Hôm nay,  

Anh tôi

19/08/202307:21:00(Xem: 4849)
Truyện

hai anh em

Tôi có một người anh cá tính hoang nghịch trổ trời mà lên. Từ nhỏ, thích trèo cây trong vườn. Có bữa leo phải cành ổi giòn bị gãy, thế là anh rớt xuống nghe uỵch một cái như trái mít rụng. Anh đau điếng cảm giác rêm ram cả mạnh sườn. Anh sợ quá nằm im một lúc, nghĩ bụng chắc mình chết rồi! Mở mắt ra, giơ chân tay thấy còn ngọ nguậy được. Vậy là chưa chết lại phủi đất lò mò ngồi dậy (như chưa hề có cuộc chia ly). Anh chạy vô nhà thấy tôi ngồi chơi đồ hàng bên cửa sổ hỏi:
    – Ê, lúc nãy mi thấy tau té không?
    – Anh có té à, nghe bịch một cái, em tưởng trái mít rụng chơ!
    – Mít mô mà rụng tau té đó, đừng méc mạ nghe!
    Con nít trong xóm có trò chi là anh tham gia trò nấy như thả diều, rượt nhau, bắn bi,…Nghe nói bắt chuồn chuồn cho cắn rốn để biết bơi. Vậy là lũ bạn bắt chuồn chuồn rồi vén bụng lên cho cắn xong rồi cùng cả nhóm bạn trong xóm ùa xuống bến nhưng chưa bơi được sải nào đã chìm nghỉm. Nhờ có anh bạn chụp tóc kéo vô, may không thôi chết. Sau về nhà ngồi ngẫm nghĩ chắc tại con chuồn chuồn kim cắn nên chưa hiệu nghiệm. Phải là con chuồn chuồn voi mới được. Vậy là trưa trời nắng gắt thế mà cũng lội từ vườn cây ra đến bến sông mà bắt cho được con chuồn chuồn voi. Cho cắn rốn sao mà nó ngoạm cho một miếng tươm máu rồi tự động viên không hề hấn chi miễn biết bơi là ok. Sau đó rủ tụi bạn xuống bến bơi nhưng vừa thả chân, thả tay ra khoát khoát vợi vợi vài cái cũng lại cũng chìm nghỉm. Nhưng lần này rút kinh nghiệm chỉ bơi chỗ nước ngang bụng nên không sao!
    Suốt ngày giỡn nhau, chạy đuổi khắp xóm, khắp làng. Đến giờ cơm, tôi có nhiệm vụ đi tìm anh về ăn mà kêu như kêu đò vậy. Đi coi đá banh thì về tận làng bên gặp trời mưa chạy về bao nhiêu lần ướt lóp ngóp như chuột lột. Mẹ tôi nói, anh mi trên đầu có cái xoáy trâu nên hoang nghịch rứa chơ tình cảm lắm. Quả có vậy. Ai mà chọc em là không được với anh mô nghe! Thương em lắm! Mà tui thì chúa nhõng nhẽo vì con út mà! Biết trong nhà ai cũng cưng. Suốt ngày đòi anh làm đồng hồ lá chuối, lá dừa... rồi bắt anh hái dâu, hái ổi hay thanh trà vào gọt ăn. Lúc thì bảo bắt cào cào, châu chấu, chán rồi thì bảo anh làm thuyền giấy, múc thau nước bỏ vô cho thuyền trôi. Nhiều lúc anh nổi cáu:
    – Tau phát mệt với mi rồi nghe con tê!
    – Mạ ơi chơi với hắn con mệt quá! Con chạy đi chơi đây!
    Nói rồi dông thẳng một mạch nhưng đi đâu, kiếm được cái gì hay, trái gì ngon cũng để dành cho em. Có bữa, anh tui bị mấy đứa xóm bên bao vây. Thằng mặc áo bun xanh nói:
    – Ê mi có đứa em mũm mĩm giống con búp bê, mai mốt lớn gả cho tau nghe! Hứa đi tau khỏi kêu tên ba mạ mi là K V, không tôi tau réo nì.
