Hôm nay,  

Mùa cuối năm...

04/12/202308:30:00(Xem: 2681)
Tạp ghi

autumn leave

Mùa lễ cuối năm ở Mỹ là mùa sum vầy, ai rồi cũng nhớ nhà, người thân vào mùa lễ cuối năm đã về, ai cũng muốn trở về, gặp lại người xưa chốn cũ nên gọi là mùa sum vầy cũng không có gì là quá đáng, nhưng không phải ai cũng có một nơi để về trong trời đất bao la chỗ đến, nhưng về đâu là câu hỏi muôn đời của kiếp nhân sinh.
    Cuối năm, ngồi nghe những tàn phai từ tiếng lá rơi bên thềm, con chim lạc đường bay trong trời tối sớm thống thiết tiếng kêu. Những sự ra đi cuối tháng mười một năm nay cũng không khác gì những sự ra đi cuối tháng mười một năm ngoái, năm trước nữa vì trong sự sum vầy nào cũng sẵn mầm ra đi. Nhưng có những sự ra đi làm người ta tiếc nuối như hôm 24 tháng 11, truyền thông đưa tin thầy Tuệ Sỹ viên tịch lan truyền trên mạng. Sau phút bàng hoàng tiếp nhận hung tin về sự ra đi của người tôi kính ngưỡng từ khi còn đi học. Nhưng bình tĩnh lại tôi thấy mừng cho “cọng lau gầy trĩu nặng bóng tà dương” đã được giải thoát. Chẳng phải thầy đã sống một đời như cọng lau gầy trĩu nặng bóng tà dương với thân thế người ở lại trong bàn tay bạo chúa, trong bối cảnh lịch sử đất nước chiến tranh tàn khốc nhưng hoà bình mù loà, mù loà tới tuyên án tử hình cho thầy thì không có sự mù loà nào hơn cho nhà cầm quyền bên thắng cuộc.
    Chúc thầy thượng lộ bình an, kẻ hậu bối được tiếp kiến thầy đôi lần trong cõi ta bà Sài gòn sau miền nam thất thủ chỉ là tên học trò không sách vở cầm tay nhưng có duyên với những tiền bối vang danh một thời. Nhờ đạp xe chở ông cố nội Bùi Giáng về chùa Già Lam mà thành cơ duyên được bái kiến thầy Tuệ Sỹ. Tôi đọc rất nhiều những thi văn của thầy bởi lòng kính trọng sự uyên bác và nhân cách cọng lau gầy trong bàn tay bạo chúa của thầy. Tôi cảm thấy trên mặt đất chúng ta hằng sống có một thế giới khác là thế giới của những người uyên bác. Họ không quan tâm đến những gì người thường chúng ta quan tâm, họ không có nhu cầu đời sống vì họ không sống với những nhu cầu như người thường. Hèn gì giáo sư Phạm Công Thiện từng viết trong tác phẩm “nẻo về của ý” của ông có câu, “tập sống với những gì không có, tập làm quen với những vết hoen ố trên tường…” Có lẽ ông đã sống như thế nên mới hiểu được văn thơ, chữ nghĩa, tinh thần, nhân cách… của thầy Tuệ Sỹ.
    Tạ ơn cả hai tiền bối đã khai thị, khai trí cho vãn sanh, hậu bối.
    Tiếp theo là lời phân ưu của Đức Đạt Lai Lạt Ma với người Việt Nam về sự ra đi, viên tịch của thầy Tuệ Sỹ. Nhìn ảnh Đức Đạt Lai Lạt Ma ôm di ảnh thầy Tuệ Sỹ áp vào ngực ngài là minh chứng cho thầy Tuệ Sỹ khi sinh ra chỉ mình thầy khóc còn mọi người cười, nhưng khi thầy mất đi, thầy viên tịch thì chỉ mình thầy cười còn mọi người khóc. Cuộc đời thầy viết nên trang sử đặc biệt trong lịch sử nước nhà, bất chấp quan điểm nhất thời vì dân mới là vạn đại.
    Cùng đọc lại bài thơ “tôi vẫn đợi” như nén hương lòng tưởng nhớ Trưởng lão Hoà thượng Tuệ Sỹ vừa viên tịch ở quê nhà…
 
