Hôm nay,  

Hoa Vông Vang

27/09/202400:00:00(Xem: 2896)

Hoa vông vang
 
Chú phương là chú họ xa, nhưng rất thân tình với gia đình chúng tôi, tại vì xa quê hương bản quán, may mắn chú ở gần chúng tôi, cùng một cư xá râm mát.
 
Tọa lạc trong vùng ngoại ô Saint Maur, kề bên là bờ sông Marne hàng hiên ngang cửa nhà chú, chú đổ đầy đất đen đất vụn phải đi mua từng bao ở siêu thị bán cây trồng đất mua chú đổ vào lưng một cái bac ciment rộng lớn chạy ngang hàng hiên nhà. Trong bac chú trồng đầy hoa vàng, hoa nở thì lớn bằng đồng 50 xu, có năm cánh y hệt mai vàng ở Việt Nam, lá xanh non to bằng bàn tay con nít 5, 3 tuổi. Lá cũng rất thưa, hoa rất đẹp, vàng trong như mai ngày tết. Khi nắng gắt, mầu vàng có đậm thêm tí chút, sáng hé nở, trưa ấm nở rộ. Chiều chiều hoa cúp lại ngủ, ngày mai sáng sớm lại mãn khai, thân cây hoa chỉ cao lắm là đến đầu em bé 5, 6 tuổi. Nên hoa và cây không che vướng tầm nhìn từ trong nhà ra ngoài trời. Chú Phương yêu quý những cây hoa đó lắm. Vun tưới thường xuyên. Hỏi tên hoa đó là hoa gì? Chú trả lời ngon ơ: Đó là hoa vông vang của Đỗ Tốn, Chúng tôi không nhớ và cũng không biết ông Đỗ Tốn là ai. Nhưng cô Dung, vợ chú trả lời như giải nghĩa là, hoa Đỗ Tốn là đỡ tốn, vì không phải đi mua mỗi mùa, hạt hoa có rụng xuống nằm im dưới đất, qua một mùa đông, thân cây tàn tạ được gom lượm đi sạch sẽ, mùa xuân năm sau cây lại tự mọc lên, rồi nẩy mầm rồi nở hoa rực rỡ lóng lánh. Chẳng biết người Âu Tây gọi tên nó là gì, nó không có hương, nhưng sắc thì đẹp lộng lẫy và chú Phương nâng niu yêu quý nó lắm. Chú thường nói hoa vông vang là tình yêu đầu đời, rất hồn nhiên trong sáng dù không có đoạn kết. Hay đoạn kết phiêu bạt lung tung bay theo gió.
 
Chú nói vu vơ vậy chớ không phải là không có chủ ý. Là khi xưa, rất xưa, chừng nửa thế kỷ trước, khi chú mới chừng 20 tuổi, lúc chú được đi du học, chú đã bỏ lại quê hương Sài Gòn một người yêu đầu đời là cô Loan, bạn học suốt sáu năm trung học, không nhắc lại thôi, nhưng chắc không thể quên dễ dàng. bằng cấp, coi như là thành đạt với sự cố gắng của bản thân và đem lại niềm vui cho ba mẹ gia đình mong đợi. Năm 1973-1974 chú hí hửng thu xếp hành trang tính trở về Việt Nam, cùng với hy vọng dạt dào gặp lại cố nhân. Nhưng gia đình quyết liệt phản đối không cho về cố hương, vì chiến tranh Việt Nam đang ở giai đoạn thô bạo và giằng co quyết liệt giữa Việt Nam Cộng Hòa, cộng sản  Bắc Việt và mặt trận Miền Nam. Chú đành ở lại Tây, xin việc làm rồi cũng an cư lần lần theo ý bà bác, mẹ chú. Rồi lần nữa nhiều năm độc thân qua đi, chú may mắn gặp được cô Dung là bạn đồng hương làm người yêu rồi thành vợ chồng. Họ sống hạnh phúc bên nhau cả bao tháng ngày. Chú làm công chức cho bộ tài chánh, cô là một dược sĩ hiền hòa xinh xắn. Họ mua sắm nhà cửa, xe cộ với cuộc sống đầy đủ ấm êm, chỉ tiếc là họ không có con cái chi cả. Họ đã thử chạy chữa nhiều lần mà không có kết quả tốt. Họ cũng bao dung tính đi xin con nuôi, nhưng rồi công việc làm bận rộn, vacances chênh lệch, nên cứ hẹn lần hẹn hồi mà chưa đi xin cho được một đứa con. Họ dở ở điểm này, mẹ chú ở Việt Nam cũng nói không có con hơi uổng, nhất là khi chú đã gần già rồi.
 
