Hôm nay,  

Cám ơn Mai

22/11/202308:14:00(Xem: 3064)
Truyện

photo neighbor

Tôi đã chuẩn bị mọi thứ để ngày mai chiên chả giò tham dự tiệc lễ Tạ Ơn với lớp ESL do cô giáo Linda tổ chức. Lớp học ESL gần 20 người, một nhóm người Lào thì hùn tiền nhau order món gà tây nướng lò bán trong chợ, còn lại kẻ thì mang giấy napkin, mang nước ngọt, trái cây, bánh kẹo. Tôi và Mai sẽ mang món chả giò, tôi chiên chả giò cho cả hai đứa luôn.
    Buổi chiều Mai đến nhà tôi, tưởng nàng hỏi thăm về món chả giò nhưng nàng hỏi:
    – Ngày mai bà tính mặc đồ gì?
    Tôi hớn hở khoe:
    – Như mọi hôm khi đi học, tôi có rất nhiều váy áo.
    Mai kêu lên:
    – Tôi biết ngay mà, lúc nào bà cũng mặc đồ nhà thờ, mấy cái váy cổ lỗ sĩ dài thậm thượt tới chân, thời trang từ thời khai phá ra nước Mỹ.
    Tôi mắc cỡ bào chữa:
    – Cổ điển chứ không phải cổ lỗ sĩ nha. Cổ điển cũng có giá trị của nó.
    Những ngày đầu mới đến Mỹ tôi được người ta hướng dẫn đến các nhà thờ xin quần áo cũ và tôi đã chọn ôm về một đống, tha hồ mặc, khỏi tốn tiền mua.
    Mai tiếc rẻ:
    – Mà đồ cũ có đủ loại sao bà không chọn vài kiểu mới mẻ, toàn chọn váy bà già.
    Rồi Mai trịnh trọng:
    – Lễ Tạ Ơn là lễ lớn của người Mỹ. Ngày mai thế nào cả lớp ai cũng diện đẹp mà bà mặc đồ thường là quê lắm đó.
    Sao cái gì Mai cũng biết cũng khôn hơn tôi dù nàng đến Mỹ sớm hơn tôi chỉ vài ba tháng, nhỏ tuổi hơn tôi nhưng Mai luôn “ngang hàng” gọi tôi bằng “Bà” xưng “tôi”.
    – Vậy thì tôi sẽ lục mớ đồ cũ xem có bộ nào đẹp nhất thì mặc.
    – Khỏi cần, tôi có mang cho bà bộ váy nè, bảo đảm bà sẽ mặc vừa.
    Mai lôi ra trong chiếc túi giấy mang theo một bộ váy màu xanh còn mới và khoe:
    – Tôi mua và mặc hồi mới đến Mỹ, không thèm xin đồ cũ như bà đâu.
    Nàng bắt tôi phải thay đồ và thử chiếc váy ngay tại chỗ cho nàng ngắm. Mai khen rối rít:
    – Đẹp lắm, bà với tôi cùng size mà, tôi tặng bà chiếc váy này luôn đó.
    Tôi giật mình ngạc nhiên trước món quà bất ngờ vì ngắm trong gương tôi đã thích chiếc váy này rồi.
    – Cho tôi váy này, thế Mai mặc gì?
    – Dĩ nhiên là tôi có váy khác, cũng màu xanh. Ngày mai hai đứa mình cùng diện váy đồng màu luôn.
    Tôi cảm động:
    – Cám ơn Mai, tôi sẽ giữ gìn cái váy này và xài tới khi nào rách thì thôi.
    Mai chững chạc như chị Hai tôi:
    – Bà đang cao hứng nói thế thôi, mặc vài lần bà sẽ chán và mai này bà có dịp mua sắm quần áo thì bộ váy này nghĩa lý gì.
    Tôi đến Mỹ định cư được vài tháng thì đến thành phố này. Trong thời gian còn đang hưởng trợ cấp tôi tiếp tục học lớp ESL và quen Mai ở đây.
    Mai ra vẻ hiểu biết chỉ dẫn tôi đủ thứ. Phố nhỏ, chợ búa và cư dân người Việt ở xa khoảng 1 giờ xe. Mai mới đậu bằng lái xe mà đã chở tôi đi chợ Việt nam để mua những thực phẩm cần thiết của người Việt như gạo, nước mắm, tôm khô, v.v. rồi Mai chỉ tôi cách làm giá từ đậu xanh hột, một bịch đậu xanh có mấy chục xu mà làm ra mấy rổ giá sống. Tôi muốn nấu canh chua than thở không có bạc hà thì Mai chỉ tôi theo cách của nhà hàng dùng cần tây thay thế cũng ngon. Mai giúp tôi nhiều lắm.