Tôi vẫn đợi những đêm dài khắc khoải
Màu xanh xao trong tiếng khóc ven rừng
Trong bóng tối hận thù, tha thiết mãi
Một vì sao bên khoé miệng rưng rưng
Tôi vẫn đợi những đêm đen lặng gió
Màu đen tuyền ánh mắt tự ngàn xưa
Nhìn hun hút cho dài thêm lịch sử
Dài con sông tràn máu lệ quê cha
Tôi vẫn đợi suốt đời quên sóng vỗ
Quên những người xuôi ngược Thái Bình Dương
Người ở lại giữa lòng tay bạo chúa
Cọng lau gầy trĩu nặng ánh tà dương
Rồi trước mắt ngục tù thân bé bỏng
Ngón tay nào gõ nhịp xuống tường rêu
Rồi nhắm mắt ta đi vào cõi mộng
Như sương mai, như ánh chớp, mây chiều
(Sài gòn 78)
Nguồn: Tuệ Sỹ, Giấc mơ Trường Sơn, An Tiêm xuất bản, California, 2002.
 
Tháng mười một sum vầy trong sẵn mầm chia xa, ngày 28 tháng 11 năm nay. Một cây cổ thụ trong giới tinh hoa Việt nam cũng vừa bật gốc. Nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn đã ra đi êm đềm như em đến thăm anh đêm ba mươi/ còn đêm nào đẹp bằng đêm ba mươi/ anh nói với người phu quét đường/ xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em… Mấy câu thơ, lời nhạc trích là ông, ông là mấy câu thơ, lời nhạc trích bất hủ đó. Trùng trùng kỷ niệm về ông qua những lần ông về Dallas để làm những đêm đọc thơ và nghe nhạc Nguyễn Đình Toàn. Một tiền bối khiêm tốn, bình dị nhưng đi vào lòng người như giọng đọc của ông trên đài phát thanh xưa, như quan tâm của ông tới bằng hữu đồng đạo và hậu bối ngưỡng mộ ông.
    Ông đi rồi nhưng hương thơm ly cà phê sáng, vị tô bún bò huế ở Dallas được thưởng thức cùng ông đọng lại, còn mãi trong lòng ngưỡng mộ những cư dân thành Đà. Nhớ ông rất tâm đầu ý hợp với bác Hai Trầu (tức nhà văn Lương Thư Trung). Hai lão tiền bối gặp nhau là thiên thu truyền kỳ truyện. Hậu bối, vãn bối ngồi nghe thâu đêm ở nhà Đinh Yên Thảo thành Đà tới trăng lên trăng lặn trăng tà. Ông với nhà thơ ở cạnh nhà thờ Nguyễn Xuân Thiệp, nhà thơ Tô Thùy Yên khi gặp nhau cũng là tam hợp. Người đời sau hiểu ra, khám phá nhiều lịch sử không có trong sách giáo khoa.
    Tạ ơn ông đã để lại cho đời “áo mơ phai” bất hủ và bất tử, những lời thơ, lời nhạc trong sáng, nhẹ nhàng mà lắng đọng biết bao nhiêu đường trần ai có qua cầu mới hay. Nhưng cái hay của riêng ông là bình thản trước lịch sử, cường quyền, tù ngục… người nghệ sĩ có trái tim tha thứ để yêu thương cả những đáng ghét trong cuộc đời này.
    Buồn. không nói khác được với tin ông ra đi. Nhưng ông đã có một nơi để về từ khi còn sinh tiền là tấm lòng đại lượng, sự tinh tế của người làm nghệ thuật chân chính nên tạo nên được những tác phẩm văn học, thơ ca, âm nhạc tuyệt vời như một đóng góp vào văn minh nhân loại.