Cô Dung trông coi quản lý nguyên cả một tiệm thuốc tây nên cô bận rộn, bận luôn cả ngày thứ bảy. Cô làm việc nhiều thời gian hơn chú, chú có những cuối tuần dài hai ngày, nói chung là chú được rảnh rỗi hơn và do đó chú có nhiều thời gian mơ mộng suy nghĩ đến có lúc lẩn thẩn, là có lúc chú nói không chừng mà chú thành gia thất sớm thì chú đã có con cái rồi, cũng có thể con cái đã 20 hay ngoài 20 tuổi rồi, cũng có thể sắp được làm ông bà nội hay ngoại gì đó…
 
Đàn ông mà nói năng suy nghĩ đến lẩn thẩn. Cô Dung nói chồng cô vậy, nhưng cô hiền, dễ tha thứ và dễ quên… cũng là bận một phần vì công việc luôn tay. Còn ông chồng, bên cạnh, mơ mộng, lúc rảnh, có lúc cũng lười làm việc nhà, mà cứ ngắm hoa vàng và tấm tắc khen: hoa vông vang như là tình yêu trong sáng, ngập ngừng, mong manh, có cũng như không, đó là thứ tình yêu ngây ngất dại khờ, của tuổi mới lớn lên, mà bất cứ ai cũng từng có rồi cũng từng quên.
 
Cô Loan hiểu, vì cô chú không có con, nên đôi khi chú buồn, trống rỗng và tiếc nuối… phải khi xưa thế này, thế khác… à, thì ra, không chỉ đàn bà, mà đàn ông, không con, có lúc họ cũng thiếu. Không chừng mà chồng cô còn nghĩ là nếu được sống chung với cô Loan, cuộc tình biết đâu đã đơm hoa kết trái?
 
Ý nghĩ của chú Phương, cô Dung đâu có thể hiểu hết? Chú luôn nhẹ nhàng, có lúc hơi lơ là trong câu trả lời. Dung bận rộn, nhưng cô biết chồng vẫn yêu quý cô và có khi người đàn ông buồn lẩn thẩn, cũng là bộc lộ một tình yêu sâu nặng, thấm thía với quê hương, vì đã ra đi và khi ra đi, đâu có nghĩ là một lần đi là mất lối quay về.
 
Tuy nhiên họ vẫn là đôi vợ chồng hạnh phúc. Cũng có lẽ vì không có con cái nên họ ít va chạm xung khắc. Hoàn cảnh nào cũng có cái giá của nó. Cũng có đôi lúc, rảnh cùng nhau, họ rủ nhau đi đánh cầu lông trên bãi cỏ rộng sau nhà, cùng đi bơi vùng vẫy trong piscine, hay đi dạo phố. Có lần đi chơi cùng nhau, Dung hỏi Phương:
 
Anh muốn đi tìm tin tức của Loan không? Tụi mình đi Việt Nam đi, em cũng thích đi về đó. Rồi cả hai thuận ý, họ sắp đặt lịch đi về quê hương.
 
Trước khi đi, Dung cẩn thận nhờ người thân, một cô em họ xóm cũ Nguyễn Huỳnh Đức dò tìm xem gia cảnh thân thế của Loan giờ ra sao. Dung được người quen tìm biết và cho hay Loan cũng đã lớn tuổi như Phương, ngoài 55 tuổi Loan đã lập gia đình và hiện tại góa bụa, sống một mình, bà không con cháu, chồng đã mất vì chiến trận đã nhiều chục năm qua. Phương nghe kể, thẫn thờ ngó qua song cửa, tia nhìn thấp xuống rặng hoa hoa vàng đang vô tư đu đưa:
 
Tội nghiệp, nếu mà như vậy, Loan với anh có sống chung cũng chẳng có con cái gì, không chừng anh còn chết ngắc từ lâu!
 
Thôi, lớn rồi, già rồi, nói năng cho cẩn thận.
 