    Thế là anh giơ nắm đấm lao vào thằng mặc áo bun xanh bớp hắn mấy phát nhưng cũng bị nó quần lại tơi tả không kém. Khi tui chạy tới la lên méc mạ mới buông nhau ra mà chạy về. Đầu sưng cả cục u to như trái chanh. Về mẹ tôi lấy xác chè xanh, thêm ít muối bóp trán cho ấy. Vừa làm vừa giảng giải thế nọ thế kia được vài ngày cũng chứng nào tật nấy. Trời mưa thì chạy đi tắm mưa, đi giẫm nước mưa về nước ăn chân ngứa khóc ỏm tỏi, mẹ tôi phải nướng trái khế chua cho ấm rồi biểu anh đạp chân vào, vài ngày là khỏi.
    Anh học giỏi đều các môn. Mẹ tôi bảo anh kèm cặp em kẻo mạ bận việc quá không coi sóc được việc học của em. Lúc bắt đầu học chữ, anh viết mẫu rồi bảo tôi viết theo. Tôi lóng ngóng đưa nét bút cong quẹo không ra chữ. Anh tôi phải cầm tay tôi đưa từng nét. Sau thời gian hai tháng hè tôi biết đọc biết viết trước khi tới trường. Những lần anh dò bài, tôi đọc không thuộc là bị cốc một cú trên đầu kèm theo câu mắng:
    – Học ngu như mi mai mốt lớn không có thằng mô rước.
    Bị cốc một cú trên đầu, thực ra thì cũng không đau mấy. Nhưng tôi cố tình khóc ít mà ré thật to để cho mạ biết, thế nào anh cũng bị la.
    –  Dạy em mà cứ mắng hắn rứa con. Phải chỉ vẻ em từ từ, đừng để em khóc mà mạ xót.
    Rồi anh đổi giọng ngọt như đường:
    – Thôi, học đi chút nữa anh dò lại, nếu thuộc mai anh về ghé chợ Đông Ba mua cho em cái kẹp nơ hồng. Cài lên tóc e em tui xinh lắm!
    Khi anh vào học trường Hàm Nghi trong Thành Nội, ở nhà hoang nghịch là vậy chứ tới trường cũng được bầu làm lớp trưởng như ai. Anh học rất tốt các môn tự nhiên. Rồi anh thi đậu vào Quốc Học. Lúc anh mới nhập trường, nhận bảng tên về đeo đi lui đi tới mấy vòng trong sân rồi hỏi tôi:
    – Thấy bảng tên QH oai không? Mi lo học đi mai mốt phải thi đậu QH như anh rứa nghe không?
    Lên đệ nhị cấp rồi anh bớt hoang nghịch hơn, chú tâm vô bài vở của mình và kèm cặp em út học hành. Thế rồi anh được du học ở Hoa Kỳ theo chuyên ngành vận tải hoa tiêu. Hết thời gian học tập, anh về nước làm phi công thuộc bộ phận vận tải hàng không ở Tân Sơn Nhất, rồi anh cưới vợ, chị là người miền Tây.
    Ba năm sau, do những biến cố khách quan nên anh đưa vợ con qua định cư ở Tiểu bang Illinois, Hoa Kỳ. Số là trước khi đi du học anh được học tiếng Anh 1 năm tại Gò Vấp nên quen bạn gái người miền Tây. Anh nói với mẹ tôi là lấy vợ xa cho chắc, chứ ở nhà cứ đi ra ngõ là gặp bà con. Trong phường xóm dính vô ai nghe nói cũng họ hàng hết. Bởi vậy cứ ra đường gặp ai cũng phải chào: Thưa anh, thưa o, thưa chú…Mà không biết họ có nghe không. Cũng chẳng đợi họ trả lời. Nhưng nếu không chào là sẽ có có người nhắn về với mẹ tôi ngay.
