Hôm nay,  

Chim về Núi Nhạn

14/01/202413:56:00(Xem: 3889)


2023-03-20 thoa

Each turn at the road brings
new thoughts and each sunrise
fresh emotions.

– Unknown

 

Ngày xưa nghe hát khi đất nước tôi thanh bình tôi sẽ đi không ngừng.  Sài Gòn ra Trung.  Hà Nội vô Nam …”  Còn tôi, nếu được, thì tôi sẽ đi đâu?  Cái dải đất hình chữ S hiện nay có hơn sáu mươi tỉnh, nếu cưỡi ô tô xem hoa mỗi tỉnh một tuần phải mất hơn một năm. Tôi đã đi hai địa điểm tạm gọi là xa nhất ở Bắc và Nam là Lũng Cú và Cà Mau, thêm vài nơi lên rừng xuống biển nổi tiếng như Sa Pa và Hạ Long.  Lần này, 2023, tôi chọn đi xem Tuy Hòa (Phú Yên) và Qui Nhơn (Bình Định) hai thành phố nhỏ, không mấy nổi tiếng với hy vọng nhìn thấy, cuộc sống tỉnh lẽ vẫn còn đằm thắm hiền hòa, chưa huyên náo chật chội như Hội An, nơi mỗi ngày có cả chục chuyến xe buýt thả nườm nượp khách du lịch xuống bến.  Tôi không có sẵn khái niệm về hai thành phố này, nhờ đó sẽ tránh được sự thất vọng nếu thành phố đã “hương đồng cỏ nội phai đi ít nhiều.”  Tôi sẽ chỉ nhìn ngắm và ghi nhận cảm xúc của riêng mình chứ không phê phán gì cả.
    Những điều tôi biết về Tuy Hòa, gói trọn trong vài truyện ngắn và bài hát.  Tuy Hòa có nhiều nhà văn.  Nghe kể rằng, nhiều người không sống bằng nghề viết, nhưng đến Tuy Hòa ở một thời gian, có lẽ, nhờ phong thủy đều trở thành văn thi sĩ nổi tiếng.  Một nhà văn Tuy Hòa nổi tiếng là ông Võ Hồng.  Ông được nhiều người yêu mến qua “Trận Đòn Hòa Giải.”  Ông còn có rất nhiều truyện ngắn và truyện ở Sài Gòn trước 75.  Văn của ông có phong cách điềm đạm và chững chạc của một nhà giáo.  Tôi hiện có truyện ngắn “Mong Manh Một Thoáng” của Võ Hồng.  Và truyện ngắn “Thư Từ Tuy Hòa” của Cảnh Cửu. 
    “Thư Từ Tuy Hòa” gây ấn tượng mạnh mẽ trong tôi bằng giọng văn ráo hoảnh.  Nhân vật trong truyện, người viết lá thư, là một cô giáo.  Thư gửi một anh quân nhân mới quen.  Khi vào truyện người đọc được cho biết anh lính ấy đã chết vài ba hôm trước khi nhận được thư.  Thư được mở ra sau hai mươi mốt ngày.  Truyện xuất hiện trên Văn số 45, và bút hiệu này chỉ xuất hiện trên tạp chí Văn một hay hai lần.  Nếu nói Cảnh Cửu là bút hiệu khác của một nhà văn, nam hay nữ, nổi danh tôi sẽ không ngạc nhiên.  Nếu xếp “Lá Thư Tuy Hòa” vào thể loại du ký (travel writing), thì đây là một du ký hạng nhất. Hai nhân vật, cô giáo người Tuy Hòa, và anh quân nhân là người gốc Qui Nhơn nhưng đã đi xa từ lâu.  Hai người cùng đi với nhau từ Tuy Hòa đến Qui Nhơn.  Thời gian tuy chỉ một hai ngày nhưng đủ để tình cảm nảy sinh giữa hai người biến thành tình yêu, một thứ tình yêu hối hả, vội vã, của người quân nhân, sống như không có ngày mai và cô giáo cũng biết là anh quân nhân có thể không có ngày mai.  Cảnh Cửu nhắc nhiều đến những địa danh thuộc Phú Yên và Bình Định.  Mỗi địa danh có kèm theo một vài chi tiết đặc biệt về địa danh ấy, chỉ có người sống ở đó nhiều năm mới nhận ra.  Tôi vẫn thường cho rằng phải là người sống nhiều năm ở một nơi chốn nào đó thì mới có thể diễn tả cái hay, cái đẹp, cái dễ thương hoặc là dễ ghét về nơi chốn ấy.  Cảnh Cửu củng cố niềm tin này trong tôi.