Em nghĩ là mình lớn rồi, già rồi thì phải nói năng cho cẩn thận hả? Không cần đâu, vì khi chúng ta chưa phải là cha là mẹ, thì chúng ta vẫn chỉ là trẻ con.
 
Ok, thôi không nói lăng nhăng nữa. Vậy tháng sau, nghỉ năm tuần lễ, dứt khoát đặt vé về thăm Việt Nam thăm ba mẹ, mình sẽ đi thăm chị Loan sau đó, Sau đó, mình coi kiếm ra cho tụi mình một đứa con nhe.
 
Nè, mình kiếm con còn nhỏ, còn bế bồng trên tay được, thì sau này nó thương mình, mình thương nó…
 
… Anh không dại vậy, anh kiếm đứa con nuôi lớn lớn đặng còn giúp việc nhà cho mình chút chút… cứ thế, cả hai cười giỡn với nhau rất vui vẻ. Cho tới một bữa không lâu sau đó, sui làm sao, hôm đấy Dung leo lên một cái thang nhôm, xếp vài thùng thuốc mới giao lên cao cho gọn lối đi, chẳng may cho cô, trượt chân té xuống đất, đầu va mạnh vô cái tủ gỗ đặc chắc chắn ở dưới thấp. Cô choáng váng một lúc, rồi cũng tỉnh lần, cũng nhức đầu sơ sài và cẩn thận vô bệnh viện rọi phim, phim không cho thấy có vết thương nào quan trọng.
 
Nhưng từ đó, Dung nhớ nhớ quên quên không đúng lúc. Lúc cần nhớ thì quên, lúc nhớ ra điều gì thì nhớ lộn xộn như thể trạng thái rối loạn trong noãn cầu. Cũng tới lui bệnh viện chẩn đoán, cũng chữa trị, cả năm trời, bệnh quên quên nhớ nhớ ở Dung không giảm không tăng, cứ dùng dằng mãi. Họ phải bán pharmacie đi vì Dung như thành ngơ ngẩn dở người.
 
Phương phải mượn một người chăm sóc luôn bên cạnh Dung trong lúc anh đi làm việc.
 
Thì anh vẫn phải làm việc để có tiền lương sinh hoạt hàng ngày. Có lúc Dung tự ý mở cửa đi ra ngoài đường, đi lang thang. Có lần chồng và chị Bé nuôi kiếm mãi mới ra, cô đang ngồi ở một ghế đá công viên khá xa nhà, chị Bé hỏi cô muốn đi đâu?
 
Em phải đi kiếm anh Phương. Em phải đi kiếm ảnh!
 
Nhưng lúc tỉnh táo, trời sáng nắng đẹp, thì Dung không có biểu hiện gì bất thường. Cô vẫn có thể cùng chị Bé lau nhà, phơi quần áo, chuẩn bị nấu cơm cho cả ba người ăn và nói chuyện rôm rả.
 
Những lần ra ngoài, có lúc Dung nhờ Phương thoa hộ cô crème fond de teint lên mặt cô, sau đó nhờ Phương trang điểm dùm, cô nói là cô lo sợ rồi một ngày kia cô sẽ quên đi hết không tự làm được nữa. Phương sợ vợ quên lần mất thói quen, nên hay bắt cô làm lấy một mình, anh ngồi bên cạnh quan sát, chỉ ra chỗ đúng sai.
 
Anh buồn nhứt là có một lần, hai người đã sửa soạn xong để cùng đi shopping, anh đi đóng các cửa, thì quay vào, anh thấy Dung đang xỏ giầy, mà xỏ ngược, chân phải cứ cố ấn vào giầy bên trái, còn chân bên trái cố lồng vào giầy bên phải. Làm mãi không xong, ôm mặt khóc hu hu. Phương phải đến giúp và vỗ về an ủi.
 
Cuộc sống cứ thế, đúng sai sai đúng, Phương chán nản buồn thấy tháng ngày vô vị, anh cũng như rơi vào trầm cảm vì không còn bám víu vào một hy vọng nào.
 
Anh đã nghĩ đến, có lẽ cả hai đứa phải ra đi một lần để giải thoát cho nhau và cùng được giải thoát.
 
Tuy nghĩ là vậy lúc chán nản, nhưng đâu phải ai cũng có can đảm đi đến cực điểm.
 
