Hôm nay,  

Mùa cuối năm...

04/12/202308:30:00(Xem: 2725)
Tạp ghi

autumn leave

Mùa lễ cuối năm ở Mỹ là mùa sum vầy, ai rồi cũng nhớ nhà, người thân vào mùa lễ cuối năm đã về, ai cũng muốn trở về, gặp lại người xưa chốn cũ nên gọi là mùa sum vầy cũng không có gì là quá đáng, nhưng không phải ai cũng có một nơi để về trong trời đất bao la chỗ đến, nhưng về đâu là câu hỏi muôn đời của kiếp nhân sinh.
    Cuối năm, ngồi nghe những tàn phai từ tiếng lá rơi bên thềm, con chim lạc đường bay trong trời tối sớm thống thiết tiếng kêu. Những sự ra đi cuối tháng mười một năm nay cũng không khác gì những sự ra đi cuối tháng mười một năm ngoái, năm trước nữa vì trong sự sum vầy nào cũng sẵn mầm ra đi. Nhưng có những sự ra đi làm người ta tiếc nuối như hôm 24 tháng 11, truyền thông đưa tin thầy Tuệ Sỹ viên tịch lan truyền trên mạng. Sau phút bàng hoàng tiếp nhận hung tin về sự ra đi của người tôi kính ngưỡng từ khi còn đi học. Nhưng bình tĩnh lại tôi thấy mừng cho “cọng lau gầy trĩu nặng bóng tà dương” đã được giải thoát. Chẳng phải thầy đã sống một đời như cọng lau gầy trĩu nặng bóng tà dương với thân thế người ở lại trong bàn tay bạo chúa, trong bối cảnh lịch sử đất nước chiến tranh tàn khốc nhưng hoà bình mù loà, mù loà tới tuyên án tử hình cho thầy thì không có sự mù loà nào hơn cho nhà cầm quyền bên thắng cuộc.
    Chúc thầy thượng lộ bình an, kẻ hậu bối được tiếp kiến thầy đôi lần trong cõi ta bà Sài gòn sau miền nam thất thủ chỉ là tên học trò không sách vở cầm tay nhưng có duyên với những tiền bối vang danh một thời. Nhờ đạp xe chở ông cố nội Bùi Giáng về chùa Già Lam mà thành cơ duyên được bái kiến thầy Tuệ Sỹ. Tôi đọc rất nhiều những thi văn của thầy bởi lòng kính trọng sự uyên bác và nhân cách cọng lau gầy trong bàn tay bạo chúa của thầy. Tôi cảm thấy trên mặt đất chúng ta hằng sống có một thế giới khác là thế giới của những người uyên bác. Họ không quan tâm đến những gì người thường chúng ta quan tâm, họ không có nhu cầu đời sống vì họ không sống với những nhu cầu như người thường. Hèn gì giáo sư Phạm Công Thiện từng viết trong tác phẩm “nẻo về của ý” của ông có câu, “tập sống với những gì không có, tập làm quen với những vết hoen ố trên tường…” Có lẽ ông đã sống như thế nên mới hiểu được văn thơ, chữ nghĩa, tinh thần, nhân cách… của thầy Tuệ Sỹ.
    Tạ ơn cả hai tiền bối đã khai thị, khai trí cho vãn sanh, hậu bối.
    Tiếp theo là lời phân ưu của Đức Đạt Lai Lạt Ma với người Việt Nam về sự ra đi, viên tịch của thầy Tuệ Sỹ. Nhìn ảnh Đức Đạt Lai Lạt Ma ôm di ảnh thầy Tuệ Sỹ áp vào ngực ngài là minh chứng cho thầy Tuệ Sỹ khi sinh ra chỉ mình thầy khóc còn mọi người cười, nhưng khi thầy mất đi, thầy viên tịch thì chỉ mình thầy cười còn mọi người khóc. Cuộc đời thầy viết nên trang sử đặc biệt trong lịch sử nước nhà, bất chấp quan điểm nhất thời vì dân mới là vạn đại.
    Cùng đọc lại bài thơ “tôi vẫn đợi” như nén hương lòng tưởng nhớ Trưởng lão Hoà thượng Tuệ Sỹ vừa viên tịch ở quê nhà…
 
