Hôm nay,  

Thời thượng

17/01/202411:41:00(Xem: 3293)
Truyện

Hoi_An

Anh muốn về thăm Việt Nam, chị cũng vậy.
    Anh nói với chị:
    – Em à, cũng hai năm rồi, tụi mình chưa về thăm Việt Nam. Anh thấy nhớ quá, nhớ hàng cây dâm bụt, gốc ổi, cây dâu đất ngoài quê anh. Nhất là ngôi nhà có bức tường thành và cái cổng bằng xi măng. Anh đã đem theo hình ảnh đó suốt mấy mươi năm rồi, nhưng lúc nào cũng nhớ nó. Mình đi về thăm một chuyến em hè.
    Nàng có vẻ do dự:
    – Em lo quá, nếu về, mình chỉ về dưới một tháng thôi, anh đi trên một tháng rất phiền phức về chuyện tiền hưu.
     Anh trấn an nàng:
    – Thì đi dưới một tháng là được rồi, thế cũng đủ để bù đắp cho vơi đi nổi nhớ quê.
    Nàng nói:
    – Vậy thì em duyệt. Nhưng nhớ là anh về lúc nào em cũng kèm theo anh nghe, không rời xa nửa bước. Ai cũng nói, để đàn ông đi về Việt Nam là hư hết, hư ngay. Bên đó mấy cô có mắt xanh mỏ đỏ,  năm đầu sáu tay, bu lại hút máu mấy ông liền.
    Chàng trấn an:
    – Em làm bộ như anh còn trẻ trung lắm, trả bài cho em còn chưa thuộc, một tuần một lần, nay lại khất hẹn em mười ngày, em không thấy sao?
    Nàng:
    – Thì ai cũng biết vậy, nhưng anh không biết câu người ta thường nói sao?
    – Câu gì?
    – Câu có bốn chữ thôi.
    – Bốn chữ gì?
    – 4 L.
    Chàng cười xòa:
    – Thì thiên hạ nói cũng đúng, nhưng anh thì khác.
    – Anh cũng đàn ông mà.
    – Anh hết xí quách rồi.
    – Thiệt hông đó?
    – Thiệt mà.
    – Vậy thì cấm đừng nguậy ngọ chèo kéo em nữa nghe.
    – Thôi mà, với em thì khác. Con mèo cưng của anh.
    Chàng và nàng cười vui.
    Chàng chém gió, quyết định:
    – Vậy mai anh ra chỗ bán vé máy bay hỏi thử xem sao. Nghe nói mùa này vé đang xeo mà.
    – Ừ mai anh đi đi.
 
Trong giấc ngủ, cả hai đều nhắm mắt mà không ngủ. Chàng có nhiều mộng tưởng và nàng cũng có nhiều mộng tưởng tương tự.
    Chàng nghĩ đến Tầm ngay. Thế là anh dù hứa với Tầm là anh sẽ vể thăm em một ngày gần nhưng anh chưa chắc chắn lắm. Quyết định về Việt Nam không phải ở anh mà ở vợ. Người vợ nào cũng sợ chồng về Việt Nam quậy. Quậy ở đây có nghĩa là gái gú. Ở Việt Nam có hàng  ngàn, hàng triệu cô gái hơ hớ tươi non mơn mởn, làm ở các quán bia ôm, quán nhậu, quán hớt tóc cạo mặt, quán hớt tóc máy lạnh không dao kéo, không tông đơ. Mà lời truyền miệng này là sự thật, qua những tấm gương tày líp trên báo chí, hay ngoài đời nói với nhau nhan nhản.
Mà cũng đúng thôi, Sài Gòn với gần mười triệu dân, con người chen chúc sống như con kiến, tiền ở đâu cung cấp nổi cho các cô gái mơn mơn vừa mới dậy thì. Thì các quán bar, bia ôm, quán nhậu...đủ mọi nơi mọi chốn, chỗ nào cũng được sắp sẳn để các cô làm việc. Các đại gia mới, các quan chức...nhất là các Việt kiều hồi hộp là miếng mồi ngon cho các cô nhắm đến, cho nên mấy bà vợ lo lắng là phải.