    Thế rồi, khi tôi lập gia đình, anh tôi cũng đưa mẹ tôi qua ở với anh để phụ chăm cháu. Lúc này anh chị sinh bé Đan Thanh. Anh xin làm ở nhà máy sản xuất máy cày tại TP Chicago (thuộc tiểu bang Illinois). Nhà máy này mỗi ngày sản xuất 150 chiếc. Nhân viên khoảng 40 nghìn người, trong đó người Việt khoảng 100 người. Anh làm việc trách nhiệm và có nhiều sáng tạo nên được trả lương gấp rưỡi so với đồng nghiệp của anh. Ngoài ra còn thưởng và các phụ cấp khác. Cứ 2 tuần anh lãnh lương 1 lần, tiêu chuẩn 4 h bệnh, 1 tháng có 8 h bệnh và 1 năm có thêm kỳ nghỉ… Công việc đang trôi chảy, anh làm được 5 năm ở đây thì nghiệp đoàn cứ đòi tăng tương 3 tháng 1 lần. Nên nhà máy phải tăng lương cho họ. Vì nếu không tăng họ sẽ đình công. Lúc đầu sản xuất 150 chiếc/ngày. Sau hạ xuống 100 chiếc/ ngày… rồi chỉ còn 50 chiếc/ ngày nên sau này nhà máy tính toán thấy thua lỗ không đủ chi phí nên nhà máy đóng cửa. Anh tôi phải ăn lương thất nghiệp nhưng cũng đủ sống.
    Ở hiền gặp lành, có một chị người Việt có chồng là người Mỹ ở gần nhà anh không biết lái xe, có biết lái nhưng ra đường cứ quẹo trái, quẹo phải tùy thích nên anh chồng sợ quá liền nói anh rảnh thì nhờ anh qua kèm cho chị ấy. Sau 2 tuần, chị ấy lái xe được ngon lành. Chồng chị ấy mừng lắm! Anh chồng bảo anh viết đơn anh ấy sẽ tiến cử đi làm ở chỗ cơ quan anh ấy. Và may mắn thay, anh đã được vào làm việc ở một nhà máy của bộ quốc phòng đóng tại một hòn đảo thuộc bang này. Nhà máy có số lượng nhân viên là 20 nghìn người nhưng người Việt chỉ có duy nhất một mình anh tôi. Ở nhà máy này sản xuất xe tăng 113, súng M15 (súng trường), mặt nạ chống ngạt. Lương hướng ở đây và phụ cấp cũng khá, ngoài ra còn có phụ cấp thêm cho vợ anh $1000 / tháng. Chị xin đi làm thợ may ở hãng chỉ là đi làm cho vui, lương mỗi tháng chẳng là bao với khoảng $ 500 / tháng gọi là làm cho có. Đó cũng là lý do ra ngoài để giảm tiếp xúc với mẹ chồng. Mẹ tôi sinh trưởng trong gia đình nề nếp xưa, thấm nhuần tư tưởng nhân nghĩa, chuẩn mực từ lời ăn tiếng nói cho đến việc làm. Hai thế hệ sống cùng nhà, mẹ chồng nàng dâu là vấn đề muôn thuở khó dung hòa. Tuy nhiên ở đời vẫn có những cặp mẹ chồng, nàng dâu, quan hệ rất tốt, rất thuận hòa nhưng quả thật càng ngày càng thấy hiếm. Bên tình bên hiếu, anh đứng giữa thật khó xử. Anh hiếu thảo với mẹ và cũng rất yêu thương vợ con, chiều vợ hết mực. Tiền bạc làm ra anh cho vợ con xài thoải mái, không tiếc với vợ thứ gì, nhưng sự đời nhiều khi không như ý muốn.
    Năm 1989, chị dâu tôi bỏ nhà đi theo tiếng gọi tình mới. Anh lâm vào cảnh gà trống nuôi con. Anh đau khổ tột cùng, tưởng như sẽ gục ngã, nhưng anh hiểu là mình phải sống không phải cho mình mà sống vì con. Nên anh gắng gượng làm lụng và nuôi con. Lo cho con đầy đủ, một gánh hai vai thay thế cả mẹ nó. Làm sao cho con đỡ thiệt thòi nhất khi thiếu mẹ. Anh dành hết tình thương cho con. Thời gian trôi đi, bé Đan Thanh vào đại học, cháu đề nghị ba về Hawaii sống để tìm, thuyết phục mẹ về.
