Hôm nay,  

hoa nở vì ai....

11/10/202520:50:00(Xem: 4701)

Tản mạn thơ

Tranh Hoa cua Hoa
Tranh Đỗ Anh Hoa.


 

Tháng 7 trời xanh cao, mùa lên hâm nóng. Mặt đất nung nhiệt ngấm ngầm địa chấn, như muốn cùng người rung vang lời ngân quá khứ. Tháng 7 gọi về hàng phượng đỏ thắm rung rinh chùm nở, thứ lung linh ảo mờ, gần gụi mà xa thẳm, “mù không lối vào...” (TCS). Vang vang trong gió, lời trẻ thơ láng giềng vọng lại đùa vui tiếng nước. Nghe mát rượi chạy quanh lưng trần từng gáo múc, từng gàu treo giếng lặng và nước mưa lũ tràn máng xối. Nước ơi, nước gọi sông, gọi suối, gọi nguồn, nước hát ngàn xanh của biển lộng trào mùa thơ ấu cũ. Nơi xa mờ cơn nắng, hải đảo hiện thành ốc xanh cuối chân trời, đùa cợt gọi mời kẻ lạc đường đang chết khát sa mạc. Mờ ảo phía ấy, những chấm xanh li ti trong mùa nắng vỡ xuống soi dáng đăm chiêu mắt ngây. Như hoa đom đóm nhòe lên mắt, thị giác vẽ nên hình dung người đi về xa thẳm. Bấy giờ, lớp trường đã đóng cửa, hàng cây cuối xuống cù rủ mùa hè đi rong hoang lãng mạn. Áo người bung xòe chiều chờ đợi một thời. Những tà vạt mong manh phất phới như loài ma không chân trên mặt lộ ngày hè chứa chan. Sót lại chăng, vẽ vời như buổi sáng hôm nay, có mây trắng rất cao, cao ngất trên mọi triền ký ức.
 
Giọng hồ cầm Nat King Cole êm ái dệt lời kéo tôi nhè nhẹ, I see your face in every flower, your eyes in stars above...  the very thought of you.  The very thought of you, sao bỗng niệm tình lân hư trở về vô cớ? Câu hỏi xoay quanh, You là ai? Là người? Là thế giới? Là Em? Xem hoa thấy dung nhan người, nhìn sao cao xa thẳm trên kia bỗng hiện tiền một ánh mắt. Chỉ một niệm. Một niệm Em, thế giới hoàn thành trong chớp lóa big bang...
 
Một lần Basho đi trên đường làng, điều khiến ông chăm chú chính là đám hoa dại bên đường. Ông viết một haiku, thiên hạ thích, và họ gọi tên bài thơ ấy nazuna haiku.
 
Yoku mireba Nazuna hana saku Kakine kana.
(Basho)
 
Looking carefully
A shepherd’s purse is blooming
Under the fence                        
         (trans. R.H.Blyth)
 
Nhìn kỹ nhé chú tâm nào
vùng bông dại rộ
ven rào ngộ thay
          (Vũ Hoàng Thư phỏng dịch)
 
Từ “kana” đặt ở cuối câu trong tiếng Nhật mang nhiều ý nghĩa khác nhau để biểu thị sự kinh ngạc, ngưỡng mộ, hay phiền muộn, hoặc hân hoan, đôi khi hoài nghi... Đại sư D.T. Suzuki, nhà thiền học danh tiếng của Nhật cho rằng “kana” trong bài haiku này có thể dịch sang tiếng Anh thích hợp nhất chỉ bằng một dấu chấm than! Dấu chấm than diệu kỳ mở nguồn thăm thẳm sinh tồn bằng một lời vô ngôn! Vậy thì “Kakine kana” trong câu cuối ta có thể nôm na nói rằng: hàng rào ngộ thiệt! Thế hàng rào có chi mà ngộ? Ngộ là ở chỗ hoa nazuna bung rộ cạnh bên, chứ hàng rào nào dính dáng chi với cái ngộ. Không dưng chữ ngộ bật dậy đôi điều khép mở ảo huyền, ngân lên một cung bậc dị thường mênh mang dưỡng nuôi y bát. Ngộ là nhầm [ngộ nhận], ngộ là gặp gỡ đối mặt nhau [hội ngộ], ngộ cũng là hiểu ra, là vỡ lẽ, là tỉnh giấc [giác ngộ]... Thì ra từ nhầm lẫn [ngộ nhận] ta đối diện [hội ngộ] với sự việc, từ đó khai mở tâm thức để không còn mê muội [giác ngộ]. Tất cả cũng từ một chữ ngộ! Quả là ngộ thiệt chứ chẳng nói chơi hý luận. Không vô minh thì cũng chẳng có giác ngộ như lời thầy, tổ thường nói.
 
