Hôm nay,  

Đời là thoáng chốc

10/04/202417:51:00(Xem: 3151)
Truyện

xe lan

Người ta nói: “Hết quan là hoàn dân” và chỉ mong có vậy, đừng hết quan hoàn…tàn phế” thì buồn quá! Hôm nay lão Dụng đã tự ngồi dậy được. Lão không nhớ là mình đã nằm như khúc gỗ mục, bất động bao lâu rồi! “Mới đó mà đã lại sang một năm mới. Thời gian bây giờ có nghĩa gì đâu chứ!” Lão lẩm nhẩm một mình!
    Nhưng dù sao ngồi dậy được cũng là một tiến bộ vượt bậc của lão rồi! Lão tự an ủi mình như vậy! Lâu nay mọi việc ăn, uống vệ sinh cá nhân đều trông cả vào bà Hường- vợ lão.
    Kể từ ngày ông Trần Hứa Dụng (tên của lão) bị một cơn tai biến trối chết nằm hôn mê một tháng, sau đó tỉnh dậy ú ớ, nói không rõ tiếng và bị liệt nửa người thì bà Hường phải đút cho ông từng muỗng cháo, hai đứa con phụ bà thay nhau phục vụ ông những đã hơn năm rồi có lẻ. Ông mở mắt nhìn bà với cái nhìn biết ơn. Bà Hường cũng không còn trẻ nữa, u bảy mươi rồi còn gì! Nhưng vợ chồng mà! “ đui thì dắt, què thì cõng”-Người xưa đã dạy đạo nghĩa tào khang nào có bỏ nhau được. Bà đỡ ông ngồi lên chiếc xe lăn, đưa ông ra hiên nhà để hứng chút nắng gió ban mai của mùa xuân thổi tới còn lẩn quất đâu đây. Ngắm nhìn phố phường, dòng người và xe cộ tấp nập lướt qua trước cửa. Ông hồi tưởng lại đời mình, mới đây thôi mình là một sếp Trần Hứa Dụng oai vệ tại một cơ quan có đến hơn trăm nhân viện văn phòng. Đó là đơn vị lớn trong tốp đầu của thành phố. Hằng ngày tới cơ quan, nhân viên dưới quyền vui vẻ, dễ thương. Nhà tết lễ đầy khách khứa vào ra tấp nập.  Mặc dù công việc đôi khi cũng có phần áp lực. Nhưng công việc ưa ý và cuộc đời  đầy ý nghĩa. Lính lác hết giờ làm cù rũ mình đi chơi chỗ này chỗ nọ, quán xá các kiểu thời gian lúc nào cũng bận rộn. Khi thì tiếp khách trên về, đối tác làm ăn, mệt nhưng vui. Lão bất giác tủm tỉm cười, một nụ cười kín đáo vừa liếc nhìn bà vợ già của lão đang lúi húi múc cháo vào tô nhỏ, mang ra cho lão ăn sáng.