    Nhưng nàng lo lắng trật lất, trật đường rầy. Chàng đâu có mơ màng đến những cô nàng mắt xanh mõ đỏ đó, mà chàng mơ màng đến  em Tầm, em Linh và em Mận thôi. Đó là những trang tình sử mà chàng cất dấu tận đáy lòng, quyết không hở môi cho ai biết. Vì chàng biết và kinh nghiệm đầy mình rồi, chuyện có kín đến đâu, có người thứ hai biết thì trước sau gì cũng lộ tẩy ngay.
    Em Tầm là tầm ngắm thứ nhất.
 
Đó là những ngày anh lê thê lếch thếch đi kinh tế mới bởi vì chàng mới đi tù về vì tôi sĩ quan chế độ cũ. Vợ chàng bị ép đi kinh tế mới để chồng được thả ra, nhưng đó là lời đường mật của bọn công an dụ dỗ vợ chàng  cùng với những người đàn bà nhẹ dạ. Nhưng phải đợi năm năm sau, chàng mới trở về bằng thân xác ma trơi. Chàng trở về ngày hôm trước, ngày hôm sau là chun vô rẩy ngay. Chàng trở thành người nông dân chính hiệu thật sự từ đấy.
    Thời gian này, Tầm khoảng mười một, mười hai.
    Lúc đó, gặp nhau, Tẩm lúc nào cũng nhìn chàng lấm la lấm lét, một điều chú, hai điều chú.
    Cho đến khi Tẩm hăm mốt hăm hai, chàng vẫn còn ở kinh tế mới, vẫn chun vào rẩy sáng sớm, đến tối mịt mới về.
    Tầm cũng bắt đầu đi làm rẫy từ tuổi mười lăm, mười sáu. Cha mẹ Tầm không có tiền của để cho Tầm tiếp tục học, mà con gái ở kinh tế mới học cao làm gì. Lớn lên cố kiếm một tấm chồng làm rẫy để nương tựa là được rồi. Sáng chun vô rẫy, tối mịt ra về. Cuộc đời có thể nói đó là trôi chảy, xuôi chèo mát mái.
    Năm Tầm trên hai mươi, nàng đã qua tuổi dậy thì. Tuổi con gái lúc này là đẹp nhất. Tâm hồn phơi phới, thân thể nở nang. Với nước da rám nắng màu nâu xẩm, bầu ngực vun cao đầy sức sống, mái tóc dài, nàng mơ ước đến những chàng trai trẻ, nhưng ở kinh tế mới này nàng tìm đâu ra.
    Một buổi trưa, Tầm ở trong rẫy, thì gặp chàng.
    Chàng lúc này trên bốn mươi. Chàng vẫn còn những nét đẹp của chàng phi công thuở nào, dù bộ đồ bay màu cam ngày xưa bây giờ được thay bằng bộ đồ xám lao động. Hai người gặp nhau dưới tàng cây dăng bóng mát trong rẫy.
    Chàng nói:
    – Con Tầm vào rẫy làm việc một mình hả?
    Tầm trả lời.
    – Dạ, ba con chạy xe ôm suốt ngày. Mẹ đi chợ Tây Ninh bán nấm rơm. Con cũng thường vô rẩy một mình mà.
    – Vậy hả? Con ăn cơn trưa chưa? Chưa ăn đem qua đây ăn luôn cho vui. Chú ăn một mình cũng buồn.
    – Dạ.
    Buổi trưa rẫy bái vắng hoe. Chỉ có tiếng chim hót trên những cành cao, chim trày trãy, chào mào, chắc quạch, chìa vôi, nghe vui tai lạ. Rẫy với rừng cây bạt ngàn, muốn tìm chỗ nào ngồi nghỉ mát, ăn cơm cũng  được cả.
    Chàng nói:
    – Lại đây cháu, vào lùm cây này là mát nhứt.
    Hai công đất rẫy của hai người gần sát nhau, chàng vẫn nghĩ, Tầm là đứa con nít, nên chàng chẳng để ý.
    Sống chung trên kinh tế mới đã mười mấy năm, Tầm từ một đứa trẻ lần hồi lớn lên theo thời gian. Thời gian cũng làm cô bé trổ mã, cô bé lọ lem trở thành thiếu nữ lúc nào không hay.