    Chúc ngài thượng lộ bình an tới nơi về là cõi vĩnh hằng, không ai bỏ tù người nghệ sĩ chân chính nữa. Mong sự tinh tế trong chữ nghĩa của ngài không thuộc hành lý mang đi cho chữ nghĩa đời sau bớt u ám như bây giờ.
    Tháng mười một kết thúc với sự ra đi của một nhân vật mang tầm lịch sử thế giới là cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger. Đâu hồi hè, tôi thoáng thấy ông trên tivi, ngồi với ông Tập Cận Bình bên Trung Cộng. Hai điều không ngờ ập đến trong tôi. Ủa, ông ấy còn sống hả ta? Và, ông ấy còn đến Trung Cộng để làm gì? Nhưng không quan tâm nên tôi không xem chuyện gì đã và đang xảy ra với chuyến thăm Trung Cộng của ông Kissinger vào tháng bảy vừa qua.
     Hôm 29 tháng 11, truyền thông đưa tin ông Kissinger qua đời ở tuổi 100. Ông trở thành bằng chứng có sống thọ đến trăm tuổi thì cũng ra đi thôi. Nên vấn đề còn lại của đời người là những gì đã làm được khi sinh tiền. Ông không ngẫu nhiên trở thành cố vấn chính phủ Mỹ, Bộ trưởng bộ Ngoại giao Hoa kỳ thời tổng thống thứ 37 Richard Nixon. Nghĩa là ông có thực tài thì mới được đề cử vào hai chức vụ quan trọng ấy. Với thế giới, ông được công nhận là nhà ngoại giao số một thời bấy giờ sau công vụ kết nối với Trung cộng. Đọc lại lịch sử thế giới thời bấy giờ rõ là thế giới rơi vào thế chân vạc giữa Hoa kỳ, Liên Xô, Trung cộng. Ông đi đêm với thủ tướng Chu Ân Lai của Trung cộng lúc bấy giờ để thu xếp chuyến thăm đầu tiên của tổng thống Mỹ tới Bắc Kinh sau thế chiến II. Bức ảnh nồi tiếng trình làng trên mặt báo thế giới là hình ảnh ông Nixon cầm lon Coca-cola trên Vạn lý trường thành. (Chắc là ảnh thật vì thời đó chưa có photoshop).
    Ai rảnh cứ tìm đọc trên Google bây giờ có rất nhiều thông tin về nhân vật lịch sử thế giới này. Nhưng với riêng miền nam nước Việt thì ông là tên đồng minh phản bội. Ông bán đứng miền nam cho cộng sản bắc Việt, cho Trung cộng để đổi lấy những lợi ích của Hoa Kỳ bên Trung Đông, cụ thể ở Do Thái. Đó là lý do người Việt không ưa ông. Lý do Hoa Kỳ đưa ra là ông bắt tay với Trung Cộng để đối phó Nga trong thế tay ba mà Trung Cộng ngả về phe Hoa kỳ thì Liên Xô đơn độc. Lúc đó hai đánh một không chột cũng què…
    Thôi thì lịch sử thế giới còn biết bao nhiêu trang chưa được giải mật và biết bao nhiêu trang sẽ không bao giờ được giải mật. Chỉ biết một con người đi vào lịch sử thế giới với đánh giá chung là người lỗi lạc thì hẳn là ông tài giỏi. Với Việt Nam, ông có là người có tài nhưng không có đức là người vô dụng như sách giáo khoa tôi học hồi nhỏ thì ông cũng là Kissinger - người hùng của Hoa Kỳ, kỳ tài của ngành ngoại giao quốc tế. Cuộc đời ông khép lại như bao cuộc đời người khác, ông là vĩ nhân hay tội đồ phản bội đồng minh thì bàn cờ Việt Nam cũng đã ngã ngũ nửa thế kỷ qua rồi. Xin để ông cho lịch sử phán xét, tiểu nhân không muốn lạm bàn.