Ông Basho bảo “hãy nhìn kỹ, có hoa nazuna nở dưới bờ rào”. Bài haiku thoạt nghe có vẻ cũng tầm thường thôi nhỉ. Nazuna là một loài hoa trắng dại vẫn mọc hoang bên vệ đường mà thiên hạ thường chẳng ai quan tâm hay để ý đến. Nếu nhại theo lời bài hát Hoa Trinh Nữ của Trần Thiện Thanh thì “hoa Nazuna không mặn mà bằng nàng hồng kiêu sa, hoa đâu dám khoe màu cùng một nàng Cúc vàng tươi”. Tuy nhiên Basho nhấn mạnh, hãy nhìn kỹ. Nhìn kỹ ở đây phải hiểu là nhìn với thái độ chú tâm và tỉnh thức, bỏ hết những phân chia biện biệt để nhìn như một thiền giả. Nhìn bằng con mắt vô niệm như vậy tự khắc sẽ thấy hoa nazuna đẹp như nàng hồng kiêu sa, đẹp không thua gì đóa sen hồng thắm chốn tịnh độ. Một cái nhìn trong tâm thức rỗng không cho tiểu thể hòa tan cùng đại thể, bởi chưng tầm thường hay phi thường, nhỏ bé hay vĩ đại vốn cùng nhất thể chân như. Chiêm nghiệm cánh hoa nazuna khiêm tốn nở bên bờ rào là thấu đáo điểm chín mùi của sự sống, khắc giờ phát tiết tinh hoa, mở toang nút thắt, phơi phới cùng nhân gian. Giây phút đó, ta và hoa là một, không còn biên giới chia cách giữa trong và ngoài, giữa ta và thế giới. Ta vươn vai chạm cùng vũ trụ trong niềm tự tại như chưa bao giờ được “sống”, liền khi ấy thấy bắt được tính bình đẳng của vạn vật, không phân biệt sang hèn, to nhỏ, những nhỏ nhoi vốn bị lãng quên của nhân gian đời thường. Kana! Ngộ thay!
 
Thế kỷ trước, một thi sĩ Việt cô đơn như chưa từng cô đơn, kinh ngạc và sụp lạy một cành hoa vừa nở. Đó là bài thơ ngắn “Thược Dược” của Quách Thoại ít được nhắc đến,
 
Đứng im ngoài hàng giậu
Em mỉm nụ nhiệm mầu
Lặng nhìn em kinh ngạc
Vừa thoáng nghe em hát
Lời ca em thiên thâu

Ta sụp lạy cúi đầu
(Thược Dược - Quách Thoại)
 
Tất nhiên là kinh ngạc khi bất ngờ nhận ra đóa thược dược lồ lộ đứng im ngoài hàng giậu. Hoa im sững làm cho ngoại hình như cao hẳn lên, vĩ đại hơn bình thường. Thi sĩ kinh ngạc như thiền sư ở khắc giây hoát nhiên đại ngộ. Hoa không chỉ khoe màu, hoa còn truyền cảm bằng thanh âm tiếng hát. Hoa được nhân cách hóa thành người, thành Em, thành Nàng Thơ, thành Chân Lý, v.v... Phút giây đó, cũng tỉ như phút giây Basho-nazuna, hay Archimedes-Eureka, chỉ hiện hữu khi thi sĩ trong một sát na gay cấn, hốt nhiên kỳ tác thành một tia chớp sáng lòa, nối liền mạch nguồn hương phấn, thiết lập sợi dây liên đới nối hoa với người làm một, kết mình cùng thế giới không chia. Sợi dây ấy vẫn hằng có, chỉ là bình thường vì vô tâm ta không nhìn thấy đấy thôi. Người vô tình để cho mấy cuống đỏ phù dung lặng lẽ một mình giữa lòng núi vắng lặng, không bóng người, giản hộ tịch vô nhân... rồi bời bời hoa nở, bời bời hoa rơi... phân phân khai thả lạc,
 
