Hôm nay,  

Lòng nhân ái

31/10/202500:00:00(Xem: 1718)
 
Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…
 
Họ ngồi co ro, dúm dó vào nhau trên mái nhà, lạnh và đói và sợ! Cảnh tượng thê lương khó tả.
 
Nước ở các miền cao đang đổ về vùng thấp, nước trên sông Cầu, Bắc Ninh cuồn cuộn chẩy về và dâng cao. Nước trên sông Thương vẫn chẩy về và cao ở độ báo động 3. Các tỉnh Thái Nguyên, Lạng Sơn và ngoại thành Hà Nội được báo động như nước vẫn cao trong ba tới năm ngày tới… là thứ tư 6-10 cho tới qua ngày 11 tháng 10 mới có hy vọng lui xuống… là hy vọng thôi.
 
Hoa đào trồng đón tết gió đã lôi cuốn đi cả gốc… các khung cửa sắt thép cũng bị gió lốc giựt ngược cuốn bay vèo vèo.
 
Thiên nhiên ngày càng hung dữ khi nổi cơn thịnh nộ. Hàng ngàn ngàn căn nhà của người dân ngập chìm trong nước lũ. Việc tổ chức cứu trợ của chính quyền cộng sản chậm chạp và khó đáp ứng nổi nhu cầu cứu trợ.
 
Các đoàn thể thiện nguyện cứu trợ đa phần do nhân dân đồng bào tự phát, giúp đỡ nhau bằng bánh chưng, mì gói, nước uống, đồ ăn khô. Lá lành đùm lá rách!
 
Tiền thì có thầy Thích Minh Thiền, lại cùng các phật tử bổn đạo từ chùa Đức Hòa trong miền Nam, mau mắn ra Bắc cứu trợ.
 
Thầy Thích Minh Thiền lại sắn cao ống quần qua đầu gối, vạt hò, vạt dài áo tràng cuốn cao lên vai lên cổ, lội lõm bõm vào thôn Minh Côi xã Trường Văn, huyện Nông Cống, «dạ, dạ… mô phật… con chia xẻ mất mát đau buồn của quý đồng bào…» nước vẫn băng băng thầy cũng lội băng bằng… «mô phật, con đem tới tấm lòng đóng góp của phật tử miền Nam»… để ít nhiều quý vị khắc phục hậu quả, cứ mỗi gia đình thầy đặt vào tay họ một triệu, mô phật mô phật của ít lòng nhiều.
 
Thầy dám bước lên bè cây nổi, đẩy mái chèo qua khu nước lớn, bờ bên kia, có lũ trẻ nhỏ reo mừng: oh oh thầy Minh Thiền, thầy tới.
 
Thầy tới, thầy lại tới, thầy lội nước lõm bõm vào chỗ hẻo lánh nhưng thầy không quên một nhà nào… cho tới Hà Giang, nhiều nhà mất mạng, khuyết tật… thầy chia tặng từ 3 triệu tới 10 triệu, mỗi nhà, thầy chia xẻ nỗi buồn, an ủi với lời ân cần thấm thía nghĩa tình Việt Nam. «Mô phật, mô phật… tội quá, con mang tấm lòng và tình thương của đồng bào miền Nam ra bù đắp ít nhiều đau thương cho quý vị đồng bào… mô phật»… cầu chúc sức khỏe…
 
Ngày 8 tháng 10 thầy cùng đoàn đến Tuyên Quang, chia xẻ ít nhiều tinh tài và cầu siêu cho sáu gia đình có thân nhân mất vì bị nước lũ cuốn trôi, có những nhà sáu người mà tới bốn ngưới bị trôi đi, thầy luôn an ủi người sống và không quên cầu xin siêu thoát cho người đã vong mạng…
 