    “Con sông Đà Rằng chảy qua cây cầu một ngàn hai mươi thước đó làm anh mê à.  Mùa mưa nước lênh láng bao la thật.  Cũng mùa mưa nước đổ dầm dề gió bấc cắt da chỉ còn con sông Đà và chỏm núi Nhạn là tương phùng như trong chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh.”
    Qua Cảnh Cửu, Tuy Hòa có cây cầu xe lửa chạy trên cao, gió dũi dũi trên mặt sông mát lịm, đập Đồng Cam, đèo Cả, đất úng phèn Hảo Sơn, sông Đà và núi Nhạn. Nghe kể rằng, núi mang tên Nhạn vì ngày xưa trên núi có chim nhạn làm tổ rất đông.  Chim nhạn có lẽ là chim én, hay yến, nếu không cũng chung giòng họ.  Tôi không hề biết hình dáng chim nhạn, nhưng loài chim này luôn gợi lên những hình ảnh rất thi vị.
    Nhạc sĩ Tu Mi trong bài “Tan Tác” viết rằng: “Mây bao la trời đen u tối. Đêm đông trường lữ khách bâng khuâng. Ngóng về phương xa chờ tin nhạn. Nhưng nhạn nào có biết nơi nao mà chờ.”
    Hàn Mặc Tử, mộ chôn nơi Ghềnh Ráng, cũng từng mong chim nhạn về. “Trước sân anh thơ thẩn. Đăm đăm trông nhạn về. Mây trời còn phiêu bạt. Lang thang trên đồi quê.”
    Chim nhạn, gợi lên hình ảnh của sự lãng du, phiêu bạt, và từ đó, sự chia ly.
Trên đường lên tháp Nhạn, tôi bước chân theo mấy câu hát nhịp nhàng “Anh còn nợ em. Chim về núi Nhạn. Trời mờ mưa đêm.” Tưởng tượng đến khuôn mặt nhăn nhó đau khổ, của anh ca sĩ nào đó rồi tự hỏi: núi Nhạn đóng vai trò gì trong chuyện anh còn nợ em của Anh Bằng.  Phải công nhận, thi sĩ và nhạc sĩ có tài xâu chuỗi những sự vật tưởng chừng như chẳng liên hệ gì với nhau, như nợ em, núi Nhạn, và mưa đêm, để làm thành câu hát.  Phải chăng, chim quay về chốn cũ mà người ra đi không về, cũng chẳng có thư, nên người nơi xa cảm thấy mình thiếu nợ người ở lại?
Trước khi đến Tuy Hòa tôi có thăm tháp Chăm  Po Klong Garai ở Phan Rang.  Tháp ở trên đồi không cao lắm, chừng trăm bậc thang, nhưng có lẽ vì say xe, hay tại buổi sáng hôm đó tôi uống ly sữa pha bằng nước chưa sôi, cũng có thể vì trời nóng quá sức tôi chịu được nên tôi bị đổ mồ hôi lạnh, choáng váng, và nôn mửa (triệu chứng của bị sốc nhiệt).  Vì vậy, khi nghe Tuy Hòa có tháp Nhạn, tôi ngần ngừ không muốn thăm dù tiện đường đi và gần thành phố.  Hầu hết tất cả tháp Chăm  miền duyên hải thường được xây trên đồi cao, gần cửa biển, có sông rộng và dài chảy sâu vào nội địa.  Tôi sợ trời nóng, sức yếu không lên nổi đồi cao.  Tuy nhiên núi Nhạn cao chỉ 64 mét so với mực nước biển.  Và du khách không cần phải đi bộ leo bậc thang mà có xe “tram” chở thẳng lên đồi. 
    Tháp Nhạn nhỏ hơn tháp Po Klong Garai.  Trên đỉnh tháp có linga, được phục chế có màu xám của xi măng chứ không đỏ cái màu đặc trưng của gạch xây tháp.  Trước kia núi Nhạn bị Pháp bắn pháo vào làm sụp đổ một phần tháp.  Vòng quanh chân tháp Nhạn có nhiều tượng phục chế trong đó có Ganesha khiến tôi đoán tháp sẽ thờ thần Hindu, nhưng, tháp thờ thánh mẫu Thiên Y A Na một phiên bản của thánh mẫu Thiên Hậu.  Người Chăm là những người thiện chiến hoặc chuyên nghề mua bán vận chuyển bằng đường biển.  Thánh mẫu Thiên Y A Na là vị thần phù hộ cho người đi biển được an lành.
    Đứng bên tháp Nhạn tôi thấy có hai cây cầu.  Một cây cầu bắc ngang sông Đà Rằng, còn gọi là sông Ba.  Còn cây cầu kia dành riêng cho xe lửa.