Đang lúc anh lúng túng, thì mẹ anh, vẫn còn ở Việt Nam, bà cũng còn là hàng xóm với Loan. Bà báo tin là thấy con và dâu không khỏe, bà đang lo giấy tờ sang Pháp thăm các con. Bà cũng hỏi ý hai con là nếu cô Loan muốn đi chơi sang thăm hai con và thăm Paris cho biết, thì có tiện không và các con có ưng ý không? Phương phải hỏi ý vợ, anh cũng không ngờ là Dung vui vẻ đồng ý ngay… có lẽ vì tò mò, muốn coi mặt người xưa của Phương ra sao. Phương hỏi kỷ hai, ba lần, sợ Dung lúc tỉnh lúc mơ, lỡ sau này sinh chuyện rầy rà. Nhưng không, Dung dứt khoát đồng ý:
 
Tụi mình không về được thăm chị ấy, thì mời chị sang đây chơi… đi cùng má cho vui.
 
À, đúng, có Loan đi về cùng má, anh yên tâm hơn, vì bà già bả già quá rồi, đã có lúc bà lẩn thẩn không nhớ cả lối nào đi ra, lối nào đi vô.
 
Rồi sau mấy tháng trời, gần nửa năm lo xong visas, hộ chiếu. Họ sang Tây gặp nhau. Bà mẹ và cô bạn xưa mang sang làm quà nhiều sản phẩm Việt Nam như cốm bỏng, thịt chà bông, hồng khô.
 
Phút đầu gặp gỡ nhau sau nhiều năm xa cách, họ hơi ngỡ ngàng, không ngờ còn có ngày tái ngộ, nhưng sau đó cả ba Dung, Loan và Phương vui vẻ trò chuyện tâm tình như những bạn trẻ xa cách lâu ngày, cơ may gặp lại nhau, có bao nhiêu chuyện để nói với nhau, Loan kể lại chuyện chồng cô mất ở mặt trận. Phải mất một tuần lễ sau gia đình mới mang được quan tài về mai táng trong nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Dung nghe kể, mủi lòng, chậm nước mắt. Loan không muốn Dung buồn lây, sẵn biết họ có ý kiếm con nuôi, Loan đề nghị vợ chồng Phương hãy nhận nuôi một đứa cháu, con bà chị ruột cô, cháu, nhà nghèo, con đông, ở với cộng sản tương lai mù mịt. Khi vợ chồng Dung gật đầu, thì Loan nói bà chị muốn là vợ chồng Phương phải nên về quê Việt Nam coi cháu ra sao, rồi làm giấy tờ ở tòa án.
 
Bà mẹ chồng có ý ngăn cản, viện cớ là đã trễ rồi, vả lại sức khỏe Dung không còn được như xưa, thì xin làm gì con người ta, ốc còn không mang nổi mình ốc, đèo bòng chi con sên, nhưng Dung có lúc rất tỉnh táo, cô còn đoan quyết với má là có con, con sẽ khỏe mạnh mà nuôi con.
 
Vì nghe Dung quả quyết như vậy, nên Phương thuận ý theo tháp tùng mẹ và cô Loan về quê, luôn tiện xin và mang con nuôi về cho Dung. Cô nàng yếu và sợ đi máy bay nên chịu ở nhà một mình và chờ.
 
Phương rất chu đáo tìm một trung tâm săn sóc người neo đơn, không tự sống một mình, trung tâm ở ngay cạnh nhà già. Phương muốn để Dung ở đó khoảng một thời gian ngắn hạn vài ba tuần lễ, nhiều là một tháng, để chờ chồng đi Việt Nam xin con và mang con về lại Paris.
 
Cô cũng nói với chồng là cứ để cô ở nhà một mình, cô tự quản được. Em tỉnh rồi, trò chuyện với má, nhứt là với chị Loan, em đã hiểu ở cõi đời này, còn cơ mang là người khốn khó đau thương hơn mình.
 
Nhưng mà em ở nhà một mình là anh không yên tâm lỡ có lúc đi ra ngoài em đãng trí quên khóa cửa rồi sao, ai mà không có lúc lơ là, thêm xã hội lúc này nhiều bất an… và cuối cùng thì cô chịu vô tạm trú ở một trung tâm đón, trung tâm Cécile nhận nuôi người yếu và neo đơn trong ngắn hạn.
 
Ở đỡ trung tâm và phải trả tiền ăn ở như ở khách sạn. Không rẻ đâu, Phương phải làm một số giấy tờ và ký một chi phiếu chi trả trước là 6000 euros.
 