    Lão nhớ lại, hồi ở cơ quan nhiều em cũng đáo để lắm cơ! Có đứa son rỗi (gái tơ) không nói, có đứa chồng nó đi dạm ngõ rồi mà nó cũng sẵn sang sà vào lòng. Lão chỉ cần huýt sáo một cái là có ngay gái trẻ trung xinh đẹp hừng hực sức xuân, nhiều lúc cả tháng trời lão quên béng đi là mình còn có mụ vợ già. Về nhà lão như kẻ no xôi chán chè, nhìn mụ vợ già nua đen đúa, tóc tai nhễ nhại dọn dẹp nhà cửa, nấu nướng mà phát chán, nên lão từng phụ rẫy bà vợ già của mình bằng những lời lẽ cộc cằn, xua đuổi. So sánh với các em thơm phức váy áo, da dẻ nuột nà, đôi khi lão ước gì ngủ dậy con vợ già cũ kỹ của mình biến mất. Thay vào đó là em Đào Mộng Điệp. Điệp mới về cơ quan làm chưa lâu, đang ở dạng thử việc một năm.     Lúc này cơ quan cần một biên chế, nhưng người ta gửi về đến ba nhân viên nữ là Nguyễn Thị Vân Lệ, Đào Thị Mộng Điệp và Trương Thị Sương Mai. Trong ba đứa thì Mộng Điệp nhan sắc bắt mắt hơn cả. Biên chế dư, công việc của một người nay chia đều cho ba cô. Thời gian còn lại cho phụ trách thư viện cơ quan. Và kiêm tạp vụ, trà nước tiếp khách. Ba nữ nhân viên mới mỗi nàng đều có cách riêng để phấn đấu làm sao cho lọt vào vé biên chế. Vân Lệ và Sương Mai chăm chỉ, giao việc nào hoàn thành việc đó, không có gì phải phàn nàn. Nhiều khi xong phần việc của mình còn xuống phòng bảo vệ giúp luôn công việc của bác bảo vệ và dọn rác. Văn phòng cơ quan sạch sẽ ngăn nắp hơn từ ngày có nhân viên mới. Mộng Điệp thì khác, bởi nàng biết nàng đẹp, nàng dựa vào nhan sắc của mình: Nước da trắng ngần, eo thon ngực nở, mông tròn, dáng dấp đầy quyến rũ.  Nàng nghĩ trong ba đứa, chắc chắn mình lọt vào mắt xanh của sếp là cái chắc. Nàng nghe đâu là con dâu tương lai của một sếp  nào đó cũng lớn lắm, nên chuyện gửi gắm vào làm ở một cơ quan không có gì là khó. Mộng Điệp được giao làm tổ trưởng của nhóm nhân viên mới. Mông Điệp phân công cho hai nàng kia làm luôn cả phần việc của mình.  Ba đứa lúc đầu, cũng chơi với nhau, thân nhau. Vân Lệ và Sương Mai thì vô tư, nghĩ Mộng Điệp cũng xuất thân nông thôn chắc cũng thật thà chất phác nên muốn hỗ trợ nhau để cùng nhau hoàn thành công việc được giao. Mộng Điệp thì khác. Dù bên ngoài tỏ ra thân nhưng bên trong lúc nào cũng muốn loại bỏ hai nhỏ này ra khỏi miếng bánh biên chế cơ quan. Một hôm Mộng Điệp giao cho Vân Lệ làm kiểm kê sách, ghi vào sổ sách, rồi Mộng Điệp đem lấy sổ giấu mất để khi sếp kiểm tra sẽ thấy Vân Lệ không hoàn thành nhiệm vụ. Có mấy lần bị Vân Lệ bắt ốc rơ, tìm ra sổ sách, rồi hai đứa cự cãi. Đẩy qua, đẩy lại, Mộng Điệp nhào vào đánh Vân lệ hai bạt tai như trời giáng, Vân Lệ bị đánh bất ngờ nên tức giận cũng sấn tới và Mộng Điệp đi lui ngã vào cạnh bàn. Thế là Mộng Điệp chạy thẳng lên phòng sếp khóc rấm rức vừa tỷ tê mách sếp. Hôm sau cơ quan họp đem ra kiểm điểm kỷ luật. Lúc này bố của Vân Lệ đang ốm nặng nằm ở phòng cấp cứu khó qua khỏi, tối hôm đó bệnh viện trả về, Vân Lệ lòng tan nát, nhìn bố nằm thiêm thiếp, tiên lượng xấu, Vân Lệ viết đơn xin nghỉ để ở nhà bên bố những giâu phút cuối. Nhưng cơ quan vẫn tiến hành họp đòi kỷ luật Vân Lệ.
    Sau khi đưa bố về nơi an nghỉ, việc hiếu tang chế đã tròn. Vân Lệ trở lại cơ quan làm việc. Công việc gặp nhiều ngáng trở từ phía đồng nghiệp trẻ cạnh tranh không lành mạnh. Mộng Điệp ngày càng lên mặt, sếp hạch hỏi bất cứ khi nào, sau mỗi lần Mộng Điệp nhỏ vài giọt nước mắt làm xót xa lòng sếp.
    Có lần Vân Lệ ôm chồng sổ sách lên phòng sếp ký, thấy cửa phòng không đóng, chỉ  khép hờ, Vân lệ vô tình đẩy cửa đi vào thì thấy cảnh tượng như phim. Sếp với hai tay xoa xoa, nắn nắn khắp bờ vai Mộng Điệp. Vân Lệ nói lời xin lỗi và lui. Sếp quắc mắt hỏi:
    – Vô phòng sao không gõ cửa?