 

– phan

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hôm đó, cô nhất định phải giết cây dạ quỳnh. Khi đêm tối bao phủ, cô sẽ ra tay. Lấy một con dao bén để xắt cành lá nó ra từng mảnh nhỏ. Lấy chai thuốc Draino loại hủy hoại rễ cây để ngâm hết các rễ của nó. Nó phải chết một cách tiệt tích, không còn một chút cơ hội nào sống sót. Nó phải bị phơi khô trên cao vì Quỳnh đụng đất sẽ có thể mọc lại. Cô biết, giết Quỳnh là mất đi tiếng nói vo ve chị em tâm sự. Cô đơn khi có Quỳnh sẽ thay vào cô đơn không có Quỳnh. Cô sẽ bắt đầu một cô đơn khác.
Càng lớn tuổi chừng nào, thì người ta lại thường hay nhớ tới những kỷ niệm trong dĩ vãng của mình nhiều bấy nhiêu. Nhất là những người cao niên đã về hưu, không còn bị ràng buộc bởi những công việc làm thường ngày của mình như trước kia, nên có nhiều thì giờ rảnh rỗi ngồi ở nhà một mình, để hồi tưởng lại những kỷ niệm buồn vui khó quên trong cuộc đời mình, rồi để có những lúc tâm sự cho nhau nghe lại những kỷ niệm khó quên này, trong những dịp tiệc tùng họp mặt bạn bè.
Lộc đã chết! Tích ngỡ ngàng khi nghe tin đó. Chàng không tin vào tai mình. Làm sao Lộc có thể chết được? Mình mới gặp anh ấy có tuần trước thôi mà! Trông anh còn khỏe mạnh, tự tin, tràn đầy sức sống. Vậy mà bây giờ anh đã không còn nữa. Cái chết của anh có cái gì đó không thật. Và có lẽ đó là lần đầu tiên Tích đứng trước nhận thức trực tiếp và thâm sâu về tính chất phi lý của một sự kiện quá bình thường trên đất nước chiến tranh này.
Từ giữa tháng Tám, trước ngày Lễ Labour Day, các trung tâm shopping đã rầm rộ quảng cáo “On Sale” cho mùa “Back To School”. Các con tôi đã lớn, qua rồi cái thuở đi sắm backpacks, tập vở, giấy bút, lunch bags, áo quần, nhưng lòng tôi vẫn nao nao bâng khuâng nhớ về những kỷ niệm ấy. Cũng có lúc tôi lại nh ... chính tôi, ngày xưa là cô giáo trẻ khi còn ở Việt Nam, và nhất là những tháng ngày ở trại tỵ nạn Thailand, làm cô giáo “đặc biệt” có những học trò cũng rất “đặc biệt”.
Chị Hai đã uống một ly nước đầy và đi làm việc tiếp. Đoan vào lại chỗ của mình. Như một phản xạ, Đoan lại cho tay vào túi, làm như tìm xem trong đó có sót lại một viên kẹo chăng. Mơ hồ, Đoan nhớ ngày xưa Đoan hay ví một hành động “vớt vát” nào đó như là “tìm con cá sót lại trong chiếc giỏ của cô Tấm.” Mắt Đoan cay cay. Bỗng như thấy mình đang đi vào lại đường cây còng. Mùa mưa, những chiếc lá trên cao đọng nước, rũ nhè nhẹ xuống tóc Đoan, nghe mát. Hai túi áo blouse lúc nào cũng đầy kẹo. Đoan vào trại bệnh. Những dãy giường đầy người. Thay băng xong cho ai, Đoan tặng người ấy một viên kẹo
Ở đây tôi chỉ muốn đưa một vài nét chính của các môn Khí công mà tôi đã tập qua, để người đọc theo đó sẽ chọn được một môn pháp thích hợp cho mình tập. Chả thế người xưa thường hay nói “Tùy bịnh chọn công“, tùy theo thể chất và sức khoẻ mà chọn cách tập Khí công.