Mộc mạt phù dung hoa
Sơn trung phát hồng ngạc
Giản hộ tịch vô nhân
Phân phân khai thả lạc
          (Tân Di Ổ, Vương Duy)
 
Ngọn cây hoa Phù Dung
Giữa núi nẩy cuống đỏ
Quạnh quẽ cổng bên khe
Bời bời rụng và nở
          (Giản Chi dịch)
 
Câu hỏi không dưng bất chợt vào một sáng hè oi ả nắng, rộn rã lời mây trắng: Hoa nở cho người, hay hoa nở vì ai? Câu hỏi dìu dắt hiện sinh đi về nơi tịch mịch chan hòa cùng cõi thế phong ba, đưa chân đến những chóp đỉnh phong nhiêu dị thường của bát ngát thăm thẳm bất khả tư nghì, họa chăng chỉ có thể thong dong vi vút bằng những giả dụ chênh vênh có lẽ. Có lẽ?
Có lẽ thược dược chỉ thực sự nở khi Quách Thoại cúi đầu sụp lạy để bắt nhịp cầu liên đới cho hoa/người bình đẳng tương lân, tất cả là một, một là tất cả, ta là thế giới, thế giới là ta.
 
Có lẽ hoa nazuna khiêm tốn như giọt sương đầu cỏ bên đường, lộ thảo đầu phô(*), chỉ khoe sắc khi con ếch đánh bõm vào ao lặng khiến Basho dừng bước, gập mình xuống mạch thẳm tồn sinh để thấy nghìn năm sau trước nazuna vẫn phơi phới bên đường mặc cho thiên hạ bàng quan qua lại.
 
Hay có lẽ, hoa bung lên khi đến thời hoa nở. Chỉ vậy. Như là. Và có lẽ, biết đâu hoa chỉ nở rộ cùng hoa tâm của người khi người biết ngoái đầu hân thưởng giây phút trực diện khôn hàn cùng diệu kỳ trầm tịch vô ngần mở phơi.
 
Kiếp hoa – 
ta nhỏ máu ròng
cho người cười nụ giữa lòng nhân gian

 

– Vũ Hoàng Thư

Tháng 7, 2025

 