    Vân Lệ líu ríu trả lời:
    – Là lỗi của em, tại em thấy cửa không đóng, lần sau em sẽ lưu ý hơn!
    Từ đó về sau. Sếp và Mộng Điệp là hai gọng kìm ngày càng bóp nghẹt tinh thần và công việc của Vân Lệ. Được sếp cưng, Mộng Điệp ngày càng lộng hành. Vân Lệ nghĩ nếu mình buông xuôi là thất bại, trúng kế của họ nên phải nổ lực cố gắng. Nhờ sự chuyên cần, yêu nghề và chuyên môn vững, cùng với sự vào cuộc của các trưởng phòng ban chân chính, chỉ vẻ cho Vân Lệ, cuối cùng Vân lệ cũng được vào biên chế dù muộn so với bạn cùng khóa, vậy là trể một năm.
    Những cuộc họp hành liên miên, những hăm he phe phái diễn ra phức tạp, sau năm năm, Vân Lệ viết đơn xin chuyển vào đơn vị gần nhà. Trần Hứa Dụng cũng bị thanh tra vì bộc lộ nhiều bất cập trong quản lý nên bị thuyên chuyển. Ông bị đổi sang làm ở một bộ phận phòng ban gì đó của hội sở (cấp cao hơn) nhưng ở vị trí mới thì nhàn, ngồi chơi xơi nước nhiều hơn nhưng buồn, không còn lính lác gì ráo. Hằng ngày muốn đi nhậu thì phải share. Muốn uống một ngụm trà cũng phải bỏ tiền túi ra mua, không còn cảnh nhân viên vây quanh, muốn gì được nấy như hồi làm ở cơ sở. Buồn ơi là buồn! Đúng là “đầu chó hơn đuôi voi”. Lên voi, xuống chó thiệt tình.  Thế là chiều tà đã đến với đời ta. Hứa Dụng nghĩ bụng, nhưng nhờ Mộng Điệp vẫn còn ngon ngọt khi cần nhưng cũng chỉ qua loa chiếu lệ chứ chuyện gặp gỡ thì không dễ như hồi cùng “chung một chiến hào”.
    Đùng một cái, đang từ trong quán nhậu bước ra, Hứa Dụng bỗng xây xẩm mặt mày, té xuống. May có hai nhân viên quán chạy đến đỡ và đưa lão vào bệnh viện cấp cứu. Lão đã bị tai biến, rồi sau đó đi vào hôn mê. Hơn một tháng thì tỉnh. Cũng có vài đồng nghiệp lui tới thăm hỏi. Nhưng lão chưa lần nào thấy Mộng Điệp xuất hiện. Đời nó bạc như vôi! Lúc xưa mình là thủ trưởng, nó lúc nào cũng ngọt xớt: anh anh, em em vậy mà khi mình bị bệnh đến tàn phế thế này, nó biến mất khỏi đời mình không một chút sủi tăm. Hóa ra nó chỉ yêu quý  “sếp” khi còn ngồi trên ghế chức quyền. Xuống khỏi ghế rồi thì đường ai nấy đi –“anh đường anh, tôi đường tôi tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi” như không hề quen biết.
    Ấy vậy mà mình vì nó, đã từng phụ rẫy mụ vợ già của mình với những cử chỉ lạnh lùng và lời nói rất chi là gừng nghệ cắt lát, lòng lão chợt chùng xuống, ân hận dẫu muộn màng. May mà bà vợ mình thuộc lớp người xưa được cha mẹ dạy dỗ chu toàn: Hiền thục, chăm chồng, chăm con hết lòng, không toan tính. Chứ thời nay thì khó giữ nổi, có người nói vui: “chán cơm them phở, nhưng khi chán phở trở về chưa chắc đã còn cơm”. Mà cũng có lý của nó. Lão tự an ủi, bả chưa bỏ mình, mình cũng còn may mắn chán. Lão ngước nhìn người vợ tào khang đã già theo năm tháng, đang lụi cụi bưng chậu nước ấm đến lau mặt, lau tay cho lão. Mắt lão nhòe đi hai giọt nước mắt chiết ra sau hốc mắt già nua hốc hác sau những tháng ngày chống chọi với bệnh tật. Lão lại nghỉ vẫn vơ, nước mắt lại tứa ra, bà đút cháo cho lão, đoạn quay lưng lấy khăn thấm nước mắt cho lão và dỗ dành:
    – Thôi ông đừng khóc. Đời người ai chẳng có lúc bệnh. Giờ qua rồi, ông đỡ nhiều rồi! Ông phải vui lên mới phải.