    Năm 1991, anh thương con, nghe lời con xin nghỉ việc ở nhà máy của bộ quốc phòng một công việc không dễ gì kiếm được ở Chicago. Anh về Hawaii xin vào làm ở một nhà hàng. Như vậy là bỏ một công việc ổn định ở Chicago mà về đây để lao động tự do là một việc mạo hiểm. Công việc vất vả nhưng anh hi vọng có cơ hội để gần chị, thuyết phục chị trở về. Lúc này, thì anh cũng hiểu tình cảm như ly nước đã đổ đi khó lòng hàn gắn nhưng vì con anh mà gắng gượng níu kéo. Lại nói về anh tình nhân của chị thì khi thấy anh tôi, anh ta rất ngạc nhiên và nói với anh tôi rằng:
    – Tôi hoàn toàn là không biết cô ấy đã có gia đình.
    – Vì cô ấy nói với tôi là độc thân nên mới ra cơ sự này.
    Nhưng chị vẫn không lay chuyển, không nhớ con, cũng không vì nghĩa tào khang vợ chồng dù “một ngày nên nghĩa” huống gì đã có với nhau một mặt con, lòng chị lạnh băng khi gặp anh. Thậm chí chị không thèm đến dự đám tang mẹ chồng (khi chưa ra tòa li hôn thì chị vẫn là dâu con nhưng chị đã không xem “nghĩa tử là nghĩa tận” để làm tròn phận sự lần cuối với mẹ chồng). Sau bốn năm vô vọng, năm 1993 anh làm giấy li hôn với chị. Lúc này anh nuôi cháu Đan Thanh đã học xong đại học tài chính kế toán và đã có việc làm nơi đây.
    Anh một mình khăn gói về Texas. Nơi này, thời trai trẻ, lúc đi du học đã có thời gian anh được học ở đây. Bước đầu chân ướt chân ráo, anh thuê một phòng trong khách sạn để sống một thời gian ngắn rồi tính tiếp. Tại đây có một chị phục vụ và đứa con trai của chị là người Việt. Hàng ngày qua câu chuyện, biết em ấy cần học tiếng Anh. Thế là anh dạy tiếng Anh cho em ấy. Mỗi ngày lúc rảnh em trai ấy chở anh đi chơi đây đó cho biết, tìm lại những người bạn. Anh cũng đã liên lạc lại được với một số bạn bè. Rồi anh ra ngoài thuê tạm một căn hộ để sống và bắt đầu cuộc sống mới ở đây. Làm lụng, tích cóp rồi anh cũng mua được nhà. Về Texas, anh thấy khí hậu ở đây ít lạnh hơn ở Chicago. Anh bảo bé Đan Thanh về sống dưới này nhưng cháu nói cháu quen ở Chicago rồi với lại công việc đã ổn. Nay cháu đã lập gia đình và đã có một cháu trai kháu khỉnh. Như vậy anh cũng đã yên tâm phần nào về con cái.
    Trong một lần anh dự đám cưới tại nhà người anh ở Oregon, cậu của người chị dâu thấy anh sống đơn chiếc nên đã giới thiệu cho anh một người bà con của ông ấy. Anh lập lại gia đình với chị (chồng chị đã mất, nay chị sống với đứa con trai). Anh rất chiều chuộng chị. Mọi việc trong nhà từ A đến Z một tay anh đảm nhận. Lúc chị ngủ, anh cũng buông mùng, đắp mền cho chị rồi anh mới đi lo việc của anh. Bà con của chị, ai cũng mừng cho chị là gặp anh nửa sau cuộc đời nhưng thật quý hóa. Anh xem con riêng của vợ như con mình, chăm chút, nuôi nấng cháu cho đến khi cháu vào đại học, lập gia đình và ra riêng.
    Lại nói về người vợ cũ của anh, mặc dù li dị rồi, nhà nước vẫn báo cho anh biết là vẫn phụ cấp cho vợ cũ ăn theo anh mỗi tháng $1000. Bây giờ về già, bà ấy cũng sống một mình vì anh nhân tình sau cũng đã bỏ đi vì ông ấy cho rằng người thiếu chung thủy đã từng bỏ chồng để sống với anh ta thì không chắc là sẽ lại không bỏ anh ta lần nữa.