Hình ảnh thầy Minh Thiền săn quần cao, cột áo tràng vạt hò, vạt ngắn, vạt dài lên vai lên cổ lội lõm bõm trong giòng nước lũ đục ngầu, kiên nhẫn và hăng hái cùng đoàn đi cứu trợ mỗi lúc nước lũ tràn về, (tác giả) tưởng không thể ngậm ngùi cảm phục thầy và đoàn và sót sa nhớ lại một câu chuyện chống lũ lụt năm xưa… xưa lắm rồi, xưa trước cả năm thìn bão lụt còn ghi dấu ấn trong lịch sử. Quả thật chống lũ gần như chống giặc ngoại xâm, có lúc còn bi thương hơn cả chiến trận.
 
Thưa đó là chuyện chống lũ, chống vỡ đê từ thời Pháp thuộc, chuyện xưa như cổ tích, mà vẫn in hằn dấu vết, từ khoảng năm 1945-1946. Miền lũ nước dâng cao là tỉnh Thái Bình, sát Nam định, Bắc phần.
 
Theo lời cha tôi kể lại, hồi đó, mỗi làng hay mỗi huyện phải có 50 người phụ dịch chia phiên thay nhau ra canh đê và lo đắp đất, đá, cát lên những chỗ lủng ngoài biển tràn vào ruộng lúa, làng mạc bên trong đất liền… nơi sinh sống của nông thôn đó là con đê Diêm Hộ, bao bọc cả vùng đồng bằng lúa tỉnh Thái Bình trù phú… nuôi sống người dân cả một vùng bao la bát ngát. Nhưng tháng 7, tháng 8, mùa nước lũ dâng, lại là nỗi lo sợ của đồng bào.
 
Họ thay phiên nhau đi canh sợ đê vỡ và sợ lụt… tiếng mõ cầm canh luôn báo động mực nước lên, xuống, mau, chậm để người dân đồng bằng cuốn áo quần chạy… họ chạy đỡ lên tá túc trên những gò đất cao, lên sân đình, sân chùa, tháp… chạy nước, họ cũng sợ… như là còn sợ hơn chạy giặc và chạy lửa… vì đại hồng thủy đến chỉ trong một sát na, một chớp mắt… trời ơi!
 
Nhà nhà thì chỉ đa phần còn lại là đàn bà, con nít và ông bà già. Đàn ông trai tráng đa phần đã chia phiên lên đê, canh giữ mực nước!
 
Nhưng nào họ có giữ được gì đâu, sức nước biển mạnh làm vỡ đê dễ như chơi, sóng ầm ầm ầm… tiếng ầm vĩ đại là chết, là một khúc đê bị vỡ bị cuốn phăng xuống phía dân làng phía đồng lúa, ruộng màu… có cả một số người bị cuốn theo. Trên là trời, dưới là nước, mênh mông bể sở… làng nào ở ven đê vỡ, bị xóa sổ. Làng nào ở xa hơn, thì mảng trôi đi, mảng còn trụ lại.
 
Làng nào ở xa hơn một khoảng nữa, thì cũng khá nguy nan, vì nước vẫn băng băng dâng lên, người lớn, người nhỏ, bồng bế lôi kéo nhau lên mái nhà ngồi tránh nước. Nếu có cơ may leo lên được góc đình, góc chùa, máng nhà thờ làng Ngoại Trình… thì tạm tạm yên, ngồi đó, co ro, chịu đói, chịu rét lạnh… hy vọng mỏng manh chờ nước rút…và chưa chết!
 
Leo lên chùa, đình hay nhà thờ còn đọng ở lại. Chớ ngồi lêu bên trên nóc nhà tranh, nguy hiểm lắm, rất nhiều mái nhà rời đòn dong, lêu bêu trôi theo giòng lênh đênh… y lục bình lang thang theo cam lộ! Người, phận người, mong manh chìm xuống không kịp còn sức đâu mà hoảng loạn.
 