    Trưa thứ năm tôi chiên chả giò xong lo tắm rửa và mặc chiếc váy màu xanh của Mai, nàng đến đón, chở tôi đến lớp. Tôi vừa vui vừa hồi hộp vì đây là buổi tiệc Tạ Ơn đầu tiên của tôi ở Mỹ, Mai cũng thế nhưng nàng hớn hở và tự tin hơn tôi. Đúng như Mai nói từ cô giáo Linda đến các học trò của lớp ESL này ai cũng mặc đồ đẹp đẽ chỉnh tề.
    Vào tiệc mọi người vừa ăn uống vừa trò chuyện, trình độ tiếng Anh như nhau nên nói qua nói lại ai cũng hiểu nhau, cùng vui vẻ. Tôi không biết ăn gà tây nhưng cũng lấy một ít vào dĩa ráng ăn cho hòa đồng với người ta, chủ yếu tôi toàn… ăn chả giò của tôi và uống nước ngọt, nhưng tôi vui nhiều vì đang mặc chiếc váy đẹp.
    Lớp học ESL nằm trong building của trường Vocational Technical School. Sau khóa ESL Mai rủ tôi ghi danh học lớp Nursing Assistant trong trường Vo.tech này, khóa học ngắn hạn, nghề dễ tìm việc làm tại các bệnh viện, viện dưỡng lão.
    Hai đứa lại chăm chỉ đi học như khi còn ở bên lớp ESL. Sau mấy tuần học, thi cái test cuối cùng là mãn khóa và nghỉ chờ thi license. Ngày mãn khóa cô giáo mời cả lớp đi ăn nhà hàng Golden Corral, nhà hàng cách trường chừng 5 phút xe, ngày nào đi học tôi cũng đi qua nhà hàng Golden Corral nên thuộc tên luôn. Mọi người rối rít thu dọn sách vở, vui vì xong kỳ học được thảnh thơi, họ ra xe đến nhà hàng. Mai chở tôi đi, hai đứa cùng hí hửng.
    Lần đầu tiên chúng tôi biết nhà hàng buffet Mỹ là gì, biết thịt bò nướng có các kiểu “rare, medium và well-done”.  Mai và tôi cùng chọn món thịt bò steak nướng chín kỹ rồi đi lấy rau và các thức ăn phụ khác. Hai đứa vừa ăn vừa khen cô giáo người Mỹ tử tế rộng rãi cho mọi người đi ăn nhà hàng và thầm cám ơn cô.
    Ăn xong, tôi ngạc nhiên khi thấy cô bạn Mỹ bên cạnh lấy tiền ra trả. Tôi nói nhỏ với Mai:
    – Sao họ tự trả tiền? Cô giáo bao mình mà…
    Mai cũng ngơ ngác nhìn quanh khắp lượt thấy ai cũng trả tiền cho phần ăn của mình. Nàng liền bình tĩnh:
    – Thì ra cô giáo “mời” đi ăn nhưng ai ăn người nấy trả, bây giờ tôi mới biết điều này như bà.
    Tôi vẫn lấm lét:
    – Nhưng… tôi không mang tiền theo!
    – Tôi có tiền đây. Bà cất bộ mặt ngố của bà đi, tươi cười lên đi, đừng để các bạn biết chúng ta đang bị ”sốc” nặng vì tưởng bở nhé.
    Tôi mừng rỡ vì có Mai cứu bồ và cảm phục thái độ của nàng, vụ này Mai cũng không biết nhưng nàng biết ứng xử. Bài học đầu tiên của tôi và Mai ở Mỹ là người Mỹ “mời” mình đi ăn là phần ai nấy trả, không có cảnh “bao” nhau hay tranh giành nhau trả tiền như người Việt mình.
Tôi và Mai xin làm trong một nursing home, làm cùng ca nên tình bạn càng thêm gần gũi. Có lần hai chúng tôi  chăm sóc một bà già, hai đứa vừa làm vừa nói chuyện bằng tiếng Việt Nam, bà già Mỹ tuổi gần đất xa trời thế mà còn tò mò thều thào hỏi:
    – Hai đứa mày… nói tiếng gì… tao không hiểu.
