, coi chừng thằng nhỏ…” Chị căn dặn anh chồng tới lui mấy lần rất minh bạch. Nhưng anh đàn ông lại mơ hồ hiểu khác đi, rằng trúng vào tình cảnh vợ đi vắng, mình phải ở “một mình”, chỉ có nghĩa là anh ta phải chịu đựng nỗi thiếu vắng cữ ân ái đầu ngày, y như phải nhịn ly cà phê không thể thiếu vào bữa điểm tâm sáng hay một món cá mặn quen thuộc ở bữa cơm trưa…
    Cái tập quán, hay đúng hơn là thói tật ân ái kỳ khôi, trì độn của Tư Dầm cứ diễn ra hoài sau những đêm anh đi lưới. Lần hồi dân trong xóm làng, không biết bằng cách nào, đều biết hết và nhiều người cho là Tư quá dâm dục. Đúng ra, riêng đối với Tư, nguời đàn ông ít nói, trí tuệ cũng thường câm nín y như miếng cá khô, đôi khi cũng có ý thức phản tỉnh. Chướng thiệt!  Mơ hồ anh tự cảm thấy mình không ổn khi cứ ngày ngày, sáng ra là đòi vợ phải ngưng ngang công việc buôn bán kiếm sống ngoài đường cho cả gia đình để tất tả đi nhanh về nhà cho anh thỏa mãn cơn dâm dục. Nhưng đã nói là anh vốn rất ngại suy nghĩ và rất mau quên là mình đã từng áy náy chuyện gì đó trong đời.
    Vợ chồng lấy nhau thì bình thường, không phạm đạo lý gì, nhưng kiểu lấy, ngủ với vợ của anh đã bị người ngoài kết án là bậy, là tội lỗi, dù kiểu thèm muốn của anh hồn nhiên như trẻ thơ vô tội.
    Ngay khi còn ngồi trên ghe, lo kéo lưới kiếm cá trong đêm tối, thì y như một đứa bé đang làm một công việc nghiêm túc nhưng lại không tập trung, chỉ háo hức nghĩ về một món đồ chơi, một trò chơi thích thú mà lát nữa nó sẽ được vui hưởng, Tư Dầm đã cứ đực mặt ra, đôi mắt đứng tròng như ngây như dại. Anh chìm ngập trong sự tưởng tượng dai dẳng tới chuyện ôm ghì lấy thân thể trần truồng của vợ mình.
    Mà hiện giờ, anh chàng khố rách áo ôm, gần như thất nghiệp quanh năm này còn có thứ hưởng-thụ-cuộc-đời nào khác, có sẵn trong nhà, trong tầm tay với và nhất là, hoàn toàn miễn phí? Chỉ tội nghiệp cho nguời đàn bà. Ngày ngày, chị Tư phải sống mãi cái kiếp vừa nai lưng bán buôn nuôi con, nuôi chồng, vừa phải chìu chồng y như một ả nô lệ phải cung ứng thân xác mình cho thú vui tình dục của ông chủ. Chỉ nội trong một buổi sáng phải chìu chồng như thế, chị phải cúi mặt chịu đựng,  ít nhất là hai lần cái nhìn của những nguời bán hàng bên cạnh chị cùng khách mua cháo hay ngồi ăn cháo trước mặt chị, khi chị phải đậy nắp nồi cháo để tất tả chạy về nhà và cả khi trở ra ngồi bán tiếp.
    Riết rồi thì cũng không còn ai trong làng thèm bàn tán về chuyện Tư Dầm quá dâm, cùng những cữ ái ân thường nhật khi trời đã sáng bảnh mắt của cặp vợ chồng cơ cực, nghèo tiền bạc, nghèo thú vui này.
    Cùng một thân phận ngư dân lam lũ, cuộc sống quá khó khăn, quá ít niềm vui và thú giải trí, cánh đàn ông trong làng có thể dễ dàng thông cảm cho anh bạn Tư Dầm. Và trước đó, bọn đàn ông cũng đã kiếm ra lý lẽ để thông cảm cho chính bản thân mình. Cái chuyện thằng Tư Dầm cứ đòi vợ lúc tảng sáng hay chuyện tụi tui mò vô nhà tắm lúc vợ tắm đêm khuya, có gì là tội lệ? Đã là đàn ông còn khoẻ mạnh thì tụi tui phải tự kiếm cách thỏa mãn cho chính mình chớ. Con người chớ đâu phải thần thánh?