    Hơn 30 năm, không hiểu do hối hận hay là so sánh lại thấy không có ai chiều chuộng như anh tôi, cũng là lúc về già rồi cần có người chăm sóc nên đã đánh tiếng nhờ bé Đan Thanh gọi điện với ba cho mẹ nó về lại sống cùng anh tôi. Bé nói:
    – Nếu mẹ về sống với ba thì sẽ tốt cho con hơn. Nhưng con cũng hiểu là không dễ gì nên tùy ba thôi!
    Nhưng anh không đồng ý. Muộn quá rồi! Tình xưa đã hết và lửa lòng đã nguội. Anh đã đi qua sóng gió cuộc đời, từng tan nát lòng và gặm nhấm nỗi buồn như thế. Bây giờ muốn bình yên. Anh nói với tôi là đời anh như bị sao quả tạ chiếu vào. Chuyện học hành, công việc thì hanh thông mà duyên tình lận đận, có lẽ là những gì thử thách cam go của một kiếp người. Giờ đây anh sống khép kín, ít giao du với ai. Hàng ngày lui cui với mảnh vườn và dăm ba người bạn trong xóm. Cảm thấy an bài với số phận vui ít buồn nhiều của anh. Anh em giờ ở cách xa nhau, ai có gia đình nấy và những bận bịu riêng. Không thể có những tháng ngày vui vẻ bên nhau như thời thơ ấu. Nghĩ về anh tôi xót xa lòng. Nước mắt lại tuôn trào. Thương anh, chỉ biết cầu mong anh luôn được an lành, sức khỏe với cuộc sống bình yên!

 

– Hoàng Thị Bích Hà

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Phải chi khách đến thăm vườn hồng hơn trăm giống quý đủ màu sắc của ông Chu hằng ngày là khách mua hoa thì chắc thu nhập của gia đình ông đỡ hơn. Ông nghèo, nhưng cái máu nghệ sĩ của ông lại mạnh mẽ hơn chuyện tiền bạc, lại gặp bà vợ hết mực chiều chồng, nên cứ nghe đâu có giống hồng lạ là bằng mọi cách phải có cho bằng được. Năm ba ký gạo đắp đổi hằng ngày đã khó, mà có những giống người ta đổi cả tấn lúa ông cũng lắc đầu.
Không nhớ từ bao giờ đã không còn ngồi xuống bàn trà, tay bốc miếng mứt hạt sen bỏ vô miệng, vị ngọt tươm ra không quá gắt như ăn miếng mứt bí, vị ngọt nhẹ, thanh, kích thích vị giác bởi hương sen quyện ngọt điệu đà, tới khi nhai cái hạt sen đã ấm ấm trong miệng nên không còn cứng cũng không quá mềm như khoai lang luộc. Độ dẻo của hạt sen khi đã sên mứt rất mê hoặc và cũng đâu có gì vội để nuốt đi cho mau, cứ ngậm mà nghe hương vị đất trời tinh khiết của hương sen xông lên khoang mũi làm cho người thưởng thức lâng lâng cảm giác xuân đã về. Có thể nói món gì có hạt sen góp mặt cũng ngon như món vịt tiềm có nhân bên trong là thịt bằm, nấm mèo, táo tàu, gia vị nhiều thứ, nhưng những hạt sen luôn khêu gợi những đôi đũa gắp vì hấp dẫn và ngon lạ miệng. Nhưng đã nhiều năm không ăn mứt hạt sen sao vẫn nhớ khá rõ hương vị độc đáo của hạt sen trong món ngọt ăn chơi ngày tết, hay món mặn ăn tiệc đều ngon.
Cậu Hà người Bắc di cư năm 1954, cậu di cư có một thân một mình khi còn trẻ, nên cậu cũng không có nhiều phương tiện được học hành nhiều. Khi lớn lên ở miền Nam, lối chừng 19, 20 tuổi khoảng năm 1965-1966, cậu từ giã học đường đăng lính, cậu đi lính Việt Nam Cộng Hòa ngành Biệt Động Quân. Sau chuyển qua Thám Báo. Cậu đóng quân như ở miền đồng ruộng, lúc bấy giờ còn loáng thoáng xa xa, ít dân cư, tiếp giáp một bên Đồng Ông Cộ, miệt Gò Vấp, Gia Định.