Bàn bạc rồi cũng đồng thuận. Riêng có bà má, bà hơi ngao ngán, bà ái ngại cho con trai nhiều thứ bấp bênh mà chính bà, bà cũng không biết sự thể nó bấp bênh ở chỗ nào.
 
Ngày mai ra đi, thì hôm nay Phương mang vợ đến gởi trung tâm tạm trú. Đó là một khu nhà sang trọng, tọa lạc ở rue Dombale quận 15, cổng ra vào có an ninh, caméra, bảo vệ và còn có căn phòng khách đặc biệt rộng rãi, vừa là nơi làm, ký mọi thủ tục giấy tờ hành chánh vừa là nơi trao gởi thân nhân.
 
Đến phút cuối cùng chia tay, Dung vẫn tươi cười vui vẻ nắm tay chồng khuyến khích đi sớm, lo công chuyện sớm và mau mau mang con cùng trở về với em. Rồi cô đẩy valise đi theo một ma sœur đi vào couloir phía trong, đi nhận phòng ở.
 
Phương đợi vợ và sœur Anna quẹo khuất vào lối ngang, anh đứng im tần ngần 5, 3 phút. Anh thầm mong cho Dung ở yên đây và mạnh giỏi chờ ngày anh trở về.
 
Rồi khi dậm bước chân đi, không hiểu sao, Phương chợt bùi ngùi thương Dung và sót sa cho nàng vừa kéo hành lý đi một mình lẽo đẽo theo sau sœur… chẳng biết, rồi ở đây nàng có khóc mếu không?
 
Anh cứ nghĩ lẩn thẩn rồi không chủ định, chân bước lững thững vòng ra phía sau ngôi nhà đồ sộ và chỉnh trang ấy. Phía sau này, có nhiều cây râm bóng mát, hình như đó là một khuôn viên thu hẹp cho mọi người tạm trú đi ra đi vào dạo mát, đón gió.
 
Anh chợt tò mò và không vội, anh đi vòng ra phía sau một lần nữa, ở đây toàn là cửa sổ và cửa sổ. Chắc cứ hai cửa sổ là một phòng riêng. Anh tò mò nhìn, chợt, anh khựng người lại, đau nhói trong ngực, anh vừa nhác thấy vợ anh, hai tay níu chặt lấy 2 chấn song cửa sổ và nàng đang nức nở khóc, khóc và người nàng rũ xuống!
 
Anh nhìn Dung mấy giây rồi quyết định quay lại phía trước, anh gõ cửa phòng tiếp tân, anh gõ có ý hối hả như thúc giục vì sắp đến giờ đóng cửa cuối ngày làm việc.
 
Ma sœur giám đốc hiện ra, mau mắn hỏi anh còn thắc mắc gì nữa không?
 
Anh chỉ nhỏ nhẹ thưa rằng, anh không thắc mắc gì cả, anh chỉ xin ma sœur cảm phiền cho anh đón vợ anh về lại nhà ngay lúc này. Vì anh đồ chừng là Dung không thể ở đây, nàng đang khóc rất tuyệt vọng.
 
Ai mới xa nhà cũng vậy mà. Mai là quen ngay! Nhưng mà anh thưa, anh cầm lòng không đặng. Anh cũng xin không lấy lại chi phí đã đóng, vừa đóng.
 
Nhưng sœur cảm động trả lại anh tất cả và ưng bụng xóa bỏ contrat… con có nhiều từ tâm như ý chúa!
 
Trước lúc chia tay, sœur giám đốc dặn theo:
 
Khi nào cần thì quý vị lại trở lại nhe.
 
Thưa sœur, có lẽ là không khi nào con bỏ vợ con lại đâu một mình nữa đâu.
 
Đúng vậy, những ngày sau đó và sau đó nữa, Dung đã tìm được sự bình an, cơ thể đã tự có thể chữa lành sau nhiều giao động. Nàng khỏi bệnh.
 
Những cây hoa vông vang trước hàng ba, bao lâu không ai chăm sóc, nhưng theo mùa, chúng tàn tạ đổ rạp, rồi lại tự mọc lên, những cây non, cây mới mọc lên tươi tốt và rực rỡ đu đưa nở bông lóng lánh làm sáng cả một khoảng không gian sau những ngày đông hàn u ám.
 