    Nếu lý lẽ chơn chất nói trên của cánh đàn ông ngư dân may mắn được các nhà đạo đức chia sẻ thì, cứ khi mặt trời thức giấc, mở đầu một ngày mới, Tư Dầm, gã đàn ông điển hình, lại đều đặn nghĩ tới rồi thực hiện luôn cữ ân ái với vợ mình, thì cũng là chuyện bình thường, không có gì khác lạ so với chuyện những người đàn ông đủ mọi lứa tuổi khác lại đều đặn nghĩ tới và đi kiếm cữ cà phê, cữ bánh mì, cữ xôi… Hay nếu không còn sức ân ái, không uống được cà phê vì bác sĩ cấm, không nhai được bánh mì vì răng rụng, như trường hợp các cụ ông lắm bệnh, thì lại có thứ khác để các cụ đều đặn nghĩ tới và đi tìm, đó là thuốc men cữ sáng trị các chứng huyết áp, tiểu đường, phì đại tuyến tiền liệt, gai cột sống…

 

– Phạm Nga

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Quỳnh Lâm báo tin sẽ đến Đức trong tuần lễ đầu tháng 10. Nisha vội vàng thu xếp “sự vụ lệnh“ để công du sang Đức. Nisha lo đi chợ sắm sửa đầy mấy tủ lạnh, tủ đá, để mấy cha con sống còn trong thời gian nữ tướng đi xa. Chúng tôi hồi hộp quá, ngày nào cũng thư từ, nhắn nhủ, dặn dò đủ điều tẳn mà, tẳn mẳn. Điện thư qua, về hoa cả mắt. Thư nào chúng tôi cũng nhắc nhở nhau giữ gìn sức khoẻ, vì đứa nào cũng “lão” rồi. Khi gặp nhau, tụi tôi nhất thiết phải đầy đủ tinh thần minh mẫn trong thân thể tráng kiện. Có hôm, đến trưa, chưa nghe tăm tiếng, tôi sốt ruột, xuất khẩu làm thơ... bút tre:
Sống ở đây an toàn và bình an gần như một trăm phần trăm trong hiện tại và tương lai, nhưng không thể bình thản hóa quá khứ. Cuộc chiến khốc liệt giữa thiên thần và ma quỉ luôn ám ảnh ông. Có những điều gì thao thức, âm thầm nghi hoặc, nhoi nhúc sâu thẳm trong ông. Lòng tin vào ông Gót có phần nào lung lay. Đông cảm thấy có lỗi khi nghi ngờ bố, người đã giúp đỡ, bảo vệ ông và Vá. Nhưng nghi ngờ là một thứ gì không thể điều khiển, không thể đổi đi, không thể nhốt lại. Nó vẫn đến, mỗi lần đến nó vạch rõ hơn, nhưng vẫn mù sương như đèn xe quét qua rồi trả lại sương mù.
Trâm gật đầu nhè nhẹ. Đoan nghĩ thật nhanh đến một cảnh diễn ra mỗi đầu tháng trong sân trường. Nơi đó, các sinh viên xúm xít cân gạo và các loại “nhu yếu phẩm”, mang phần của mình về nhà. Rồi thì trong khu phố, cảnh những người dân xếp hàng “mua gạo theo sổ” cũng diễn ra mỗi ngày. Nói “gạo” là nói chung thôi, thật ra trong đó phần “độn” chiếm đa số. Phần “độn” có thể là bo bo, có thể là bột mì, cũng có thể là khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô. Nồi cơm nấu từ gạo và một thứ khác được gọi là nồi “cơm độn.” Mỗi ngày hai bữa cơm độn. Bo bo thì quá cứng vì vỏ ngoài chưa tróc, nấu trước cho mềm rồi cho gạo vào nấu tiếp, trở thành một “bản song ca” chói tai. Khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô thường bị sượng, ghế vào cơm rất khó ăn. Chỉ có bột mì tương đối dễ ăn hơn, vì người nấu có thể chế biến thành bánh mì, nui hay mì sợi
Mùa đông, tuyết đóng dầy trên mái nhà. Ấy là lúc bà ngoại cũng lo là lũ chim - những con chim của ngoại - sẽ chết cóng. Nhưng bà không biết làm gì để cứu chúng nó. Ngoại đi tới đi lui từ phòng khách qua nhà bếp. Thở dài. Rên rỉ. Rồi lẩm bẩm, “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.” Bà ngoại tội nghiệp những con chim chết lạnh. Sinh nhật ngoại, chúng tôi chung tiền mua quà. Một con sáo trong chiếc lồng tuyệt đẹp. Bà ngoại cưng nó hơn cưng chị em tôi. Cho nó ăn, ngắm nghía bộ lông đầy màu sắc của nó. Chăm chú lắng nghe tiếng hót véo von lúc chớm nắng bình minh và buổi hoàng hôn nắng nhạt. Rồi một buổi sáng nọ tiếng chim thôi líu lo. Bà ngoại chạy ra phòng khách. Hấp tấp tuột cả đôi guốc mộc. Con chim sáo nằm cứng sát vách lồng. Hai chân duỗi thẳng. Cổ ngoặt sang một bên. Con chim của ngoại đã chết. Bà ngoại buồn thiu cả tuần lễ. Bố mẹ tôi bàn tính mua con chim khác. Bà gạt ngang.
Tôi là người viết báo nghiệp dư. Từ khi khởi viết vào năm 1959, tay cầm viết luôn là nghề tay trái. Tôi sống bằng nghề tay phải khác. Cho tới nay, nghề chính của tôi là…hưu trí, viết vẫn là nghề tay trái. Tôi phân biệt viết báo và làm báo. Làm báo là lăn lộn nơi tòa soạn toàn thời gian hoặc bán thời gian để góp công góp sức hoàn thành một tờ báo. Họ có thể là chủ nhiệm, chủ bút, tổng thư ký, thư ký tòa soạn hay chỉ là ký giả, phóng viên. Nhưng tôi nghĩ người quan trọng nhất trong tòa soạn một tờ báo là ông “thầy cò”. Thầy cò ở đây không có súng ống hay cò bóp chi mà là biến thể của danh từ tiếng Pháp corrector, người sửa morasse. Morasse là bản vỗ một bài báo cần sửa trước khi in.