Tôi vẫn đợi những đêm dài khắc khoải
Màu xanh xao trong tiếng khóc ven rừng
Trong bóng tối hận thù, tha thiết mãi
Một vì sao bên khoé miệng rưng rưng
Tôi vẫn đợi những đêm đen lặng gió
Màu đen tuyền ánh mắt tự ngàn xưa
Nhìn hun hút cho dài thêm lịch sử
Dài con sông tràn máu lệ quê cha
Tôi vẫn đợi suốt đời quên sóng vỗ
Quên những người xuôi ngược Thái Bình Dương
Người ở lại giữa lòng tay bạo chúa
Cọng lau gầy trĩu nặng ánh tà dương
Rồi trước mắt ngục tù thân bé bỏng
Ngón tay nào gõ nhịp xuống tường rêu
Rồi nhắm mắt ta đi vào cõi mộng
Như sương mai, như ánh chớp, mây chiều
(Sài gòn 78)
Nguồn: Tuệ Sỹ, Giấc mơ Trường Sơn, An Tiêm xuất bản, California, 2002.
 
Tháng mười một sum vầy trong sẵn mầm chia xa, ngày 28 tháng 11 năm nay. Một cây cổ thụ trong giới tinh hoa Việt nam cũng vừa bật gốc. Nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn đã ra đi êm đềm như em đến thăm anh đêm ba mươi/ còn đêm nào đẹp bằng đêm ba mươi/ anh nói với người phu quét đường/ xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em… Mấy câu thơ, lời nhạc trích là ông, ông là mấy câu thơ, lời nhạc trích bất hủ đó. Trùng trùng kỷ niệm về ông qua những lần ông về Dallas để làm những đêm đọc thơ và nghe nhạc Nguyễn Đình Toàn. Một tiền bối khiêm tốn, bình dị nhưng đi vào lòng người như giọng đọc của ông trên đài phát thanh xưa, như quan tâm của ông tới bằng hữu đồng đạo và hậu bối ngưỡng mộ ông.
    Ông đi rồi nhưng hương thơm ly cà phê sáng, vị tô bún bò huế ở Dallas được thưởng thức cùng ông đọng lại, còn mãi trong lòng ngưỡng mộ những cư dân thành Đà. Nhớ ông rất tâm đầu ý hợp với bác Hai Trầu (tức nhà văn Lương Thư Trung). Hai lão tiền bối gặp nhau là thiên thu truyền kỳ truyện. Hậu bối, vãn bối ngồi nghe thâu đêm ở nhà Đinh Yên Thảo thành Đà tới trăng lên trăng lặn trăng tà. Ông với nhà thơ ở cạnh nhà thờ Nguyễn Xuân Thiệp, nhà thơ Tô Thùy Yên khi gặp nhau cũng là tam hợp. Người đời sau hiểu ra, khám phá nhiều lịch sử không có trong sách giáo khoa.
    Tạ ơn ông đã để lại cho đời “áo mơ phai” bất hủ và bất tử, những lời thơ, lời nhạc trong sáng, nhẹ nhàng mà lắng đọng biết bao nhiêu đường trần ai có qua cầu mới hay. Nhưng cái hay của riêng ông là bình thản trước lịch sử, cường quyền, tù ngục… người nghệ sĩ có trái tim tha thứ để yêu thương cả những đáng ghét trong cuộc đời này.
    Buồn. không nói khác được với tin ông ra đi. Nhưng ông đã có một nơi để về từ khi còn sinh tiền là tấm lòng đại lượng, sự tinh tế của người làm nghệ thuật chân chính nên tạo nên được những tác phẩm văn học, thơ ca, âm nhạc tuyệt vời như một đóng góp vào văn minh nhân loại.
    Chúc ngài thượng lộ bình an tới nơi về là cõi vĩnh hằng, không ai bỏ tù người nghệ sĩ chân chính nữa. Mong sự tinh tế trong chữ nghĩa của ngài không thuộc hành lý mang đi cho chữ nghĩa đời sau bớt u ám như bây giờ.