Chị nhớ lại, vào một buổi sáng ngày cuối tháng 1 năm 1973, khi Chị đi lấy bản tin ở bên Macv về cho AP, chị thấy sao hôm nay văn phòng đông thế. Ký giả của AP và cả của NBC News bên cạnh cũng chạy qua chạy lại, Chị nghe ông chánh văn phòng nói: Viêt Nam sắp ngưng bắn rồi, sắp hòa bình rồi…” Văn phòng Associated Press xôn xao, từ ông chánh văn phòng đến các ký giả, nhân viên của AP đều hứng khởi với cái tin “Nóng bỏng” này. Chị thấy các phóng viên của các hãng thông tấn, hãng truyền hình ngoại quốc chạy hối hả sang nhau và chạy qua cả đài phát thanh Quân Đội Việt Nam để cập nhật tin tức viết bài…
Chị đi bằng xe hàng. Là dân Đà Lạt gốc Huế nên chị gọi xe đò là “xe hàng”. Đi xe hàng, tức là xe đò, là xe chở người và cả hàng chứ không chở riêng hàng. Tiếng Việt hay như vậy đó! Đến Gò Công rồi đi xe lam vào Đồng Nguơn. Ấp Đồng Nguơn. Không phải đây là lần đầu tiên chị được thấy cảnh đồng quê. Đồng quê miền nam hầu như đâu đâu cũng giống nhau. Nhưng có đi nhiều mới thấy mỗi nơi có một chút khác. Phải thế không? Hay chính là cảm giác của chị mỗi lần một khác?
Tôi ước mơ có một ngày nào đó, khi thanh bình thật sự trở về trên nước VN, khi chính thể CS hoàn toàn tan rã, khi con người công chính trở lại làm nền tảng trong xã hội mới, chúng ta sẽ trở về, những ngưới bạn từ thời xa xưa, cùng nhau làm lại một bữa tiệc Tất Niên, mời vong linh các thầy, các bạn, các anh em đồng đội đã chết trong khói lửa chinh chiến, trong các biến cố tang thương của đất nước, trong các trại tù, trên biển…cùng nhập tiệc. Kẻ đang sống cùng người thiên cổ bên cạnh nhau hoài niệm đến một miền thùy dương ngọt ngào nhân tính, một ngôi trường thân yêu giàu truyền thống giáo dục và y đức, một thành phố mến yêu thơ mộng. Để nghe những người quá cố tâm sự về cái chết oan khiên của mình. Được như vậy, hương hồn các vị đó sẽ sớm được siêu thoát và vĩnh viễn an nghỉ chốn nghìn thu. Và chúng ta đây giảm khắc khoải đau thương…
Tôi đã có bốn cái Tết trong trại Panatnikhom và Sikiew, Thailand. Tết đầu tiên thật nhiều kỷ niệm và bất ngờ, vì lúc đó chúng tôi vừa nhập trại trong khi còn hơn một tuần nữa là Tết. Tôi và ba cô bạn đi chung chưa kịp gửi thư cho thân nhân ở nước ngoài để ca bài ca “xin tiền”. Ai lo bận bịu đón Tết thì lo, còn chúng tôi thì lo đi mượn tiền để mua vài vật dụng cần thiết như tấm trải nhựa, tre nứa, dây nilon để làm “nhà” (phải “an cư” mới “lập nghiệp” tỵ nạn được chớ).Khoảng một tuần trước Tết, có một nhóm mấy thanh niên đến thăm vì nghe nói chúng tôi là dân Gò Vấp, nên muốn nhận “đồng hương đồng khói”. Họ là những người trẻ như chúng tôi, nên câu chuyện mau chóng trở nên thân mật và rôm rả
Hỏi thăm ông Hai bán hoa lay-ơn gốc Bình Kiến, nhiều người ngơ ngác hỏi nhau. Tôi lại rảo qua thêm mấy vòng chợ hoa, cũng vừa đi tìm ông Hai, cũng vừa ngắm hoa và ngắm những chậu bonsai bày bán cuối năm, cũng tìm lại mình của gần 20 năm trước, năm nào cũng cứ vào những ngày này, tôi theo ba tôi hóng gió đón sương không hề chợp mắt cùng gian hàng cây kiểng rất bề thế của ba ở đây.