Bây giờ ngồi đối diện ăn cơm với Tầm ở một nơi vắng vẻ, riêng biệt trong khu rừng bạt ngàn, chàng thấy lòng mình hơi xao động. Với lại khi Tầm cởi bỏ chiếc áo nhà binh dài tay màu cứt ngựa bạc màu, ra khỏi người, nàng chỉ còn bên trong cái áo cánh bằng vải phin đen, trông nàng hấp dẫn lắm. Chàng tự nhiên hồi hộp và rung động.
    – Chú ăn canh mướp không, con đem theo nhiều lắm, canh mướp ăn mát lắm chú.
    Con Tầm choàng tay qua người chàng lấy cái tô của chàng đang ăn, dằng lấy và múc canh cho chàng. Cái choàng người qua như vậy, khiến làm chàng nghẹn thở. Hai thân thể sít rịt nhau, mùi mồ hôi, mùi da thịt của Tầm phả vào mũi chàng. Chàng để im cho Tầm múc canh. Tầm đặt cái tô lên tay chàng, rồi nói:
    – Chú ăn đi chứ, làm gì nhìn sững con vậy?
    Chàng lính quýnh:
    – Thì chú ăn đây.
    Vừa húp tô canh của Tầm vừa múc vào tô cho chàng, chàng thấy tim mình đập loạn nhịp. Tầm ngồi bên chàng hơi thở nàng có vẻ nặng hơn, chàng cũng cảm thấy vậy. Chàng nhìn chung quanh, ở đây chỉ có cây rừng dăng bóng mát, những con chim hót trên cao, không có ai, đúng là buổi trưa quá vắng vẻ, chỉ có hai người, đàn ông và đàn bà. Máu đàn ông nổi lên trong người chàng, sôi sục. Chàng nghĩ nhanh, dịp may đã tới, trong đời chắc chỉ có một lần. Tầm đã ăn xong, rót nước cho chàng uống, chàng thấy khô ở cồ.
    Khi Tầm cầm chén nước đưa chàng với đôi mắt lúng liếng, mời gọi, giọng nói nũng nịu hơn:
    – Chú uống nước đi chú, gì mà thừ người ra thế.
    Chàng liền cầm tay nàng giật mạnh, kéo về phía mình, khiến chén nước sắp đổ, chàng giằng lấy chén nước để xuống đất và kéo nàng ngã vào người chàng. Chàng chỉ kêu được một tiếng:
    – Tầm ơi!
    Và chảng cúi xuống khuôn mặt nàng, hôn tới tấp vào môi, vào mắt.
    Cô gái trên hai mươi tuổi trong cơn háo hức đầu đời đã không giữ nổi mình và đã cho chàng trưa hôm ấy.
 
Cuộc tình kéo dài lén lút nhiều năm, trước mặt mọi người họ vẫn chú chú, cháu cháu, nhưng khi thì họ gặp ở Đồng Nai, Thủ Đức hay Sài Gòn, không ai biết chuyện này đến khi chàng xuất cảnh.
Với Tầm, chàng là người xuất hiện đầu đời trong trí óc non tơ của nàng, nhưng nàng vẫn biết rằng, chàng đã có vợ con, những đứa con chàng là bạn của nàng, nên chuyện hai người đến với nhau là chuyện không thể, chỉ phía sau thôi, lén lút. Lén lút cũng có cái hấp dẫn, thú vị  riêng của nó.
    Chàng đi Mỹ, Tầm ở nhà quen với một chàng thanh niên cùng xóm, hai người cưới nhau. Rồi có hai con, một gia đình nhìn bên ngoài rất hạnh phúc.
    Nhưng nàng vẫn nhớ chàng, nhớ trong tâm tưởng, trong giấc mơ.
    Chàng đi biền biệt, mười năm. Chàng nghĩ sẽ quên, hãy quên, nhưng một hôm chàng nghe điện thoại reo, chàng bắt máy, tiếng bên kia là của Tầm:
    – Anh đó phải không, em Tầm đây.
    Chàng lặng người. Cũng may là người vợ đi làm, mấy đứa con không có ở nhà. Nhưng chàng vẫn ngó quanh quất, không có ai cả. Chàng trả lời:
    – Anh đây.
    Tiếng bên kia:
    – Em đây, anh khỏe không? Em nhớ anh quá.
    Họ bây giờ không còn xưng là chú cháu nữa, mà là anh em, rất ngọt ngào như những cặp tình nhân khác.
    – Anh khỏe, anh vẫn nhớ em, em khỏe không?