Chuyện muốn kể thì đã xa lắm rồi, mà thưa bạn, nó vẫn trở về với ký ức khi mỗi mùa nước nổi, nước lũ, với hình ảnh thầy Minh Thiền săn quần săn áo bì bõm lội trong giòng nước lụt đục ngầu đó.
 
Thưa là, trên bản đồ, làng quê tôi, tựa vào vùng châu thổ sông Hồng, chỗ có con sông Diêm Hộ, cạnh sông Trà Lý, có cống Trà Ninh.
 
Gần cửa biển Diêm Hộ, Diêm Điền, khoảng cách 9, 10 cây số nên vỡ đê là chuyện hay xẩy ra mùa nước lớn.
 
Đê đắp cao và có cống thoát nước, nhưng khi sức nước mạnh, tức nước vỡ bờ là chuyện bình thường. Bờ đê có chỗ nứt nẻ, người bảo vệ đắp lại yếu ớt bằng bao cát và luôn luôn sống trong tình trạng báo động. Khi đê vỡ, người phu dịch chạy thoát là may mắn hiếm thấy, vì chẳng có ai có trời nào cứu họ lúc đó!
 
Ngày ấy, cha tôi còn mãi mê  đi kháng chiến còn lại chú Vô tôi ở nhà, lo việc đồng áng phụ ông bà nội tôi. Buổi tối, chú đi gác đê, canh sợ đê vỡ.
 
Bố mẹ chú mất cả rồi, từ cái năm đói Ất Dậu, ông tôi thương, mang về nuôi và cưới vợ cho chú, chú hiếu thảo tận tình với cha nuôi.
 
Chú Vô tôi rất hiền, có sức khỏe, và chú có ruộng vườn riêng, chú có tiền của riêng. Nhà chú ở sau đình làng, xung quanh nhà chú, chú trồng nhiều cây thầu dầu có hoa, lá màu tím tía rất vui đến lộng lẫy.
 
Chú có tiền và chú có thể thuê người trai tráng khác đi thay phần gác đê báo động, nếu muốn, nhưng lúc nào chú cũng tự đi gác để xem sự nguy hiểm khốn khó xẩy ra như thế nào… có lần chú nói giỡn là  chú là con bà Nữ Oa… bị ông nội la rầy.
 
Rồi không may là một lần ấy, chú tình nguyện sách đèn bão lên đê, thì nhà chú lại có sự cố bất ngờ xẩy ra, sự cố không thể đoán thấy trước được.
 
Đó là chiều hôm trươc, lúc ghi tên đi gác, chú đã tính bỏ cuộc, vì vợ chú là thím Vân, mang bầu hơn bẩy tháng, lại tự nhiên có dáng mệt mỏi, ì ạch của một người muốn khai hoa nở nhụy, cô đã tìm ra một bà mẹ đỡ. Và cô quả quyết bảo chú: «đi đi, đi gác đê với anh em đi!»
 
Chú ra đi mà lòng thấp thỏm. Suốt một buổi hôm, trên đê, gió lạnh thổi vù vù, những hàng cây chi chi, quả trái đỏ rơi rụng  rào rào… với trách nhiệm, chú luôn luôn phụ mọi người bê bao cát trấn chỗ đê bị nứt.
 
Rồi, ầm, đê vỡ toang, chú tung mình như mọi anh em khác, chạy về làng, vội vả như bị ma đuổi… ối trời ôi!
 
… Chẳng trời nào tới cứu kịp, họ phải chạy, mới có vài giây, nước ùn ùn tung tóe dồn tới theo sau, chú còn kịp nghe tiếng mõ khua vang vang đổ hồi từ một góc nào đó! Có nghĩa là mọi người phải chạy lên những ghồ, những ụ đất cao.
 