 

– Hoàng Thị Bích Hà

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Lóng rày tôi hay tẩn mẩn viết về những hồi tưởng tuổi thơ, nhất là những côn trùng ngày xa xưa đó như chuồn chuồn, bươm bướm, ve sầu, dế mèn…Nhiều lúc ngồi nghĩ lẩn thẩn: tại sao vậy? Chắc đó là tâm trạng của người tuổi sắp hết đếm số, tiếc nuối những khi còn cắp sách tới trường. Cắp sách tới trường không phải là chuyện vui nhưng tuổi học trò thì vui thật. Lúc nào, khi nào, chỗ nào cũng toàn thấy chuyện vui chơi. Bạn chơi là người nhưng nhiều lúc là những côn trùng quanh quẩn bên người. Một ông bạn mới gặp nhướng mắt hỏi tôi viết về những bạn chơi nhiều hơn hai chân nhưng chưa thấy nhắc tới bạn của ông ấy. Đó là bọ ngựa. Ông này thuộc loại rắn mắt. Tôi không chung tuổi thơ với ông nhưng chắc ông cũng thuộc loại phá làng phá xóm. Ông kể chuyện ăn me chua trước mấy ông lính thổi kèn trong hàng ngũ khiến mấy ông thợ kèn này chảy nước miếng thổi không được. Tôi thuộc loại hiền nên không có bạn không hiền như bọ ngựa. Ông ta thì khoái bọ ngựa.
“Mày có vợ hồi nào vậy?” chưa kịp chào, mẹ đã ném ra câu hỏi bất ngờ. Tôi lặng thinh. Cục nghẹn trong cổ họng. Tiếng mẹ đã khàn nhưng nghe vẫn quen, vẫn gần gũi, nhưng đặm chút ngạc nhiên và thấp thoáng chút phiền muộn. Hệt như lần hỏi tôi mười mấy năm trước rằng Sao con trốn học. Đường dây điện thoại chợt kêu ù ù, như thể có máy bay hay xe vận tải cơ giới hạng nặng chạy qua chỗ mẹ đứng. Cũng có thể tại tai tôi ù. Tôi cũng không chắc lắm. Giọng nói mẹ chìm vào khối tạp âm hỗn độn. Mẹ lặp lại câu hỏi trong tiếng động cơ rì rầm. Rồi tất cả im vắng bất ngờ. “Hở con?” Mẹ nói.
Bê, con trai của Mẹ, đã theo Mẹ đến giảng đường từ thuở còn trong bụng Mẹ. Suốt thời gian đại học của Mẹ, Bê có nhiều đóng góp khác nhau theo từng thời kỳ. Khi Mẹ làm bài kiểm tra môn Đầu Tư và Tài Chính trong lục cá nguyệt đầu tiên, Bê mới ba tháng tuổi. Mẹ nhẩm tính, bài thi một tiếng rưỡi, đi về từ nhà đến trường thêm một tiếng rưỡi. Như vậy, Bê phải xa Mẹ ít nhất ba tiếng đồng hồ. Mẹ biết tính Bê, mỗi hai tiếng đồng hồ Bê oe oe đòi bú sữa Mẹ. Bê xấu đói lắm, đòi mà không được, Bê nhăn nhó um sùm. Ngày hôm đó, dì Thành đến giữ Bê. Dì Thành rất hồi hộp. Dì chưa có em bé, chẳng biết phải làm sao cho đúng ý Bê. Mẹ thi xong, phóng ra xe về nhà. Mẹ bắt đầu sốt ruột. Mẹ xa Bê đã hơn ba tiếng đồng hồ. Giờ này Bê chắc Bê đã thức giấc. Hy vọng Bê chịu khó nhâm nhi món trà thảo dược cho trẻ sơ sinh trong khi chờ Mẹ về. Thời đó chưa có điện thoại di động. Bởi vậy, có lo cũng để bụng, chứ Mẹ chẳng biết làm sao. Mẹ ba chân bốn cẳng chạy ba tầng lầu. Vừa đến cửa đã nghe tiếng Bê khóc ngằn ngặt.