    – Em khỏe. Cảm ơn anh.
    – Sao em biết số phone của anh vậy?
    – Thì em tìm mà, em hỏi cô Ngọc, em gái anh đó.
    – Thế à.
    Rồi họ ríu rít như chim, nàng kể lể nhưng ngày xa chàng, sống với chồng, cũng hạnh phúc, người chồng tuổi bằng nàng, rất cưng chìu nàng, nhưng sao nàng vẫn đau đáu nghĩ về mối tình xưa, nàng quay quắt, nên tìm mọi cách để liên lạc với chàng.
    Chàng cũng kể những ngày anh xa em. Anh đang ở một nơi sáu tháng mưa sáu tháng nắng, vào hãng làm việc như con bò kéo xe, sống bên vợ nhưng anh vẫn nhớ em, đó là sự thật, em tin không?
    Họ nói chuyện qua điện thoại gần hai tiếng đồng hồ. Thời điểm này, các điện thoại thông minh có những chương trình gọi viễn liên không tốn tiền, thế là khi người vợ lái xe đi làm, các con cũng đi làm, vì tụi nó đã lớn ngồng, có đứa có gia đình riêng, sống riêng, chàng và nàng tự do đấu hót.
    Và đến hôm này, nàng, người vợ, duyệt chuyện về thăm Việt Nam, chàng mừng rơn trong bụng. Mình sẽ có những giờ phút tuyệt với bên em. Em bốn mươi hai, còn sung độ chán.
    Chuyện bình thường như bao chuyện bình thường khác.
    Về Việt Nam, chàng nói với vợ:
    – Em muốn đi Nha Trang nghỉ mát hả. Cho anh tháp tùng theo với nhe. Ngoài đó tắm biển, ăn cua luộc, uống bia là nhất.
    Vợ chàng hơi bối rối:
    – Em ra thăm con Trang, bạn cũ học ở Võ Tánh đấy mà, cũng lâu quá tụi em không gặp nhau, tụi nó nói em về, sẽ tụ họp lớp em lại, điểm danh coi thử đứa nào còn đứa nào mất. Anh đòi theo làm chi. Bọn em mấy bà già quá đát hết rồi.
    Chàng mừng thầm trong bụng vì kế hoạch sắp thành tựu. Chàng nói với vợ:
    – Em không cho anh tháp tùng thì anh solo ở Sài Gòn, anh sẽ kêu thằng Nhu đi nhậu bia ôm đó.
    Nàng:
    – Cho anh tự do.
    Nàng làm bộ nũng nịu:
    – Nhưng em biết ông xã của em mà, trung thành với tổ quốc số một mà.
    Chàng cười cầu tài:
    – Anh trung thành số một, có giấy chứng nhận hẳn hoi.
    Nàng:
    – Em về sẽ khám điền thổ anh, mất dấu là chết với em đó nghe.
    Chàng cũng vui mà nàng cũng vui. Nàng cũng sẽ đi gặp Hùng, người tình của nàng thuở mới lớn. Lần nào về hai người cũng gặp nhau ở Nha Trang hay Đà Lạt, chuyện tình kín bưng chả ai biết.
    Người vợ lên máy bay đi Nha Trang, chàng bắt đầu chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ với Tầm.
    Hai người lại gặp nhau qua điện thoại thông minh. Trước khi đi Tầm thỏ thẻ với chồng:
    – Anh cho em đi thành phố mấy ngày nhe. Em đi đến bịnh viện Hòa Hảo để siêu âm, sẳn dịp xuống Thanh Đa thăm chị Hoa, chị Bình. Hai chị này trước cũng ở đây. Lâu quá, từ ngày hai chỉ về Sài Gòn đến nay em chưa gặp lại.
    Người chồng gật đầu đồng ý. Nàng nhảy cỡn lên, hôn đánh chụt lên má chồng, nhõng nhẽo:
    – Chỉ có anh yêu em nhất thôi, chồng yêu quý của em.