1 Cầu Đà Rằng
Cầu Đà Rằng, tức là cầu sông Ba.

“Con sông Đà Rằng uốn khúc tự Cao nguyên xa.  Nó mang về đây ruộng lúa đập Đồng Cam sau khi đã bỏ đất đen miền nhiệt đới Cheo Reo.  Ruộng lúa có xanh tươi thật, bông trái có trĩu cành thật.  Nhưng đó chẳng qua là một cái gì nhỏ bé của xứ Phú Yên này.”
– Cảnh Cửu

2 cầu xe lửa Tuy Hòa
Cầu dành riêng cho xe lửa ở Tuy Hòa.

“Họ vui mừng với những con tàu đến để rồi buồn rầu với những con tàu đi. Lòng họ trống không, mắt mờ như hồn tôi mờ theo con tàu hăm tám tết năm nay.”
    “Buổi trưa tôi lên ở ga này thấy anh đang gặm bắp đó.  Hồi còi run rẩy lìa ga xép.  Con tàu thì chạy anh thì nhai dễ thương chi lạ.  Tôi đâm ra yêu cái thân xác run run của con tàu, tiếng động rêm rêm trên đường sắt và người đồng hành biết thưởng thức hương vị quê hương mình – biết đâu đó cũng là sự chung tình khả ái.” – Cảnh Cửu.
    Trên núi Nhạn vẫn còn cái lô cốt từ thời Pháp.  Ngày tôi đến có hai người đàn ông mặc thường phục đang ăn trưa, một trong hai người là bộ đội phục viên, người kia là khách của ông.  Có lẽ một trong hai người là nhân viên trông chừng tháp.
    Từ Tuy Hòa, theo chân Cảnh Cửu tôi đi Qui Nhơn.  Theo ông, Qui Nhơn là một vùng quê hương nghèo nàn, cuộc sống khó khăn.  Qui Nhơn có gì? Đường hầm qua dãy Cù Mông tối đenVân Canh nhiều thượng.  Diêu Trì ngã ba.  Cầu đôi nước đứng. Tháp Chăm  gạch đỏ và núi Qui Nhơn lở lói. Và có mộ Hàn Mặc Tử.  Trần Thiện Thanh trong bài hát Hàn Mặc Tử đã viết “Tìm vào cô đơn, đất Qui Nhơn gầy đón chân Hàn đến.”  Tại sao Qui Nhơn gầy?  Vì nghèo?  Nhìn trên bản đồ thì tỉnh Bình Định có hình dáng gầy guộc hơn so với tỉnh Gia Lai. 
    Qui Nhơn giàu nhân tài.  Về văn học hiện đại có Hàn Mặc Tử, Quách Tấn và Chế Lan Viên.  Văn học hậu hiện đại - miền Nam trước năm 75 có ông Võ Phiến.  Trong sử học thì có những danh tướng của Tây Sơn như Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân. 