Chú xoay mình bẻ lái, rẽ nước, tiến, cố tiến tới phía đình là nơi đất cao hơn và có vợ chú ở đó. Chú hy vọng ra tới đó là gặp vợ, có thể có cả con chú, vừa sanh. Chú cứ quây trong nước như đi giựt lùi chú vùng vẫy, mãi sau chú cũng đến được sát đình làng. Hú hồn. Nước chạy lẹ hơn người rất nhiều…
 
Bao quanh đình, có nhiều cây nhãn, cây xoài cổ thụ, hàng bao năm, bao bọc sân gạch rộng, đã loang loáng ngập nước. Mấy hàng cây đó, giờ ngập lụt, chúng là phao cứu sinh. Người người đeo bám, ngồi, đứng, đu trên các cành rậm rịt…
 
Có người đang loi ngoi, trồi lên hụp xuống, có người này lôi kéo người kia. Khi nguy khốn, may thay có lòng trắc ẩn hiện ra.
 
Nửa ngày qua, gió đã êm, nước đã đứng, chú loay hoay kiếm vợ chú. Không thấy. Mà chú lại thấy ông Quản. Củng, bà Lý Căng và nhiều người quen, lối xóm, đang bấu víu trên góc nóc cổng Tam Quan.
 
Chú leo vào thềm cao, trên một bệ, đứng dòm, thì bất chợt, có một người, khoác áo mưa lá gồi, tiến tới, đưa vào tay chú một cái bọc vải, còn ươn ướt nước:
 
«… Này, vợ anh, cô Vân yếu đứng mãi, bám vào trạc cây, đã mỏi tay, rơi rồi, người ta vớt được đứa con anh đây, thôi, anh mang cháu về nuôi!» Còn người còn của!
 
… Chú Vô nuôi con một mình… trời thương, hoạn nạn qua đi, chú lại còn lại được đứa con gái, thật ngoan, thật xinh xắn.
 
Bấy giờ cháu đã lớn, đã 16 tuổi, chú đã nuôi dậy và yêu thương bù đắp cho con rất chu đáo, hẳn vợ chú rất vui lòng.
 
Rồi có một năm, thủy triều dâng cao đe dọa, nhưng sau này, việc bảo vệ đê điều kiên cố vững vàng hơn, nên nước có lên rồi có xuống, chú Vô và toán bảo vệ cũng già yếu theo tuổi, theo năm tháng.
 
Có một ngày, nước rút, còn khá trong, có rơi rớt vài giọt nắng vàng hiu hắt bên sườn đê. Chú Vô và con gái là bé Vi đi dạo ngắm cảnh xưa. Hôm ấy mà một ngày quan trọng, ngày giỗ vợ chú, một ngày tháng 7 mùa thu.
 
Cũng trong cái buổi hôm ấy, có một người đàn bà từ trên mặt đê cao, từ từ đi xuống, đi thoai thoải xuống, thấp hơn rồi tiến nhanh về phía chú Vô, bà ta chào và trao cho chú một tờ giấy cuộn tròn, bà bảo là đây là giấy khai sanh, làm lâu rồi, của con chú và con thím Vân, mà bẵng đi bao năm loạn lạc, mãi nay, may mà bà con tìm thấy. Trên khai sanh, con chú là con trai, tên cháu là Trần Văn Hùng.
 
Bà nói thêm bà là bà mụ, đêm ấy đỡ đẻ cho vợ chú, và theo lời nhờ cậy của mẹ đứa bé trai sơ sanh, ghi tên cháu là Trần Văn Hùng bà mụ nói mau, chào và vội vả đi thoăn thoắt lên cao, chú không kịp nói lời cảm tạ…
 
Tất cả là do sự linh ứng đưa đẩy, chú đã thầm hiểu, và rồi, chú đoán ra là mẹ chú nghiệm rất đúng: «con trai tay trái, con gái tay phải» hồi cô Vân mang thai, cô luôn nằm nghiêng ngủ nghiêng về bên trái!
 
Chú bàng hoàng, một chút sửng sốt, thì ra khi vợ chú ra đi, cô ấy đã bế theo thằng con trai mà hai vợ chồng đã nhiều lần bàn tính đặt tên cho con.
 