    Tầm xuống thành phố  trên chiếc xe 7 chỗ ngồi, có máy lạnh. Trước tiên nàng đến thăm mấy người quen đã nói với người chồng như một thủ tục, để rủi người chồng có điện thoại hỏi, như  chị Hoa ở Thanh Đa. Tầm có xuống nhà chị không? Chị Hoa sẽ trả lời, Ờ cô ấy mới ở đây ra. Hoặc hỏi chị Bình ở Phú Nhuận, chị cũng trả lời tương tự, còn nói thêm, tui cố nài cô Tầm ở lại chơi với tôi mấy bữa, chị em bạn bè lâu ngày mới gặp nhau, mà chị nói có chuyện gấp phải đi, rồi chiều sẽ trở lại. Nếu chiều cô Tầm trở lại, anh cho cô Tầm ở lại chơi với tôi vài hôm nghe.
Người chồng yên chí, nói Dạ. Chị Bình còn kể lễ thêm, anh không biết chứ, hồi ở kinh tế mới tui với Tầm là đôi bạn thân nhứt, cũng mười mấy năm rồi, mỗi người một nơi.
    Thế là Tầm yên tâm, mọi chuyện nàng đã chuẩn bị xong xuôi, trót lọt. Nàng kêu xe taxi chở nàng lên con đường ở quận Bình Tân, ở đây nàng nghĩ sẽ không gặp người quen. Nàng cũng biết "thủ" cho mình.
    Và giờ sau thì chàng cũng đi taxi đến, nàng đã gọi chàng, cho biết địa chỉ khách sạn, số phòng, chàng ung dung đi lên phòng số... và gõ cửa.
    Sau ba ngày với em Tầm, cô nàng vẫn quấn quít bên anh, nhưng chàng thì đã chán. Người đàn bà bốn mươi hai tuổi, đã có những vết nhăn dưới đuôi mắt, vòng bụng thì đầy mỡ, nhũ hoa thâm, dĩ nhiên chàng chỉ nghĩ trong bụng như vậy thôi, chứ trước mặt nàng, chàng vẫn xuýt xoa, em đẹp lắm.
    Đến ngày thứ ba thì người chồng gọi điện thoại:
    – Em về ngay nhe. Tiệm đông khách quá anh lo không xuể.
    Nàng cũng nóng lòng về chuyện làm ăn, nên nói với anh.
    – Mai mình về nhe anh.
    Anh trố mắt:
    – Mai sao?
    – Dạ mai, em phải về để lo cửa hàng. Ông xã mới gọi cho em.
    Chàng mở cờ trong bụng, thế cũng đủ rồi. Nhưng chàng cũng cố vớt vát:
    – Em về anh sẽ nhớ em lắm. Em luôn nhớ anh nghe.
    – Dạ, nhớ anh nhiều nhất.
    – Vậy thi mình mai trả phòng.
    Ngày mai hai người chia tay. Nang kêu taxi chở về bến xe Tây Ninh, chàng kêu taxi vê hướng Gò Vấp.
    Trên đường về, chàng thở phào và nghĩ tiếp:
    – Phải gấp rút gặp em Linh, rồi đến em Mận.
    Mỗi cô gái này đều có một chuyện "tình sử" với chàng. Với chàng tất cả các cô gái qua đời, đều là một mối tình có nguồn có ngọn. Chàng đem những nguồn ngọn đó ra kể với mỗi em, làm cô nào cũng cảm động run rẩy quả tim.
    Bà xã chàng nói, mười ngày nữa mới về. Thôi mình chia thời khóa biểu cho hai em này mỗi em năm ngày. Thế thì cũng OK.
 
*
 
Chàng về Mỹ, viết ngay một bản tường trình về xã hội Việt Nam. Chàng quảng cáo về bản tường trình sống của mình, vì chàng nói rằng, chàng đã đi thực tế, đã xâm nhập vào giới ăn chơi ở Việt Nam, nào nhà hàng, khách sạn, khiêu vũ trường. Những ngóc ngách riêng của đời sống con người dưới góc độ nhà biên khảo.
    Chàng kết luận:
    – Việt Nam hiện thời là một ổ điếm khổng lồ, bằng chứng tôi quen năm cô, mà khi nào "xong" tôi đều phải trả tiền và còn "bo" thêm nữa. Đó không phải là xã hội điếm sao?
    Chàng dự định sẽ lên TV nữa. Giọng chàng nói cũng hay, vẫn còn sang sảng. Và gương mặt chàng vẫn còn hồng hào mà.
    Chàng mới bảy mươi ba.