---------------------------------------

(*) Thị đệ tử, thiền sư Vạn Hạnh

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hồi tôi đi lính, sau 9 tuần làm tân binh ở trung tâm huấn luyện Quang Trung, tôi được chuyển lên Đà Lạt. Đà Lạt với tôi chỉ là trong mơ, trong mộng, trong trí tưởng. Tôi không nhớ những năm tháng ấy (1968), tân nhạc Việt Nam đã có những bản nhạc ca tụng Đà Lạt chưa? Như "Ai Lên Xứ Hoa Đào, Đà Lạt Hoàng Hôn, Thương Về Miền Đất Lạnh?"
Chiến tranh qua rồi, nạn phá rừng vẫn tồn tại. Một người bạn tôi được giao một đại đội đào binh làm nhiệm vụ vỡ hoang hai cánh rừng gỗ tếch để trồng sắn. Thu hoạch xong vụ đầu tiên, anh toát mồ hôi: công lao của bấy nhiêu con người cả năm trời chỉ đủ mua ba cây tếch, nhiều nhất là ba cây rưỡi. Tôi hỏi anh đã báo cáo lên cấp trên cách anh tính toán chưa, anh nói anh không dám. Người ta đã báo cáo thành tích khai hoang rồi, nói thế có mà chết. Những cái đầu đất phá rừng để lấy thành tích khai hoang chưa kịp chết thì lũ con buôn đã thế chỗ. Chúng nhân danh phát triển kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu gỗ, đốn bất cứ cây nào bán được.
Hồng Linh đã về tới quê hương trong chuyến đi hoàn toàn bất ngờ. Một chương trình trao đổi kỹ thuật đặc biệt về tin học với các nước Châu Á, khi cô đang ở trong lãnh vực này. Chặng đầu tiên sẽ dừng ở miền Bắc, Việt Nam trong hai tuần lễ. Hai tuần lễ ở Hà Nội, ngoài những buổi hội thảo, Linh lang thang tìm thăm những địa danh mà mẹ cô thường nhắc. Hà Nội là nơi mẹ cô chào đời, nhưng khi mẹ mới mười tuổi thì ông bà ngoại đã phải dắt mẹ, cùng các cậu, các dì của cô vào miền Nam để lánh nạn Cộng Sản. Mới mười tuổi thôi, nhưng mẹ cô đã nhớ nhung, đã ôm ấp, đã cưu mang gìn giữ biết bao nhiêu là hình ảnh, là kỷ niệm thân thương về quê ngoại, với làng Đồng Du thuộc tỉnh Hà Nam và quê nội, với thôn Phương Viên, huyện Đan Phượng thuộc tỉnh Hà Đông.
Vừa ngồi được phút chốc thì thấy một thiếu phụ lên xe, nhìn cái bụng lum lum có bầu biết là chị ta khó nhọc lắm. Nó uể oải đứng dậy nhường chỗ cho chị ta, mặc dù nó đã đứng suốt ngày trong xưởng, hai chân mỏi muốn rũ ra. Xe buýt đầy nhóc, mọi người chen chân đứng như thế mà chị còn mang cái bầu nữa thì mệt phải biết. Nghĩ mình nhường ghế cho chị cũng là một hành vi đẹp nên dù có mệt nó vẫn thấy vui vui và thoải mái trong lòng.
Không ai (kể cả các nhà khoa học, các giáo sư Bác sĩ giỏi) có thể tiên đoán chính xác khi nào đại dịch chấm dứt? Bao giờ thì có thuốc chủng ngừa? Cũng chẳng dám kỳ vọng mọi thứ sẽ quay về như cũ, trước khi có đại dịch. Nhưng hy vọng những điều căn bản tồn tại nhiều trăm năm như bắt tay nhau, như vỗ vai nhau... sẽ trở lại sau đại dịch như "sau cơn mưa trời lại sáng". Hơn lúc nào hết, người ta cần có hy vọng để sống, để thêm nghị lực cùng nhau vượt qua đại dịch, và phân cách.
Rừng núi xanh mướt, không khí trong lành và hơi se se lạnh thấm vào từng chân lông kẽ tóc, len lỏi vào từng tế bào. Cái cảm giác khoan khoái thật dễ chịu, làm cho hai huynh đệ thọ nhận được sự bình an trong phút giây hiện tại. Cây cỏ xung quanh như tỏa ra một năng lượng tươi mát tràn đầy sức sống. Bất chợt sư huynh hỏi khẽ: - Dường như có đôi mắt nào đó đang theo dõi chúng ta? Cả hai dừng bước, nhìn quanh một tí thì phát hiện ra đằng sau bụi rậm có mẹ con nhà nai đang tròn xoe mắt nhìn, tai vểnh bắt sóng động của âm thanh, chúng có thể nghe được những âm thanh nhỏ nhất mà tai người không nghe được. Mẹ con nhà nai đang cảnh giác cao độ, toàn thân mượt mà vàng sậm điểm xuyết những đốm hoa màu trắng.