Có lẽ những rộn ràng, hân hoan nhất trong năm không phải là "ba ngày tết", mà là những ngày cận tết. Bắt đầu vào ngày 23 tháng chạp, tối đưa ông Táo về trời. Tất cả mọi sinh hoạt đều hướng về việc chuẩn bị để đón một mùa xuân mới, chào đón nguyên đán và mấy ngày xuân trước mặt. Lúc nhỏ là mùi vải thơm của bộ đồ mới, mùi gạo nếp ngâm cho nồi bánh và hương thơm ngào ngạt cho sàng phơi mứt dừa, mứt bí, mứt gừng ngoài sân. Những đêm ngủ gà ngủ gật ngồi canh bên nồi bánh tét cùng với má, với gia đình xúm quanh. Mùi bếp lửa, mùi khói hương, mùi áo mới lan tỏa của tuổi thơ ngan ngát những ngày xa...
Người ta được nuôi lớn không chỉ bằng thức ăn, mà còn ở lời ru, tiếng hát, và những câu chuyện kể. Chú bé cháu của bà thích được bà ôm vác, gối đầu lên vai bà. Có khi bà mở nhạc từ chiếc nôi cho chú nghe thay cho lời hát, chiếc nôi chú bé đã nằm khi mới lọt lòng mẹ. Có khi bà hát. Bà không ru à ơi, nhưng âm điệu dân gian len vào trong từng lời hát. Chú bé mãi rồi ghiền nghe giọng hát của bà.
Lóng rày tôi hay tẩn mẩn viết về những hồi tưởng tuổi thơ, nhất là những côn trùng ngày xa xưa đó như chuồn chuồn, bươm bướm, ve sầu, dế mèn…Nhiều lúc ngồi nghĩ lẩn thẩn: tại sao vậy? Chắc đó là tâm trạng của người tuổi sắp hết đếm số, tiếc nuối những khi còn cắp sách tới trường. Cắp sách tới trường không phải là chuyện vui nhưng tuổi học trò thì vui thật. Lúc nào, khi nào, chỗ nào cũng toàn thấy chuyện vui chơi. Bạn chơi là người nhưng nhiều lúc là những côn trùng quanh quẩn bên người. Một ông bạn mới gặp nhướng mắt hỏi tôi viết về những bạn chơi nhiều hơn hai chân nhưng chưa thấy nhắc tới bạn của ông ấy. Đó là bọ ngựa. Ông này thuộc loại rắn mắt. Tôi không chung tuổi thơ với ông nhưng chắc ông cũng thuộc loại phá làng phá xóm. Ông kể chuyện ăn me chua trước mấy ông lính thổi kèn trong hàng ngũ khiến mấy ông thợ kèn này chảy nước miếng thổi không được. Tôi thuộc loại hiền nên không có bạn không hiền như bọ ngựa. Ông ta thì khoái bọ ngựa.
“Mày có vợ hồi nào vậy?” chưa kịp chào, mẹ đã ném ra câu hỏi bất ngờ. Tôi lặng thinh. Cục nghẹn trong cổ họng. Tiếng mẹ đã khàn nhưng nghe vẫn quen, vẫn gần gũi, nhưng đặm chút ngạc nhiên và thấp thoáng chút phiền muộn. Hệt như lần hỏi tôi mười mấy năm trước rằng Sao con trốn học. Đường dây điện thoại chợt kêu ù ù, như thể có máy bay hay xe vận tải cơ giới hạng nặng chạy qua chỗ mẹ đứng. Cũng có thể tại tai tôi ù. Tôi cũng không chắc lắm. Giọng nói mẹ chìm vào khối tạp âm hỗn độn. Mẹ lặp lại câu hỏi trong tiếng động cơ rì rầm. Rồi tất cả im vắng bất ngờ. “Hở con?” Mẹ nói.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.