Paris mùa thu 2024
Chúc thanh

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Kỷ niệm đầu tiên của tôi liên quan đến nhà văn Mai Thảo. Những ngày mới di cư vào Nam, gia đình tôi cư ngụ tại con hẻm gần nhà thờ Huyện Sĩ. Hai đầu con hẻm nối với hai đường lớn, là đường Võ Tánh và Ngô Tùng Châu. Một anh bạn thân đã chỉ cho tôi một người có bóng dáng rất văn nhân, đó là Mai Thảo. Ông ta thường xuất hiện trong những buổi sáng ở đầu hẻm trên con đường có nhà in mà tôi được biết là ông đang chăm lo cho ra đời tác phẩm đầu tay của ông, đó là cuốn “Đêm Giã Từ Hà Nội”. Tôi đã phải lấy tiền để dành nhỏ nhoi ra mua và nghĩ rằng nó sẽ là một kỷ niệm để đời cho mình. Tôi đọc truyện ngắn “Đêm Giã Từ Hà nội” nhiều lần, và đến nay vẫn còn nhớ mang máng câu “Tôi nhìn xuống nước sông Hồng đục ngầu như máu mà Hà nội đang ở dưới đó…”. Tôi cũng rời Hà nội như ông, cũng ngồi trong một chiếc xe vận tải lớn chở những người di cư qua cầu Long Biên trong buổi tối nửa đêm về sáng sang phi trường Gia Lâm để đáp máy bay vào Saigon.
Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975 đã có nhiều mảnh đời tang thương. Trong số đó có cô bạn thân của tôi. Thu Nguyệt là một cô gái có khiếu thơ văn. 13 tuổi đã có nhiều bài đăng trên Nguyệt san Thiếu Nhi với bút hiệu Tê Hát Nguyệt Thi. Bạn khiến cả lớp chúng tôi ngưỡng mộ. Ngày đất nước im tiếng súng, gia đình bạn từ Trại gia binh ở phi trường Đà Nẵng phải dọn ra ngoài; sống vất vưởng nhờ cậy nhà người quen. Vì không có địa chỉ cố định, ba mẹ bạn cùng đàn con 7 đứa bị xếp vào gia đình phải đi Kinh Tế Mới đợt đầu tiên của thành phố Đà Nẵng. Năm đó tôi đang học lớp 12.
Câu truyện mà tôi kể dưới đây diễn ra trên toàn miền Bắc Việt Nam từ khoảng năm 1965 tới 1972. Trong bẩy năm trời đó, hàng triệu người tham gia vào câu truyện này và là nhân chứng, vậy mà cho tới nay không một báo chí, một truyện ngắn, truyện dài nào nói đến “sự kiện lịch sử” này. Điều này làm cho tôi cứ băn khoăn suy nghĩ trong nhiều năm trời: Tại sao có những sự việc phi lý đến như vậy mà lại có hàng triệu người vui vẻ tuân theo; cho tới bây giờ đang thời kỳ “mở cửa”, tiếp xúc với “Thế giới văn minh” bên ngoài nhưng khi nghe hỏi về sự việc đó thì vẫn có rất nhiều người đồng tình với nó và cho đó là đúng, là hợp lý.
Ngày đầu khởi hành từ làng Mangkang, đoàn người vừa đi vừa lạy được hai mươi dặm, cứ mỗi bảy bước là một lạy, mọi người lạy dài xuống đất, để cả đầu, mình tay chân chạm đất. Họ lạy với tất cả tâm thành tôn kính đức Phật. Chị Zesay có bầu nhưng vẫn lạy như mọi người, cô bé Ceba mới mười hai tuổi, con gái của Tenzin cũng lạy như mọi người.
Năm 1620 xa xưa con tầu Mayflower đã chở các gia đình người Anh từ Anh Quốc vượt Đại Tây Dương đến châu Mỹ để tìm đất hứa. Ngày nay con tầu này cũng đưa chúng tôi rời khỏi VN để đi tìm một vùng đất hứa như vậy. Chúng tôi đi trong Tháng Tư nên tên tàu April Flower được khai sinh từ đó