3 Tháp Nhạn
Tháp Nhạn.

4 Tháp Po Klong Garai
Tháp Po Klong Garai.
 
Những người thích đi xa thường thích đọc và viết bút ký về du hành.  Người đi cũng như người viết, chắc có lần tự hỏi, hay bị người khác hỏi đi để làm gì?  Du lịch là một sở thích rất cá nhân, cho dù có đi chung nhiều người, mỗi người sẽ có câu trả lời riêng, vì những điều họ tìm kiếm, để thỏa mãn nhu cầu nào đó sẽ rất khác biệt nhau, đôi khi không dễ dàng thố lộ với bất cứ người nào. 
    Người ta bảo rằng “đi một ngày đàng, học một sàng khôn.”  Không dám nói là đã học được thậm chí một phần mười của sàng khôn, nhưng chuyến đi đưa ra những câu hỏi, khiến tôi nhận ra rất nhiều điều tôi không biết.  Hai cái tháp Chăm khiến tôi tự hỏi người Chăm là ai.  Ranh giới quốc gia của họ từ đâu đến đâu?  Họ có mặt trên dải đất miền Trung bây giờ là Việt Nam từ lúc nào? Vâng.  Tôi thú nhận mình là người dốt sử ký và địa lý.  Người Chăm vẫn thường bị gọi là Mán là Mường, và, bọn Chiêm bọn Hời. Nhưng, người Chăm đã biết xây dựng những kiến trúc đầy nghệ thuật và rất bền vững, trước khi Đại Việt có nền văn hóa đáng chú ý về mặt kiến trúc rất nhiều năm.  Từ người Chăm người Đại Việt bắt chước trồng một loại lúa ngắn ngày (mau thu hoạch) và chịu được hạn hán gọi là Chiêm Mễ.  Những đồng lúa ít nước và ngắn ngày này được gọi là đồng Chiêm.  Tại sao một nền văn minh cường thịnh như thế sao lại trở nên mai một? 
    Về nhà, đọc Wikipedia, đọc Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, và một vài quyển sách khảo cổ tiếng Anh và tiếng Việt về Champa tôi biết thêm một số chi tiết.  Những chi tiết này không có gì mới lạ, chỉ có tôi đến bây giờ mới biết.  Champa còn được gọi là Chăm, Chàm, hay Chiêm Thành.  Người phục chế tháp Po Klong Garai là vua Chế Mân, người đã đánh đổi hai châu Ô và Lý để cưới công chúa Huyền Trân.  Châu Ô nằm trong Quảng Trị và một phần lớn phía bắc Quảng Trị đã thuộc về đời nhà Lý.  Châu Lý cách Huế ngày nay chừng 20 km.  Vua Chế Mân cưới công chúa Huyền Trân năm 1306, lúc công chúa 19 tuổi (1287 - 1340). Tôi có gặp một khúc phim ngắn về công chúa Huyền Trân nói rằng bà sinh năm 1277 nhưng tôi nghĩ là người làm đoạn phim này có thể nhầm.  Một năm sau khi cưới Huyền Trân vua Chế Mân qua đời.  Sử sách không ghi chép năm sinh của ông, chỉ biết ông cai trị Chiêm Thành từ năm 1288 đến năm 1307.  Có nghĩa là khi ông lên ngôi, công chúa Huyền Trân mới được một tuổi.  Trước khi lên ngôi vua, nhiều năm Chế Mân đã cùng vua cha đi đánh trận và chạy loạn (khi thua trận).  Suy diễn một chút, Chế Mân hơn Huyền Trân ít nhất là hai mươi tuổi.  Nếu Chế Mân lên làm vua năm hai mươi tuổi thì ông có thể cùng tuổi với Trần Khắc Chung.  Khi Chế Mân qua đời, vua Trần Anh Tông cho Trần Khắc Chung (1247-1330) đón Huyền Trân về nước. 
    Theo một bản dịch của ông Ngô Bắc (Gió O) nói về mậu dịch của người Chăm, khi thuận gió, từ Quảng Châu (xa hơn Thăng Long về hướng Bắc) đến xứ Chăm  (Champa/Chiêm Thành) mất tám ngày. Tôi, người đọc sử bây giờ, tự hỏi, không biết ngược gió thì mất bao lâu?
    Đại Việt Toàn Thư Sử Ký ghi rằng:
    Năm 1305, tháng 2, vua Chiêm Thành sai Chế Bồ Đài dẫn một đoàn hơn 100 người sang cầu hôn công chúa Huyền Trân.  Cả triều đình phản đối việc gã công chúa, chỉ có hai vị quan Việt là Đạo Tải và Trần Khắc Chung tán thành cuộc hôn nhân này. 
    Năm 1306, tháng 3, công chúa Huyền Trân đến Chiêm Thành làm vợ Chế Mân. 