Ngày tựu trường năm nay, trường Việt Ngữ Suối Mở Offenbach đón tiếp 14 học trò mới với tuổi tác, trình độ tiếng Đức, tiếng Việt chênh lệch khá nhiều. Tạm thời, cô giáo gọi lớp này là Lớp Mới. Giờ học đầu tiên, cô giáo chưa thực sự “dạy” chữ, chỉ “dỗ” các học trò. Hy vọng học trò sẽ thấy học tiếng Việt không khó lắm và tìm thấy niềm vui khi đến trường Việt Ngữ mỗi thứ Bảy. Chờ cho học trò tìm chỗ ngồi xong, cô giáo giới thiệu mình, và tập cho học trò chào hỏi. Nghe các em đồng thanh: “Con chào cô giáo”, lòng cô giáo rộn lên niềm vui, liên tưởng câu châm ngôn “tiên học lễ, hậu học văn” mình được học ngày xưa.
Cô vẫn nhìn thẳng phía trước, không nhìn ngang nhìn ngửa. Anh liếc nhìn cái túi xách giữa hai đùi cô, thấy cộm lên, nghĩ rằng trong ấy có một khẩu súng ngắn, đã lên đạn, lát nữa sẽ kề vào thái dương của anh. Anh nín thở.
Tháng tư 1976, sau một mùa đông ở North Dakota, vừa có bằng lái xe, tôi bỏ việc, bỏ lại một vùng quá bình an, quá tử tế, nhưng cũng quá cô quạnh này, đi thẳng về hướng tây...
“Anh nhớ đến dự lễ trao đẳng cấp Đại Bàng cho thằng con em nha! Để mừng cho em và cháu…” Tôi nhận được điện thoại như vậy từ C., một người bạn trẻ có con trai là hướng đạo sinh thuộc Liên Đoàn Trường Sơn, được nhận danh hiệu Đại Bàng vào ngày 16/08/2025. Đã lâu rồi, kể từ khi hai thằng con ngưng sinh hoạt hướng đạo để đi học đi làm, tôi không có dịp trở về thăm lại liên đoàn. Công việc thì nhiều, thời gian thì ít. Nhưng lần này thì không từ chối được rồi!
Đó là tháng 6-1989, lần đầu đến New York và vào một bảo tàng viện nổi tiếng ở đây, tôi tình cờ, tới chỗ treo một bức tranh trừu tượng khổng lồ, cao khoảng 2 mét, ngang khoảng 6 mét. Tôi kinh ngạc với sự giàu có ở đây, bảo tàng viện này dành riêng ra một căn phòng lớn, đơn giản, sang trọng, chỉ để trưng bày một bức tranh đó...
Tôi bị bắt tại huyện Tân Hiệp chiều ngày hai mươi, giáp Tết. Lý do, mang theo hàng không giấy phép. Thế là tiêu tan hết vốn lẫn lời mà tôi chắt chiu, dành dụm gần cả năm nay. Nhớ đến mẹ và gia đình trong những ngày Tết sắp tới, tôi vừa buồn vừa tức đến bật khóc. Xui rủi, biết trách ai. Tiễn, anh phụ lơ, đã cẩn thận cất dấu hàng cho tôi, vã lại anh cũng quá quen biết với đám công an trạm kiểm soát. Không ngờ chuyến nầy bọn công an tỉnh xuống giải thể đám địa phương, nên tôi bị “hốt ổ” chung cả đám. Đây không phải là lần đầu bị bắt, nhưng lại là lần đầu tiên tôi đi chuyến vốn lớn như vầy. Năm ký bột ngọt, năm ký bột giặt, hơn chục ống thuốc cầm máu và trụ sinh hàng ngoại. Bột ngọt, bột giặt không nói gì, nhưng hai thứ sau hiếm như vàng mà giới “chạy hàng” chúng tôi gọi là “vàng nước”. Nên thay vì đưa về khu tạm giam huyện chờ lập biên bản, hồ sơ xét xử tôi nghe bọn công an thì thầm, bàn tán giải thẳng về khám lớn tỉnh Rạch Giá.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.