 

 – Trần Yên Hòa

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Lẽ ra nàng cũng muốn yên thân sau khi đất nước thống nhất một mối. Nhưng số cô truân chuyên, năm 76 đậu vào ĐHSP ban Anh Văn, học chỉ được nửa năm thì nhận được tờ quyết định cho nghỉ học vì lý lịch bằng giấy pelure xanh mỏng tanh mà thay đổi một phận người. Cô không bỏ cuộc, về lại địa phương miệt mài đi lao động rồi sang năm thi lại CĐSP AV, xong hai năm học nàng cũng không được bổ nhiệm vì lý lịch. Biết không còn đất dung thân trên chính quê hương mình nên cô và các em đã mơ đến một phương trời xa.
Đây là một câu chuyện có thật, đã được nhân vật chính cho phép ghi lại và phổ biến. Hiện nay, nhân vật chính đang sống ở Mỹ, bên cạnh các con cháu thành đạt và hết lòng thương yêu Cô. Ngoài chuyện kể về con đường phấn đấu đem các con sang Mỹ của một người mẹ, câu chuyện còn ghi lại nhiều chi tiết trung thực trong bối cảnh xã hội miền Nam Việt Nam ngay sau tháng Tư, 1975, cũng như tấm lòng của người dân miền Nam đối với nhau trong gian đoạn vô cùng đen tối đó.
Kỷ niệm đầu tiên của tôi liên quan đến nhà văn Mai Thảo. Những ngày mới di cư vào Nam, gia đình tôi cư ngụ tại con hẻm gần nhà thờ Huyện Sĩ. Hai đầu con hẻm nối với hai đường lớn, là đường Võ Tánh và Ngô Tùng Châu. Một anh bạn thân đã chỉ cho tôi một người có bóng dáng rất văn nhân, đó là Mai Thảo. Ông ta thường xuất hiện trong những buổi sáng ở đầu hẻm trên con đường có nhà in mà tôi được biết là ông đang chăm lo cho ra đời tác phẩm đầu tay của ông, đó là cuốn “Đêm Giã Từ Hà Nội”. Tôi đã phải lấy tiền để dành nhỏ nhoi ra mua và nghĩ rằng nó sẽ là một kỷ niệm để đời cho mình. Tôi đọc truyện ngắn “Đêm Giã Từ Hà nội” nhiều lần, và đến nay vẫn còn nhớ mang máng câu “Tôi nhìn xuống nước sông Hồng đục ngầu như máu mà Hà nội đang ở dưới đó…”. Tôi cũng rời Hà nội như ông, cũng ngồi trong một chiếc xe vận tải lớn chở những người di cư qua cầu Long Biên trong buổi tối nửa đêm về sáng sang phi trường Gia Lâm để đáp máy bay vào Saigon.
Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975 đã có nhiều mảnh đời tang thương. Trong số đó có cô bạn thân của tôi. Thu Nguyệt là một cô gái có khiếu thơ văn. 13 tuổi đã có nhiều bài đăng trên Nguyệt san Thiếu Nhi với bút hiệu Tê Hát Nguyệt Thi. Bạn khiến cả lớp chúng tôi ngưỡng mộ. Ngày đất nước im tiếng súng, gia đình bạn từ Trại gia binh ở phi trường Đà Nẵng phải dọn ra ngoài; sống vất vưởng nhờ cậy nhà người quen. Vì không có địa chỉ cố định, ba mẹ bạn cùng đàn con 7 đứa bị xếp vào gia đình phải đi Kinh Tế Mới đợt đầu tiên của thành phố Đà Nẵng. Năm đó tôi đang học lớp 12.
Câu truyện mà tôi kể dưới đây diễn ra trên toàn miền Bắc Việt Nam từ khoảng năm 1965 tới 1972. Trong bẩy năm trời đó, hàng triệu người tham gia vào câu truyện này và là nhân chứng, vậy mà cho tới nay không một báo chí, một truyện ngắn, truyện dài nào nói đến “sự kiện lịch sử” này. Điều này làm cho tôi cứ băn khoăn suy nghĩ trong nhiều năm trời: Tại sao có những sự việc phi lý đến như vậy mà lại có hàng triệu người vui vẻ tuân theo; cho tới bây giờ đang thời kỳ “mở cửa”, tiếp xúc với “Thế giới văn minh” bên ngoài nhưng khi nghe hỏi về sự việc đó thì vẫn có rất nhiều người đồng tình với nó và cho đó là đúng, là hợp lý.