    Năm 1307, tháng 5, vua Chế Mân chết.  Tháng 10 Trần Khắc Chung (Thượng Thư) và Đặng Văn (An Phủ Sứ) đến Chiêm Thành đón công chúa và hoàng tử Chế Đa Da về.  Thượng hoàng (Trần Thái Tông) sai trại chủ Hóa Châu cho thuyền đưa 300 người Chiêm về nước.
    Năm 1308, tháng 8, công chúa mới về đến triều đình.  Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi rằng vì Trần Khắc Chung tư thông với công chúa Huyền Trân nên mất 10 tháng cho chuyến đi.
    Năm 1311 công chúa Huyền Trân qui y ở làng Hồ Sơn, huyện Thiên Bản nay thuộc Nam Định – Chùa Nộm Sơn – Quảng Nghiêm Tự.
    Tháng 12 năm 1312 Trần Khắc Chung được phong chức Tả phụ, tước quan Phục Hầu.
    Sử ký ghi rằng Trần Khắc Chung đã dùng mưu, đặt thuyền nhẹ ở bờ biển, cướp Công Chúa đưa đi, lúc nàng làm bị đưa lên đài hỏa thiêu theo nghi thức người Chiêm Thành hễ vua chết thì hoàng hậu bị hỏa thiêu để được theo vua. Là người đọc sử, tôi tự hỏi, tại sao khi Công Chúa về đến Thăng Long vua lại cho đưa 300 người Chiêm về Chiêm Thành?  Có phải họ ở trong đoàn tháp tùng đưa công chúa về Đại Việt?  Nếu Trần Khắc Chung dùng khinh thuyền để cướp công chúa thì làm sao mang được hơn ba trăm người? Nếu tư thông với công chúa Huyền Trân, Khắc Chung đã phạm tội khi quân; tuy vậy, ông không bị trừng phạt. Trái lại, bốn năm sau khi bị cáo buộc tội tư thông với Huyền Trân, Trần Khắc Chung lại được lên chức trở thành Tả Phụ.  Trần Khắc Chung hơn Huyền Trân đến 40 tuổi.  Lẽ nào một vị công thần vào sinh ra tử, đánh giặc phò vua, lại đi tư thông với một người đáng tuổi con cháu mình?  Lẽ nào, Trần Khắc Chung đã có tình ý với Huyền Trân lại tán thành việc đưa người mình yêu sang làm vợ Chế Mân?  Không tin chính sử thì chẳng biết dựa vào đâu để tìm hiểu sự việc xảy ra. Tuy vậy, sử Việt có thể đáng tin đến mức độ nào?  Khi công chúa Huyền Trân kết hôn với Chế Mân, hai nước Chiêm Thành và Đại Việt có quan hệ hòa bình khá bền vững.  Hai nước không có chiến tranh với nhau.  Ngay cả khi Huyền Trân về Đại Việt hai nước cũng không có những trận đánh lớn cho mãi đến bảy thập niên về sau.
    Năm 1377, vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga, người có tài binh lược, giỏi thu thập tin tức gián điệp, mang quân sang đánh Đại Việt.  Vua Chiêm lập mưu, bao vây và giết chết vua Trần Duệ Tôn.  Chế Bồng Nga có tài dụng binh, khi đánh cho voi đi trước mở đường khi rút lui cho voi đi sau cùng để bọc hậu.  Mười hai lần mang quân đánh Đại Việt.  Hai lần quân Chiêm đánh vào tận Thăng Long, đốt cung điện cháy tan hoang. 
    Năm 1390, ngày 23 tháng Giêng, Chế Bồng Nga đang ở trên chiến thuyền thúc quân đánh Đại Việt. Bị tướng nhà phản bội chỉ cho quân Đại Việt biết chiếc thuyền có Chế Bồng Nga.  Quân Đại Việt cứ cho súng bắn vào thuyền của vua Chiêm cho đến khi ông tử trận ở Đồ Bàn. 
    Vua Trần Thuận Tôn khi nhìn thấy thủ cấp của Chế Bồng Nga đã cởi áo bào gói lại để tỏ lòng kính trọng một địch thủ tài ba.  Trận Đồ Bàn là trận đánh mà cả hai bên Đại Việt và Chiêm Thành đều xem là trận vinh hạnh nhất của nước mình.  Đồ Bàn ngày nay là Qui Nhơn, Bình Định.
    Tôi nghe văng vẳng bên tai câu hát “Ngàn thớt voi uy hiếp quân giặc thù.  Triền sóng xô.  Muôn lớp quân Chiêm tiến như tràn bờ… Rừng hoang vu mà tháp thiêng cao đứng như buồn rầu.  Lầu các đâu, nay thấy chăng rừng xanh xanh mịt mù” mà nghĩ đến trận thư hùng giữa Chiêm Thành và Đại Việt.  Bờ cõi quốc gia và những giấc mộng đế vương giờ chỉ còn là nền cũ lâu đài bóng tịch dương.  Basho đã từng cảm thán.
 