… Đúng là cả hai đã đồng ý đặt tên cho con là Trần Văn Hùng.
 
Chú yên lặng ngó sâu xuống đáy sông, lung linh đâu đó, chú lặng lẽ chào từ biệt bóng dáng thân yêu của hai người thân. Hôm nay là ngày giỗ của Vân và Hùng mới đó đã mười mấy năm qua đi qua đi…
 
Vân đã đi và Hùng cũng đã đi.
 
Ngay sau đó, giữa tan hoang đổ nát, thì bé Vi tới… cám ơn trời, lòng nhân ái khi nào cũng có mặt và không hề thiếu vắng trong mọi hoàn cảnh thương tâm…
 
Rồi bất chợt, con gái từ bờ bên kia đê, quay trở sang, gặp lại bố. Chú nhìn con, giọng đầy xúc động:
 
… Này, như là con càng lớn càng giống mẹ con… ngỡ gì, chớ điều đó, bố nói với con nhiều lần rồi… mà mình về nhà thôi, con đói bụng lắm!
 
Mùa Thu đầy lũ lụt 2025
Paris 12/10
Chúc Thanh
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
Đợi, và đợi. Có đến khoảng gần một trăm người xếp hàng đợi. Mới có năm giờ sáng thôi! Trời Đà Lạt đổ sương xuống nghe ướt tóc, ướt vai. Phòng bán vé còn đóng kín cửa. Sáu giờ mới bán vé. Biết vậy rồi, nhưng đám đông người này vẫn đến sớm chờ đợi. Chẳng qua là số xe có giới hạn, mình đến sớm mới mong có xe đi, nếu không thì phải về và trở lại vào ngày mai. Người ta nhìn nhau, như ngầm nói qua đôi mắt rằng đến sớm chắc ăn hơn. Mà không chừng có người đã ngủ đêm trước phòng bán vé để được xếp hàng phía trên cùng.
Tháng 7 trời xanh cao, mùa lên hâm nóng. Mặt đất nung nhiệt ngấm ngầm địa chấn, như muốn cùng người rung vang lời ngân quá khứ. Tháng 7 gọi về hàng phượng đỏ thắm rung rinh chùm nở, thứ lung linh ảo mờ, gần gụi mà xa thẳm, “mù không lối vào...” (TCS). Vang vang trong gió, lời trẻ thơ láng giềng vọng lại đùa vui tiếng nước...
Nếu Thanksgiving ở bên Mỹ mang màu sắc rộn rã chuẩn bị cho mùa Giáng Sinh, thì Thanksgiving bên Canada lại rơi vào Tháng Mười dịu êm, có đủ màu sắc nâu vàng đỏ của lá cây chuyển màu cuối Thu, với màu cam của những trái pumpkins cho lễ hội Halloween . Những ngày này, gia đình tôi chộn rộn với những đợt “thu hoạch” cuối cùng, chuẩn bị dọn dẹp vườn tược sạch sẽ trước khi mùa lạnh đang đến. Theo ý nghĩa nguyên thủy của Thanksgiving là Tạ Ơn đất trời cho mùa màng bội thu, thì năm nay gia đình tôi cũng xin được Tạ Ơn. Mấy cây táo và plum trúng mùa trĩu quả, hái mấy lượt vẫn không hết. Những quả plum tím căng mọng ngọt ngào, vừa đem tặng bạn bè, hàng xóm, vừa để đông lạnh ăn dần, mà vẫn còn mấy rổ tươi đầy ắp. Mùa táo, nhiều gia đình Việt Nam thích đem ngâm chua ngọt, trong khi những người bản xứ làm mứt táo, hoặc sên táo làm apple pie, một trong những món bánh khoái khẩu của nhiều người trong bàn ăn Thanksgiving bên cạnh pumpkin pie .


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.