Khi chơi những bản nhạc hay, Khang khóc theo giai điệu. Mước mắt chảy, tay kéo tình xuống lên, thân hình diệu dẻo theo cảm hứng. gần như mê cuồng, không biết mình là ai. Tôi cảm nhận được cái hay xuất thần nhưng không hiểu. Khang nói: -- “Cậu Út biết không, cái hay của âm nhạc làm cho lòng sung sướng nhưng cái đẹp của âm nhạc làm cho hồn cảm động. Khi món quà quá lớn, quá sức yêu, không thể cười, chỉ có thể khóc.” Tôi nghĩ, những lúc như vậy, Khang không chơi đàn, mà múa với hồn oan.
Tôi làm việc giữ xe cho một casino ở ngoại ô Toronto, gọi là parking attendant. Đó là nghề mà thanh niên ít chịu làm, phần vì lương thấp, mức tối thiểu, hồi đó 5 đồng một giờ, nhưng lý do chính là vì nó buồn. Bãi đậu xe nằm dưới hầm tối, không nhìn thấy người qua lại, nếu ở ngoài trời cũng sau lưng nhà cao tầng. Không ai làm chỗ đậu xe ở khung cảnh xinh đẹp, nơi ấy dành cho hàng quán. Đi học ban ngày, tôi làm thêm ban đêm là việc thích hợp, có thể thỉnh thoảng ngồi học bài. Nhân viên trong phiên gác trước tôi là cô gái bằng tuổi hoặc cùng lắm lớn hơn một hai tuổi, nhưng không hiểu sao cô vẫn có thói quen gọi tôi là em và xưng chị.
Anh cho xe dừng lại nơi góc đường rồi đi bộ về phía căn nhà. Tuyết đang rơi dầy đặc trắng xóa cả bầu trời, đúng là một White Christmas như nhiều người mong muốn. Những ánh đèn màu trang hoàng trước sân các nhà nhấp nháy vui tươi như đang mừng đón Chúa Hài Đồng giáng trần. Anh bước lên bậc thềm gỗ, bước rón rén đến cửa sổ nhìn qua tấm rèm mỏng, hơi giật mình sựng lại khi thấy ba mẹ con cô ấy đang dọn bữa ăn đêm Noel. Hẳn là họ vừa đi lễ về, anh thầm nghĩ. Nhìn đứa con trai mười ba tuổi và đứa con gái mười một tuổi giúp mẹ sắp xếp bày biện thức ăn trên bàn, anh thoáng chút xúc động và an tâm vì các con đã lớn, có thể đỡ đần mẹ trong nhiều việc nhà, anh cũng thấy bớt đi mặc cảm tội lỗi của mình.
Chuyện xảy ra trên một chuyến xe Greyhound. Xe đò Greyhound có vẽ con chó sói xoải cẳng phi nước đại bên hông là thứ nối liền các thành phố bên Mỹ và Canada. Nhiều người trong chúng ta chắc đã từng ngự trên những chuyến xe xuyên liên bang này. Tôi cũng đã từng xuôi ngược với Greyhound. Từ Montreal qua Washington D.C. thăm bạn bè dân thủ đô nước Mỹ như các ông Dzương Ngọc Hoán, Nguyễn Tường Đằng. Từ Vancouver qua Portland thăm ông Từ Công Phụng. Từ Seattle về Vancouver sau khi cưỡi du thuyền đi Alaska thăm mấy chú gấu tuyết. Nói như vậy để thấy tôi cũng có chút kinh nghiệm khi chen vai thích cánh cùng những người không có hoặc ngại lái xế riêng.