Mùa hè cỏ mọc xanh tươi
Tàn thân dũng tướng, mộng đời đế vương
– NTHH dịch
 
Rời tháp Nhạn, những câu hát trong bài Chiều Qua Tuy Hòa của Nguyễn Đức Quang bay vờn sau lưng tôi.
 
Ôi những chiều mây vắt ngang lưng đèo.
Vọng Phu đưa mắt như buồn theo.
 
Cảnh Cửu nhắc đến những món ăn Tuy Hòa như cá lúi kho hành ăn với khoai lang, cá ồ ồ gói bánh tráng, càng cua biển to như cái sừng trâu và cơm vắt với cái đùi gà to tướng.  Tuy Hòa của Cảnh Cửu giống như một tấm ảnh đã cũ, loang lổ, hoen ố màu thời gian.  Bây giờ người ta nhắc đến sò Ô Loan, bánh xèo tôm nhảy.  Làm gì còn cái đùi gà to tướng với nắm cơm giá mười đồng.  Tuy Hòa và Qui Nhơn không còn cuộc sống đơn giản Cảnh Cửu miêu tả.  Mộ Hàn Mặc Tử bây giờ đẹp hơn căn nhà ông ở ngày xưa.  Người bây giờ đến Qui Nhơn thì ra Eo Gió chụp ảnh sống ảo.  Buổi tối ngồi ở tháp Nghinh Phong Tuy Hòa ngắm đèn màu sặc sỡ.  Buổi sáng đi bộ vòng quanh ở hồ Điều Hòa tập thể dục.  Về đêm dạo bờ biển Qui Nhơn nghe sóng vỗ rào rạt mà nhớ bài Biển Nhớ của Trịnh Công Sơn. 
    Trong cuộc Đại Việt mang quân đi mở cõi, đã có biết bao nhiêu phụ nữ Chiêm và Việt mắt hướng chân trời ngóng trông chim nhạn và chờ người chinh phu.  Đời Trần có một công chúa lấy chồng xứ lạ, khiến người đời sau có câu hát thở than.  “Nước non ngàn dặm ra đi.dù đường thiên lý xa vời, dù tình cố lý chơi vơi, cũng không dài bằng lòng thương mến người.” 
    Đời Lý Thánh Tôn, năm vạn người Chiêm từ Đồ Bàn bị bắt mang về Đại Việt. Những lời ai oán nước non ngàn dặm ra đi của họ đâu rồi?
    Đi để làm gì?  Đoạn thơ mở đầu bài này nói rằng mỗi khúc quanh của con đường mang đến vài suy nghĩ.  Với tôi, đi để tìm hiểu chính mình. Mỗi chuyến đi mở ra nhiều câu hỏi khiến tôi đi tìm câu trả lời, cho riêng tôi.  Phải chăng, tôi cũng giống như một loài chim, kiếp nào đó đã từng sống ở núi Nhạn, lâu ngày tìm về để thăm một quê hương không còn là của mình và rồi sẽ trở nên xa lạ.
 
mỗi khúc quanh trên đường,
mang về ý tưởng mới
mỗi buổi rạng vầng đông
cảm xúc phả mùi hương. – NTHH dịch của tác giả Vô Danh
 