    Biết là sai, là bất lịch sự khi có người thứ ba mà hai người nói chuyện với nhau bằng một ngôn ngữ khác. Từ đó tôi và Mai không nói chuyện bằng tiếng Việt khi có mặt người Mỹ nữa.
    Cuối năm đó vì lý do riêng gia đình tôi phải dọn đi tiểu bang khác. Mai buồn buồn khi tôi chia tay còn tôi thì thổn thức hứa rằng tôi sẽ giữ mãi chiếc váy Mai cho để mỗi lần mặc tôi sẽ nhớ đến Mai.
    Vài năm sau tại nơi ở mới, bận rộn với cuộc sống mới, với bạn bè mới tôi đã lãng quên chiếc váy màu xanh Mai tặng, tôi đã xếp xó và nó thất lạc nơi nào tôi không biết. Tôi thành kẻ hứa lèo, hứa cuội. Xin lỗi Mai.
   Nhưng Mai ơi, chút tình bạn ngắn ngủi của tôi với Mai, tôi sẽ không bao giờ quên dù giờ đây chúng ta đã mất liên lạc với nhau. Cám ơn Mai đã là người bạn tốt, cho tôi những kỷ niệm vui và đẹp của những ngày đầu chúng ta mới đến Mỹ.
 

–  Nguyễn Thị Thanh Dương

(10/2023)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi bồn chồn liếc mắt nhìn đồng hồ, rồi lại nhìn chừng về phía hội trường đầy ấp hơi người và ồn ào tiếng cười nói. Đã hơn tám giờ mà chương trình vẫn chưa bắt đầu. Chưa bao giờ tôi thấy khó chịu về chuyện giờ giấc như lúc nầy. Thấp thoáng trong đám đông, tôi thấy Khánh đang chạy đôn đáo chừng như kiểm điểm sự có mặt của một số khách “nồng cốt”, để bắt đầu chương trình...
Tiếng hát Cẩm Vân trong trẻo, vút cao, nghèn nghẹn đầy xúc cảm. Tôi buông thả Mi7 và chuyển vội La thứ như chưa muốn ngừng những âm vang cuối. Nốt dứt đoạn ngân dài, tất cả lặng yên, bên ngoài có tiếng gió đêm Sài Gòn vội về, bất chợt...
Tố Như tiên sinh đã để lại cho hậu thế câu thơ tháng ba đẹp như tranh trong truyện Kiều, “cỏ non xanh tận chân trời/ cành lê trắng điểm một vài bông hoa…” Đọc xong câu thơ thì nửa số người đọc đã nhắm mắt lại để hình dung ra bức tranh mùa xuân vẽ bằng thơ; với hai màu xanh, trắng vào tay hoạ sĩ, chúng ta có bức tranh chiêm ngưỡng bằng mắt, nhưng với nhà thơ chúng ta có bức tranh trong trí tưởng tuyệt vời… Tôi nói với ông bạn mê thơ đang ngồi chung bàn cà phê mà mọi người đang nói chuyện thời sự nên không phù hợp với một sáng tháng ba trời mát lạnh vì mưa đêm qua rả rích tới sáng, anh em rủ nhau ra ngoài trời ngồi uống cà phê cho mấy ông bạn còn hút thuốc được thỏa mãn thú tính. Thế là những ông đã giã từ làn khói mỏng bị những ông còn hút thuốc giận cho, rồi cãi nhau.
Đầu tháng Tư, hoa tulip đã vội gõ cửa mọi nhà sau giấc đông miên ngắn ngủi. Mùa Xuân cũng theo hoa tulip trở về, mở ra khúc giao mùa. Trong gió Xuân đầu mùa còn lạnh, ngoài xa trên cánh đồng rừng quê muôn vạn búp non đang nẩy lộc đâm chồi. Cỏ non, cây rừng già vẫn mạnh mẽ vươn lên tràn đầy sức sống. Đàn cá hồi thức giấc bắt đầu vượt thác trở lại quê hương nguồn cội...