Sáu tuần. Nàng đã đi ra khỏi mụ mị từ trong mối tình hiện tại của mình. Cô bạn gái hỏi "Tỉnh chưa?". Tỉnh rồi, nhưng tỉnh không có nghĩa không yêu anh ấy nữa, chỉ là không còn mụ mị mê muội nữa thôi...
Trong bóng tối dày đặc, dọ dẫm từng bước một, hai tay vừa rờ vào hai bên vách hang động, vừa quơ qua quơ lại trước mặt, dù cố mở mắt lớn, chỉ thấy lờ mờ, nhiều ảo ảnh hơn là cảnh thật. Cảm giác bực bội vì đã trợt té làm văng mất ba lô, mất tất cả các dụng cụ, thực phẩm và nước uống cần thiết. Bối rối hơn nữa, đã rớt chiếc đèn bin cầm tay, mất luôn chiếc đèn bin lớn mang bên lưng và máy liên lạc vệ tinh có dự phòng sóng AM. Giờ đây, chỉ còn ít vật dụng tùy thân cất trong mấy túi quần, túi áo khoát và hoàn toàn mất phương hướng. Chỉ nhớ lời chỉ dẫn, hang động sẽ phải đi lên rồi mới trở xuống. Trang nghĩ, mình có thể thoát ra từ lối biển. Là một tay bơi có hạng, nàng không sợ.
Cô người Nha Trang, lớn lên và đi học ở đó. Cô sinh trưởng trong một gia đình gia giáo, mẹ cô đi dậy học, ông thân cô cũng là hiệu trưởng một trường trung học lớn ở Phú Yên. Năm 22 tuổi, cô học năm cuối đại học văn khoa Huế thì gặp gỡ chú Hiếu trong một dịp hội thảo sinh viên do các biến động thời cuộc miền Trung bắt đầu nhen nhúm. Chú Hiếu lúc đó đang theo cao học luật. Họ thành đôi bạn tâm giao tuổi trẻ, sau thành đôi uyên ương. Ba năm sau khi Trang vừa 25 tuổi, Hiếu đã nhậm chức chánh án tòa thượng thẩm.
Nhà trẻ kế bên bệnh xá. Trong góc một trại giam. Nhà trẻ có sáu đứa con nít. Bệnh xá có mấy bệnh nhân già. Coi bệnh xá là một tù nam nguyên là y tá ngoài đời. Coi nhà trẻ là một tù nữ án chung thân. Coi cả hai nơi ấy là một công an mà mọi người vẫn gọi là bác sĩ! Sáu đứa con nít đều là con hoang. Mẹ chúng nó là nữ tù bên khu B, đừng hỏi cha chúng đâu vì chúng sẽ không biết trả lời thế nào. Cũng đừng bao giờ hỏi mẹ chúng nó về chuyện ấy vì rằng đó là chuyện riêng và cũng là những chuyện rất khó trả lời. Thảng hoặc có ai đó được nghe kể thì lại là những chuyện rất tình tiết ly kỳ lâm ly bi đát… chuyện nào cũng lạ, chuyện nào cũng hay
Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
Ông Hải đứng trước của nhà khá lâu. Phân vân không biết nên mở cửa vào hay tiếp tục đi. Tâm trạng nhục nhã đã ngui ngoai từ lúc nghe tiếng chim lạ hót, giờ đây, tràn ngập trở lại. Ông không biết phải làm gì, đối phó ra sao với bà vợ béo phì và nóng nảy không kiểm soát được những hành động thô bạo.
Vuốt lại tấm khăn trải giường cho thẳng. Xoay chiếc gối cho ngay ngắn. Xong xuôi, hắn đứng thẳng người, nhìn chiếc giường kê sát vách tường. Có cái gì đó thật mảnh, như sợi chỉ, xuyên qua trái tim. Hắn vuốt nhẹ bàn tay lên mặt nệm. Cảm giác tê tê bám lên những đầu ngón tay. Nệm giường thẳng thớm, nhưng vết trũng chỗ nằm của một thân thể mềm mại vẫn hiện rõ trong trí. Hắn nuốt nước bọt, nhìn qua cái bàn nhỏ phía đầu giường. Một cuốn sách nằm ngay ngắn trên mặt bàn. Một tờ giấy cài phía trong đánh dấu chỗ đang đọc. Hắn xoay cuốn sách xem cái tựa. Tác phẩm dịch sang tiếng Việt của một nhà văn Pháp. Cái va li màu hồng nằm sát vách tường, phía chân giường. Hắn hít không khí căn phòng vào đầy lồng ngực. Thoáng hương lạ dịu dàng lan man khứu giác. Mùi hương rất quen, như mùi hương của tóc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.