Chiều nay khi những giọt nắng đang lao xao ngoài song cửa, những tán cây thầm thì trong gió chuyện nhân gian, anh bỗng nhẹ nhàng nhớ đến em, người con gái "vội cất bước quên dấu yêu ngọt ngào" ngày ấy. Anh trầm mình trong ký ức về “từng góc phố bâng khuâng dịu êm”. Anh tình cờ biết được một bản tình ca mà tác giả của nó cảm giác rằng nó bị thất lạc khá lâu rồi như chuyện chúng mình vậy đó em: "Lời hát ấy hôm nao miên man, ru em một thời Từng ánh mắt bao dung đam mê, cho em ngọt bùi"
Sau công phu sáng, bước ra nhà bếp xé tờ lịch thì hiện ra hôm nay là ngày 6 tháng 6 năm 2020. Ngày 6 tháng 6, bỗng như que diêm nào bất ngờ bật lên trong ký ức tôi đã từ lâu lắng xuống. Tại sao hôm nay lại bật lên? Biết rằng băn khoăn cũng chẳng có câu trả lời, như mưa mới rạt rào đây mà giờ nắng đã lên rực rỡ. Muôn sự còn muôn thẳm sâu mà sự phán đoán ước lệ của suy tưởng vật lý chưa chạm tới được sự mầu nhiệm của tâm linh. Đủ duyên thì lộ, chưa đủ duyên thì ẩn. Chấp nhận vậy thôi. Ngày 6 tháng 6 năm 1944. Ngày có tên lịch sử là D-Day.
Sau hơn một tháng, các chuyên viên Public Health làm việc không ngưng nghỉ, CDC công bố 60 trang guidelines hướng dẫn chi tiết cho "đời sống cùng với COVID-19" ở các trường học, các trung tâm giữ trẻ, các nhà hàng, và các cơ sở thương mại từ lớn đến nhỏ.... Mới nhìn thoáng qua thì dễ bị...."ngộp" vì quá nhiều yêu cầu, nhưng chi tiết không có nghĩa là không thể thực hiện. Cho đến lúc nào có vaccine chủng ngừa, không còn lựa chọn nào khác. Lâu dần đời cũng quen. Một cách lạc quan, khả năng thích ứng với lối sống mới của mỗi người, thêm một lần nữa, được thử thách.
Một buổi chiều im vắng bên dòng sông Cái Lớn. Theo hướng gió mơn man trên rừng dừa nước, Tím đẩy mái chèo một cách khoan thai, nhẹ nhàng. Chiếc xuồng nhỏ rẻ nước, lặng lờ trôi ngang đồn Nghĩa Quân. Tiếng đàn và tiếng hát nghe văng vẳng xa xa. Khi xuồng đến gần, Tím thấy một người lính đang ôm “cây đàn số 8” – do trẻ em trong làng đặt tên; vì không đứa nào biết cây đàn này tên là Guitar mà chỉ thấy thùng đàn giống như số 8 – ngồi trên hầm chống pháo kích.
Xe đò vừa vào Phan Rang thì kỷ niệm cũng vừa tràn về thốc tháo trong lòng bà, như làn gió nóng của miền Trung nắng cháy đang lùa vào các khung cửa xe một cách hăm hở. Bà gỡ đôi kính mát xuống để nhìn hai bên đường cho rõ hơn. Phan Rang. Con đường Thống Nhất. Bốn mươi năm. Nhưng bà ngạc nhiên vì thấy mình không đến nỗi lạc lõng sau những năm tháng dài như thế. So với nhiều thành phố khác, Phan Rang dường như không thay đổi gì mấy. Rõ ràng là con đường cũng như mấy thập kỷ qua, không được mở rộng ra chút nào. Từng hàng cây cổ thụ dễ đến trăm năm vẫn còn lác đác chạy dài theo hè phố. Nhà cửa có lô nhô nhiều căn cao hơn trước, nhưng chưa đủ để thành phố có một khuôn mặt khác lạ đối với người lữ khách lâu ngày vừa trở lại.
Tiếng khánh réo rắt ngân dài và lan toả trong không gian như những vòng sóng tròn, càng loang xa vòng tròn càng lớn, bao trùm cả đất trời. Âm thanh bay lên tận trời xanh, xuyên thấu vào lòng đất như mũi dùi chọc thủng cả địa ngục A Tỳ. Bọn quỷ đói rùng rùng kéo về hướng phát ra tiếng khánh, chúng đông hơn quân Nguyên, hình thù quái dị, trông gớm ghiếc vô cùng. Cứ thường lệ mỗi buổi chiều, chúng ngóng đợi tiếng khánh để được ăn bữa chiều.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.