Một thời gian ngắn sau Hiệp Định Genève tháng 7, 1954, gia đình chúng tôi rời Phủ Cam dọn vào ở trong khuôn viên trường Đồng Khánh. Măng chúng tôi dạy môn Nữ Công Gia Chánh, và có lẽ vì là một quả phụ với 6 con, nên được Bà Hiệu Trưởng Nguyễn Đình Chi, ưu ái giúp đỡ cho gia đình được sống trong 2 căn phòng trên lầu Ba (bên phải, nếu từ cổng trước nhìn vào). Cùng ở trên lầu Ba sát cạnh gia đình chúng tôi là gia đình của bà quả phụ Trần Thi, mà chúng tôi thường kêu là Dì Hoàn vì Dì là bạn của Măng tôi từ khi 2 người học chung với nhau tại trường Đồng Khánh trong thập niên 30. Gia đình Dì cũng đông không kém gia đình tôi – 7 người. Dì ít cười và có vẻ nghiêm khắc. Các nữ sinh nghỉ trưa tại trường rất sợ gặp “Bà Thi”, dễ bị Bà la rầy hay cho “kỷ luật”, nhất khi bị bắt gặp đi lang thang trong hành lang thay vì phải ở trong phòng học.
Hạo chỉ có cậu Tân là người cậu duy nhất. Mẹ Hạo là chị cả trong gia đình có bốn người con. Mẹ, dì Hiên, cậu Tân và dì út Hậu. Cậu Tân vốn là một nông dân chính hiệu. Hình như cậu học mới qua bậc tiểu học là cậu bỏ cây bút để cầm cái cày, cái cuốc. Đến năm cậu trên bốn mươi, cậu đã có bảy người con, bốn trai, ba gái. Có lẽ cậu thấy cuộc sống làm một người nông dân quá cực hay sao mà cậu nhảy ra tham gia chánh quyền. Cậu được bầu làm xã trưởng...
Những chuyến xe ngập ngừng, chậm chạp lăn trên con đường gập ghềnh để chuyên chở đoàn người đi thăm cha, anh, em, con, chồng ở khắp nơi trong những trại tù, nơi mà lớp người mới gọi là "Trại Học Tập Cải Tạo" nghe ngược ngạo, chua chát nhiều đắng cay. Từ Quốc Lộ 1, phải đi khoảng chừng 2 cây số, trên một con đường mòn, xuyên qua rừng cây gỗ quý cẩm lai là đến trại tù cải tạo Hàm Tân...
Cuộc hôn nhân ngắn ngủi vài năm của Bình với người vợ cũ tan vỡ. Mộng Điệp là người phụ nữ vật chất, đứng núi này trông núi nọ, tính nết đanh đá chua ngoa luôn có những lời nặng nhẹ chê bai chồng không biết kiếm tiền giỏi như người ta...
Chuỗi dài thời gian của quá khứ ta còn giữ được. Giữ được mãi mãi cho đến khi trí đã mòn sức đã kiệt. Giây phút hiện tại coi như chẳng có gì. Nó vuột khỏi tay ta từng sát na rồi cũng tan biến vào quá khứ đề xếp hàng cùng với chuỗi thời gian đã qua. Tương lai là điều chưa có, chưa đến nên ta cũng chẳng làm chủ được gì của những điều ở cõi xa thẳm diệu vợi...
Hôm đi Cần Thơ, đứa cháu gọi bằng chú kể chuyện đi Hòn Kẽm- Đá Dừng, ranh giới tự nhiên hiện nay giữa 2 huyện Quế Sơn-Hiệp Đức, một địa danh mà thời trung học và đến mãi sau này tôi vẫn nghĩ là vùng núi non hiểm trở phía thượng nguồn sông Thu Bồn, nơi được biết đến nhiều bởi trận lụt kinh hoàng ở Quảng Nam năm Giáp Thìn 1964...
Mùa hè một chín bảy hai, cha tôi tử trận ở Long Mỹ, để lại một vợ và bốn con. Mẹ lúc đó mới ba mươi sáu, tôi mười lăm và thằng Thanh vừa bảy tuổi. Sau gần ba tháng bàng hoàng, tang thương mẹ tôi trở lại với cuộc sống cơm áo đời thường với đàn con nhỏ dại...
Ngồi trên bãi biển Nha Trang khi thủy triều xuống cuốn nước xa bờ để lại vạt cát dài màu trắng mịn, và lúc nắng chiều chiếu xiên trên mặt biển gợn sóng lăn tăn, trông như dải lụa dát vàng lung linh đến tận các hải đảo xa mờ mây nước, khách nhàn du sẽ mê mẩn với sắc màu kỳ diệu của buổi chiều tà mà quên hết cảnh huyên náo chung quanh...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.