    Tháng mười một kết thúc với sự ra đi của một nhân vật mang tầm lịch sử thế giới là cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger. Đâu hồi hè, tôi thoáng thấy ông trên tivi, ngồi với ông Tập Cận Bình bên Trung Cộng. Hai điều không ngờ ập đến trong tôi. Ủa, ông ấy còn sống hả ta? Và, ông ấy còn đến Trung Cộng để làm gì? Nhưng không quan tâm nên tôi không xem chuyện gì đã và đang xảy ra với chuyến thăm Trung Cộng của ông Kissinger vào tháng bảy vừa qua.
     Hôm 29 tháng 11, truyền thông đưa tin ông Kissinger qua đời ở tuổi 100. Ông trở thành bằng chứng có sống thọ đến trăm tuổi thì cũng ra đi thôi. Nên vấn đề còn lại của đời người là những gì đã làm được khi sinh tiền. Ông không ngẫu nhiên trở thành cố vấn chính phủ Mỹ, Bộ trưởng bộ Ngoại giao Hoa kỳ thời tổng thống thứ 37 Richard Nixon. Nghĩa là ông có thực tài thì mới được đề cử vào hai chức vụ quan trọng ấy. Với thế giới, ông được công nhận là nhà ngoại giao số một thời bấy giờ sau công vụ kết nối với Trung cộng. Đọc lại lịch sử thế giới thời bấy giờ rõ là thế giới rơi vào thế chân vạc giữa Hoa kỳ, Liên Xô, Trung cộng. Ông đi đêm với thủ tướng Chu Ân Lai của Trung cộng lúc bấy giờ để thu xếp chuyến thăm đầu tiên của tổng thống Mỹ tới Bắc Kinh sau thế chiến II. Bức ảnh nồi tiếng trình làng trên mặt báo thế giới là hình ảnh ông Nixon cầm lon Coca-cola trên Vạn lý trường thành. (Chắc là ảnh thật vì thời đó chưa có photoshop).
    Ai rảnh cứ tìm đọc trên Google bây giờ có rất nhiều thông tin về nhân vật lịch sử thế giới này. Nhưng với riêng miền nam nước Việt thì ông là tên đồng minh phản bội. Ông bán đứng miền nam cho cộng sản bắc Việt, cho Trung cộng để đổi lấy những lợi ích của Hoa Kỳ bên Trung Đông, cụ thể ở Do Thái. Đó là lý do người Việt không ưa ông. Lý do Hoa Kỳ đưa ra là ông bắt tay với Trung Cộng để đối phó Nga trong thế tay ba mà Trung Cộng ngả về phe Hoa kỳ thì Liên Xô đơn độc. Lúc đó hai đánh một không chột cũng què…
    Thôi thì lịch sử thế giới còn biết bao nhiêu trang chưa được giải mật và biết bao nhiêu trang sẽ không bao giờ được giải mật. Chỉ biết một con người đi vào lịch sử thế giới với đánh giá chung là người lỗi lạc thì hẳn là ông tài giỏi. Với Việt Nam, ông có là người có tài nhưng không có đức là người vô dụng như sách giáo khoa tôi học hồi nhỏ thì ông cũng là Kissinger - người hùng của Hoa Kỳ, kỳ tài của ngành ngoại giao quốc tế. Cuộc đời ông khép lại như bao cuộc đời người khác, ông là vĩ nhân hay tội đồ phản bội đồng minh thì bàn cờ Việt Nam cũng đã ngã ngũ nửa thế kỷ qua rồi. Xin để ông cho lịch sử phán xét, tiểu nhân không muốn lạm bàn.

 

– phan

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
Tình yêu không phải là thứ ngôn ngữ nói ra, mà là ngôn ngữ để giữ kín! Tôi đã chôn kín hình ảnh đẹp nhất một đời người. Bây giờ người con gái năm xưa đang ở đâu, sống ra sao trong vạn nẽo đường trần hệ lụy. Có còn nhớ cơn mưa bong bóng chiều nào nơi hiên ngôi chùa nhỏ? Có còn tìm thấy những cơn mưa bong bóng bên đời? Hay tất cả đã phôi pha, đã trôi theo những giọt mưa bong bóng một thời đã mất?


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.