– Nguyễn Thị Hải Hà
Tháng Giêng năm 2024

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…
Đợi, và đợi. Có đến khoảng gần một trăm người xếp hàng đợi. Mới có năm giờ sáng thôi! Trời Đà Lạt đổ sương xuống nghe ướt tóc, ướt vai. Phòng bán vé còn đóng kín cửa. Sáu giờ mới bán vé. Biết vậy rồi, nhưng đám đông người này vẫn đến sớm chờ đợi. Chẳng qua là số xe có giới hạn, mình đến sớm mới mong có xe đi, nếu không thì phải về và trở lại vào ngày mai. Người ta nhìn nhau, như ngầm nói qua đôi mắt rằng đến sớm chắc ăn hơn. Mà không chừng có người đã ngủ đêm trước phòng bán vé để được xếp hàng phía trên cùng.
Tháng 7 trời xanh cao, mùa lên hâm nóng. Mặt đất nung nhiệt ngấm ngầm địa chấn, như muốn cùng người rung vang lời ngân quá khứ. Tháng 7 gọi về hàng phượng đỏ thắm rung rinh chùm nở, thứ lung linh ảo mờ, gần gụi mà xa thẳm, “mù không lối vào...” (TCS). Vang vang trong gió, lời trẻ thơ láng giềng vọng lại đùa vui tiếng nước...
Nếu Thanksgiving ở bên Mỹ mang màu sắc rộn rã chuẩn bị cho mùa Giáng Sinh, thì Thanksgiving bên Canada lại rơi vào Tháng Mười dịu êm, có đủ màu sắc nâu vàng đỏ của lá cây chuyển màu cuối Thu, với màu cam của những trái pumpkins cho lễ hội Halloween . Những ngày này, gia đình tôi chộn rộn với những đợt “thu hoạch” cuối cùng, chuẩn bị dọn dẹp vườn tược sạch sẽ trước khi mùa lạnh đang đến. Theo ý nghĩa nguyên thủy của Thanksgiving là Tạ Ơn đất trời cho mùa màng bội thu, thì năm nay gia đình tôi cũng xin được Tạ Ơn. Mấy cây táo và plum trúng mùa trĩu quả, hái mấy lượt vẫn không hết. Những quả plum tím căng mọng ngọt ngào, vừa đem tặng bạn bè, hàng xóm, vừa để đông lạnh ăn dần, mà vẫn còn mấy rổ tươi đầy ắp. Mùa táo, nhiều gia đình Việt Nam thích đem ngâm chua ngọt, trong khi những người bản xứ làm mứt táo, hoặc sên táo làm apple pie, một trong những món bánh khoái khẩu của nhiều người trong bàn ăn Thanksgiving bên cạnh pumpkin pie .
Nhạc sĩ Hùng Lân mất vào ngày 17/9/1986 tại Sài Gòn. Hôm nay, ngày 17/9/2025 tôi nhớ tới ông. Tính ra đã 39 năm. Ba năm trước, tại nhà thờ Phanxicô Dakao đã có một lễ giỗ 36 năm ngày mất của ông. Linh mục Đỗ Xuân Quế, chủ tế lễ giỗ, đã nói trong thánh lễ: “‘Hôm nay là lễ giỗ thứ 36 của ông Phêrô Hoàng Văn Hương tức là nhạc sĩ Hùng Lân. Ông là người đáng cho chúng ta trân trọng và quý nhớ. Vậy chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện cho ông được vào nước Thiên Chúa. Nếu ông đã được vào rồi thì xin nhớ đến chúng ta là những người đang tiếp tục cuộc hành trình nơi dương thế đang hướng về Nước Trời.” Sau thánh lễ là chương trình tưởng niệm trong đó có tiết mục trình diễn nhạc của Hùng Lân, cả nhạc đạo lẫn nhạc đời. Người dẫn chương trình cho tiết mục này là nhạc sĩ Cao Huy Hoàng, đến từ Phan Thiết. Ông chia sẻ: “Nếu ngày ấy, thầy Hùng Lân qua đời, Chúa hỏi ‘nén bạc của ta đâu?’, thầy có lẽ không trả lời hoặc chưa trả lời kịp thì hôm nay, chúng ta có thể nhìn lại và thấy được rằng nén bạc của thầ
« Chưa gặp em tôi đã nghĩ rằng, có người con gái đẹp như trăng… khi gặp em rõ thấy một bà chằng! » … Chằng tinh, hay chằn tinh là một loài người hay cũng coi là một loài quỷ hung ác. Tùy vào hoàn cảnh, tùy vào người ta gặp, ta đối diện. Nay thế giới có nhiều loại chằn tinh, chằn ở trong mọi lãnh vực, chính trị, văn hoá, kinh tế, giáo dục và cả trong xã hội v.v…Do đấy, ta muốn tìm hiểu nguyên do chằn ở đâu ra. Hẳn là trong văn hóa Nam Bộ Việt Nam - Ấn Độ - Khmer…? Theo tác giả Huỳnh Thanh Bình, chằn là một loại sinh vật truyền kỳ, làm hộ pháp, canh giữ chùa, tháp, chánh điện phật giáo nam truyền và chiếm vị trí quan trọng trong văn hóa và tâm linh của người Khmer nam bộ, phổ biến trong kho tàng truyện kể dân gian và tuồng tích sân khấu của đa phần người Đông Nam Á.