Bằng ngôn ngữ không chủ từ, bằng câu kệ không đầu đuôi, tôi cố thuyết phục bệnh nhân rằng chết không phải là chọn lựa thích hợp, rằng đâu đó trên thế gian này vẫn còn một người yêu thương cô hơn yêu thương chính mình, rằng trong những thứ con người có được, không gì quý bằng mạng sống. Tôi nói cho một mình tôi nghe. Tôi kể chuyện mẹ tôi. Tôi kể chuyện cha tôi. Tôi kể chuyện em gái tôi. Tôi kể chuyện nửa đêm tôi quýnh quáng lại nhà người bệnh. Con mắt đứa bé đã đứng tròng, chân tay co giật từng hồi. Muộn lắm rồi. Nhưng người mẹ khóc lóc nài van. Chích cho cháu mũi thuốc hồi sinh. Hay thuốc gì cũng được. Miễn là có chích. Biết đâu cháu nó lại không chết. Mũi kim nhọn ánh lên dưới ánh đèn dầu trong đêm tăm tối. Vậy mà thằng bé lại sống, cô Thắm biết không. Bây giờ cô Thắm biết thằng bé ấy đang làm gì không. Nó học y tá. Nhà nó nghèo không vào trường y được nhưng nó nhất định làm y tá để cứu người. Cô gái vẫn nằm nghiêng quay mặt vào tường. Lạnh băng tượng gỗ. Đôi vai khẽ chuyển động như v
Lão Honda Accord đã quá già, hơn hai trăm ngàn dặm rồi chứ ít sao. Lão đã gắn bó với cậu chủ mười mấy năm nay. Ngày mới về với cậu chủ, lão còn mới toanh, cậu chủ cưng như trứng hứng như hoa, một tí trầy xước trên thân lão cũng đủ làm cậu chủ đau lòng, mỗi tuần cậu chủ tắm rửa đánh bóng lão… Ấy vậy mà giờ cậu chủ chẳng ngó ngàng gì đến lão nữa, lão già và trở nên xấu xí, đôi khi còn giở chứng nữa.
Bất cứ ai sống trên đời, không nhiều thì ít, đều có những kỷ niệm đặc biệt vui buồn in sâu trong tâm trí. Một trong những kỷ niệm này cũng là khi mình từng được lãnh nhận những món quà xem như những kỷ vật tinh thần vô giá được lưu trữ từ đời này đến đời nọ cho con cháu sau này.
Tiếng chuông chùa đòng vọng, vang xa trong không gian buốt lạnh của một chiều cuối Đông khiến quang cảnh quanh chùa trông thật tịch liêu. Mặt trời nghiêng về phía quê xưa. Những tia nắng mong manh nhẹ nhàng ve vuốt từng phiến đá gầy trước sân chùa.
Đăng lại nhớ chuyện con chó bơi qua sông trong một truyện ngắn của sư Giới Đức. Con chó ở chùa nghe chuông, ăn cơm chay, quanh năm quấn quýt với thầy. Một hôm kia nó nghe mùi thịt nướng bên kia sông nên bơi qua bên ấy, bơi đến giữa giòng thì nghe tiếng sư phụ gọi nên bơi quay về, gần tới bờ thì lại thèm mùi thịt nướng nên lại bơi ngược qua sông, cứ như thế nó bơi qua bơi lại đến khi kiệt sức thì chết đuối giữa giòng.
Tôi vẫn tin rằng tương lai một dân tộc, một đất nước sẽ khá hơn khi những công dân trẻ tuổi đặt câu hỏi này cho bản thân. Bởi vì những bạn trẻ đã tự vấn như vậy sẽ không để cho cuộc sống quí giá của mình trở nên lãng phí.
Khi nó mở mắt tỉnh dậy thì có cảm giác cả thân mình nó bị lôi ngược. Nó cố vùng vẫy nhưng cái đuôi có sợi dây buộc. Nó nhướng mắt nhìn về sau thì thấy hai con tàu màu xanh với những sọc đỏ chạy dọc hai bên lườn đang kéo nó ra khơi. Muosa cũng được hai con tàu khác lôi ngược ra xa. Khi cả thân mình to lớn của nó vẫy vùng dễ dàng trong làn nước biển thì sợi dây buộc ở đuôi được tháo ra. Nó ngoái đầu lại kêu “hoop hoop hoop” liên hồi. Nó không biết nói tiếng của loài người, nó cảm ơn những con tàu đã kéo nó về biển sâu bằng âm thanh của nó.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.