Hai chữ giang hồ không mấy xa lạ trong đời sống của mỗi người đều thường đề cập trong thơ, văn, điện ảnh… và cũng là câu nói thường tình với cá nhân, nhóm người trong xã hội. Tác phẩm Thủy Hử ban đầu là Giang Hồ Khách Truyện, sau lấy tên là Thủy Hử vì “căn cứ địa” Lương Sơn là vùng đầm, hồ nên Thủy Hử (bến nước). Truyện nầy qua bản dịch của La Thần và Á Nam Trần Tuấn Khải, gồm 3 cuốn, năm 1973, sau đó với Tử Vi Lang nên rất quen thuộc với độc giả Việt Nam. Trong truyện Thủy Hử của của nhà văn Thi Nại Am (1296-1372) ở Trung Hoa vào triều Nguyên-Mông (1295-1368), kể về câu chuyện của Tống Giang triều nhà Tống, nổi dậy kéo theo “giang hồ hảo hán” gồm 108 người đến núi Lương Sơn. Gọi là anh hùng Lương Sơn Bạc.
Ở Sơn Tây, tôi là khách lạ nhưng mang tâm trạng sâu đậm như người trở về nguồn cội. Đầu tiên tôi tìm mua tấm bản đồ tỉnh lỵ nhưng không ai bán, họ chỉ dẫn địa điểm Thành Cổ rồi theo 4 hướng Đông Tây Nam Bắc của hình vuông ấy là sẽ tìm ra mọi nơi. Hướng Nam đối diện với phố Quang Trung còn gọi là Cửa Tiền, Cửa Hậu ở hướng Bắc có phố Lê Lợi và nếu đi thẳng đến cuối đường sẽ gặp sông Hồng, hướng Đông là Cửa Tả nhìn ra chợ Nghệ và cuối cùng hướng Tây hay Cửa Hữu có phố Ngô Quyền.
Buổi sáng cuối tuần, mùa đông chớm về với những cụm mây xám nhạt, lơ lửng trôi trên bầu trời California, không khí se se lạnh, tôi và Hoàng ngồi ngoài hàng hiên quán Coffee Lovers của Thành phố Hoa vàng nhìn trời hưu quạnh. Bên hai ly cà phê sữa nóng và dĩa bánh Patechaud, Hoàng nói chậm dãi, nhỏ nhẹ, kể cho tôi nghe về quê ngoại của Hoàng thời niên thiếu.
Theo thông lệ trước đây, hằng năm vào đầu tháng 9, CVKer 65 Bok Thân có tổ chức buổi tiệc gây quỹ cho địa phận Kontum. Năm nào Bok Thân cũng thành công mỹ mãn, gởi về quê nhà nhiều số tiền lớn lao dùng cho các hoạt động bác ái của địa phận. Sau dịch cúm Tàu phù, kinh tế trì trệ, dân chúng cũng ngại đám đông nên Bok Thân phải uyển chuyển tổ chức 2 năm một lần; lần này là Đêm Tình Thương lần thứ Sáu.
Memphis là thành phố lớn của tiểu bang Tennessee, nổi tiếng là một trong những cái nôi của dòng nhạc Blues & Jazz của nước Mỹ. Cách đây 4 năm, tôi lái xe đến thăm Memphis chỉ để được nghe nhạc Blues “nguyên chất” tại B.B King’s Blues Club, một trong những “việc đáng làm trong đời” đối với những người mê nhạc Jazz. Nghe nhạc Jazz ở Memphis sẽ thấy được dòng nhạc như chảy trong huyết quản của người da đen ở Miền Nam Hoa Kỳ. Vào đầu tháng 10 năm nay, tôi trở lại thành phố Memphis, nhưng đó không phải là đích đến của chuyến đi. Memphis có phi trường chỉ cách Tu Viện Mộc Lan khoảng hơn một tiếng lái xe. UH, một cô bạn đồng tu đã từng cùng học với một vị thầy, cùng sinh hoạt trong một nhóm Phật tử ở Quận Cam California được chấp nhận vào ni đoàn, làm lễ xuống tóc xuất gia tại Mộc Lan. Tôi cùng một nhóm bạn nhận lời mời đến dự sự kiện trọng đại của một đời người này.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.