Cả ông ta và tôi cùng cười xòa. Ui, mình đúng là đãng trí thứ thiệt. Phần Lan đã gia nhập Eurozone từ 1999 và dùng Euro ngay từ buổi đầu như những quốc gia thành viên khác. Ngày trước, nhắc đến những thủ đô bắc Âu, người ta thường nghĩ đến Oslo giàu có của Na Uy, Copenhagen trẻ trung của Đan Mạch. Giờ đây, Helsinki dần dà từng bước góp mặt vào danh sách những thủ đô được du khách ưa chuộng. Sức thu hút của thành phố ngày càng tăng. Từ 15 năm nay, Helsinki là một trong những thành phố tân tiến nhất Âu châu.
Bà xỏ chân vào đôi dép, lê lẹp xẹp vào buồng. Bà lấy ra một bịch nhựa trong đó đựng trăm thứ lặt vặt không ra hình thù gì. Bà nhìn trước, ngó sau như người ăn trộm. Chị mua ve chai đứng ở ngoài cửa bếp. Như một việc đã quá quen thuộc, chị đón lấy cái túi, móc vào cái cân xách. Trước kia chị phân loại giấy ra giấy, nhựa ra nhựa, nay thì hai bên đã thỏa thuận với nhau là có một cái giá trung bình cho toàn thể. Bà thì nhìn đăm đăm vào mớ hàng lặt vặt ấy như nhìn một thứ gì quý giá lắm. Mà không quý sao được, vì đó là kết quả của nhiều tuần bà lượm lặt và cất giữ.
Cho tới bây giờ, thỉnh thoảng trong giấc ngủ tôi vẫn nằm mơ tới chuyện thi Tú tài và giật mình tỉnh dậy, mừng húm mà mồ hôi vẫn đổ ra. Trong lần thi Tú Tài I, tôi đã thức đêm thức hôm học đến bị yếu phổi. Chữ “Tú Tài” nặng nhọc với tôi như vậy tuy nghĩa của nó là “đẹp đẽ, có khả năng, tài giỏi”.Ông Tú Xương có lẽ cay đắng với chữ “Tú Tài” không kém gì tôi. Ông vác lều chõng đi thi tất cả 8 lần, từ khoa Bính Tuất (1886) tới khoa Bính Ngọ (1906). Ba lần đầu ông đạp vỏ chuối, tới lần thứ tư, năm Giáp Ngọ (1894), ông mới vớ được cái Tú Tài nhưng là Tú Tài đậu vớt, chữ ngày đó gọi là “Tú Tài Thiên Thủ”. Ông chết với cái danh Tú Tài, chẳng bao giờ kiếm được cái “Cử Nhân” mặc dù vẫn cặm cụi đi thi.
*SONG THAO Tôi chừ chỉ chơi thể thao trên ghế sa-lông, ngồi coi người ta chơi. Thứ tôi coi người ta chơi là hockey, tennis và đôi khi bóng tròn. Mình không còn khả năng thì coi người ta chạy nhảy cũng là một cách chơi. Cách chơi biết mình biết ta. Các ông bạn tôi cũng chơi như tôi. Có điều mỗi người chơi theo ý thích riêng của mình. Ông Hoàng Xuân Sơn, ông Luân Hoán cũng na ná như tôi. Nhưng ông Luân Hoán hơi ngả về bóng tròn. Ông Hồ Đình Nghiêm máu mê hơn. Ông sa đà vào bóng tròn. Thời gian vừa qua, ông coi giò coi cẳng các nữ nhân tranh giải bóng tròn thế giới FIFA một cách mê mệt. Ngày ngày ông bá cáo bà con trên Facebook tường tận về từng cặp chân vàng mà trắng, cô nào đá hay, cô nào chụp banh giỏi, ông rành như có họ hàng thân thiết.
Bạn có thể xem bài này như truyện ngắn. Có thể gọi là nhiều truyện ngắn trong một truyện ngắn, hay là ghép từ nhiều mẩu truyện. Bạn cũng có thể đọc như tùy bút, hay bản tin, hay là vân vân... nghĩa là bất cứ những gì có chữ, có thể đọc lên, có thể nghe được như âm thanh. Đó là những gì tự nhiên hiện lên trong trí nhớ của tôi, những gì tôi bất chợt nghe bên tai khi ngồi bên sông, ven biển, góc rừng, hay khi nửa đêm nhìn ra hàng hiên.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.