Ngày đầu khởi hành từ làng Mangkang, đoàn người vừa đi vừa lạy được hai mươi dặm, cứ mỗi bảy bước là một lạy, mọi người lạy dài xuống đất, để cả đầu, mình tay chân chạm đất. Họ lạy với tất cả tâm thành tôn kính đức Phật. Chị Zesay có bầu nhưng vẫn lạy như mọi người, cô bé Ceba mới mười hai tuổi, con gái của Tenzin cũng lạy như mọi người.
Năm 1620 xa xưa con tầu Mayflower đã chở các gia đình người Anh từ Anh Quốc vượt Đại Tây Dương đến châu Mỹ để tìm đất hứa. Ngày nay con tầu này cũng đưa chúng tôi rời khỏi VN để đi tìm một vùng đất hứa như vậy. Chúng tôi đi trong Tháng Tư nên tên tàu April Flower được khai sinh từ đó
Bằng ngôn ngữ không chủ từ, bằng câu kệ không đầu đuôi, tôi cố thuyết phục bệnh nhân rằng chết không phải là chọn lựa thích hợp, rằng đâu đó trên thế gian này vẫn còn một người yêu thương cô hơn yêu thương chính mình, rằng trong những thứ con người có được, không gì quý bằng mạng sống. Tôi nói cho một mình tôi nghe. Tôi kể chuyện mẹ tôi. Tôi kể chuyện cha tôi. Tôi kể chuyện em gái tôi. Tôi kể chuyện nửa đêm tôi quýnh quáng lại nhà người bệnh. Con mắt đứa bé đã đứng tròng, chân tay co giật từng hồi. Muộn lắm rồi. Nhưng người mẹ khóc lóc nài van. Chích cho cháu mũi thuốc hồi sinh. Hay thuốc gì cũng được. Miễn là có chích. Biết đâu cháu nó lại không chết. Mũi kim nhọn ánh lên dưới ánh đèn dầu trong đêm tăm tối. Vậy mà thằng bé lại sống, cô Thắm biết không. Bây giờ cô Thắm biết thằng bé ấy đang làm gì không. Nó học y tá. Nhà nó nghèo không vào trường y được nhưng nó nhất định làm y tá để cứu người. Cô gái vẫn nằm nghiêng quay mặt vào tường. Lạnh băng tượng gỗ. Đôi vai khẽ chuyển động như v
Lão Honda Accord đã quá già, hơn hai trăm ngàn dặm rồi chứ ít sao. Lão đã gắn bó với cậu chủ mười mấy năm nay. Ngày mới về với cậu chủ, lão còn mới toanh, cậu chủ cưng như trứng hứng như hoa, một tí trầy xước trên thân lão cũng đủ làm cậu chủ đau lòng, mỗi tuần cậu chủ tắm rửa đánh bóng lão… Ấy vậy mà giờ cậu chủ chẳng ngó ngàng gì đến lão nữa, lão già và trở nên xấu xí, đôi khi còn giở chứng nữa.
Bất cứ ai sống trên đời, không nhiều thì ít, đều có những kỷ niệm đặc biệt vui buồn in sâu trong tâm trí. Một trong những kỷ niệm này cũng là khi mình từng được lãnh nhận những món quà xem như những kỷ vật tinh thần vô giá được lưu trữ từ đời này đến đời nọ cho con cháu sau này.
Tiếng chuông chùa đòng vọng, vang xa trong không gian buốt lạnh của một chiều cuối Đông khiến quang cảnh quanh chùa trông thật tịch liêu. Mặt trời nghiêng về phía quê xưa. Những tia nắng mong manh nhẹ nhàng ve vuốt từng phiến đá gầy trước sân chùa.
Đăng lại nhớ chuyện con chó bơi qua sông trong một truyện ngắn của sư Giới Đức. Con chó ở chùa nghe chuông, ăn cơm chay, quanh năm quấn quýt với thầy. Một hôm kia nó nghe mùi thịt nướng bên kia sông nên bơi qua bên ấy, bơi đến giữa giòng thì nghe tiếng sư phụ gọi nên bơi quay về, gần tới bờ thì lại thèm mùi thịt nướng nên lại bơi ngược qua sông, cứ như thế nó bơi qua bơi lại đến khi kiệt sức thì chết đuối giữa giòng.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.