Hôm nay,  

Xóm Mới Ơi!

19/12/202500:00:00(Xem: 1495)

Xom Moi oi
Minh họa: Tranh Đinh Cường
 
Xóm Mới ơi, thương quá một đời
Mái trường tuổi trẻ bước rong chơi
Những khu xóm Đạo vương kỷ niệm
Nơi chốn quê nhà đã xa xôi …
 
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
 
Mùa Thu năm 1954, đất nước Việt Nam bị phân chia thành hai miền Nam Bắc cách biệt với hai thể chế chính trị đối lập. Hàng ngàn người bắc theo tàu há mồm di cư vào Nam, được Tổng Ủy Di Cư đưa về trại định cư tại Xóm Mới. Đến cuối năm1954, dân số trại định cư Xóm Mới đã lên đến bốn ngàn, nhưng chính phủ vẫn tiếp tục đổ dồn dân di cư về đây. Từ đó, dân số khu vực Xóm Mới đã tăng nhanh chóng và theo thời gian, con số càng ngày càng lớn hơn rất nhiều.
 
Nói đến Xóm Mới - Gò Vấp, có lẽ nhiều người nghĩ khu vực này chỉ toàn nguòi "Bắc Kỳ di cư". Nhưng trong thực tế, còn có một số người địa phương trong cuộc chiến đã phải bỏ xã An Nhơn lên Sài Gòn hay các nơi khác, đến khi thanh bình đã trở lại quê cũ làm ăn và tái lập nghiệp trong vùng Xóm Mới trên phần đất của tổ tiên. Dù sao, Xóm Mới cũng gồm hầu hết những người gốc các tỉnh phía bắc vĩ tuyến 17. Khi vào đến Xóm Mới, họ sống theo nhóm quê quán từ ngoài Bắc, đa số lại có đạo Công Giáo, nên dần dần hình thành nên 13 xứ đạo: Hà Đông, Hà Nội,Thái Bình, HợpAn,Tử Đình, Fatima,Tân Hưng,Trung Bắc, Hoàng Mai, Bắc Dũng, Hoà Bình, Mẹ Hằng Cứu Giúp và Lạng Sơn.

Tuy nhiên, Xóm Mới cũng có người theo các tôn giáo khác như: Tin Lành, Phật Giáo hoăc chỉ là đạo thờ kính ông bà tổ tiên nhưng nhiều người vẫn gọi Xóm Mới là vùng đất Công Giáo, bởi khách lạ đặt chân đến đây sẽ thấy rất nhiều nhà thờ của 13 xóm đạo, và nhà cửa của giáo dân thường ở xung quanh bao bọc nhà thờ xứ mình.
 
Thời gian trôi qua, Xóm Mới đã trở thành "đất lành chim đậu", là khu vực sầm uất, nhà cửa san sát, và càng ngày càng có nhiều người đến ở vùng này. Với bản tình siêng năng, cần cù, có ý chí vươn lên, người dân Xóm Mới làm đủ các ngành nghề, trong đó có nhiều nghề gia truyền, hàng chất lượng cao, nổi tiếng khắp vùng lân cận, đã góp phần xây dựng nền kinh tế hùng mạnh của khu Gò Vấp.  Có thể kể đến nghề sản xuất cau khô, làm vỏ xe đạp, trồng rau, hoa Tết, pháo và thịt cầy.

Nói đến pháo, những ai ở lại quê nhà thập niên 80s làm sao quên được những đêm giao thừa xác pháo đỏ ngập đầy phố phường, mà phần lớn số pháo Tết được sản xuất từ Xóm Mới? Ký ức tôi còn mang theo mãi hình ảnh những chiều cuối năm, ngồi trước cửa nhà ngắm những chếc xe ba gác chở đầy hoa, và pháo đi ngang nhà mà lòng nôn nao không khí mùa Xuân. Còn món thịt cầy Xóm Mới nức danh một thời ai cũng biết. Cứ từ ba bốn giờ chiều, từ ngay ngã tư Xóm Mới, kéo dài qua chợ, xuống đến tận xứ Hà Nội, xứ Lạng Sơn, các quán thịt cầy bắt đầu bày hàng,  mùi nướng thịt thơm lừng, làm ngất ngây khứu giác khách qua đường và quyến rũ những tín đồ của món “quốc hồn quốc túy” này.
 
Với 13 xóm đạo nằm gần kề nhau, với lòng tín ngưỡng mạnh mẽ, Xóm Mới đã được khắp nơi biết tới như một trong những khu Công Giáo đặc trưng của Miền Nam Việt Nam. Ngày nay Xóm Mới là địa chỉ không thể thiếu được của giới trẻ Sài Gòn vào dịp Giáng Sinh. Họ đổ về Xóm Mới xem các nhà thờ các xóm đạo trang hoàng rất cầu kỳ đặc sắc, chụp hình kỷ niệm, sau đó tham dự thánh lễ nửa đêm, không cần phải chen chúc nơi Vương Cung Thánh Đường ngoài trung tâm Sài Gòn, mà vẫn có một không khí Noel đủ sắc màu Công Giáo, vừa linh thiêng vừa thoáng mát trong khung cảnh tưng bừng của người dân Xóm Đạo.
 
Có lẽ vì là dân Công Giáo, bắc kỳ, di cư nên dân Xóm Mới một thời sau 1975 đã bị chính quyền phân biệt đối xử, bởi  ngoài việc siêng năng làm việc kiếm sống, họ say mê việc nhà Chúa hơn việc …nhà nước! Người ta không lạ gì những buổi sớm mai, khi thành phố chưa thức giấc, các ông bà già rảo bước đến nhà thờ khi thời chuông nhất vừa đổ. Hoặc khắp các ngõ ngách trẻ em chơi đùa vào giờ chiều, nhưng hễ nghe tiếng chuông nhà thờ, chúng vội vã đứng dậy, chạy về nhà rửa vội chân tay rồi bước ngay đến nhà thờ chỉ cách đó mấy bước chân. Đứa nào lỡ mê chơi, thì y như rằng sẽ nghe tiếng của mẹ hoặc bà nó vọng ra từ trong nhà nhắc nhở đi lễ! Có thể nói, đi nhà thờ, cầu nguyện, thờ phượng Chúa đã chiếm đa số thời gian của người xóm đạo Xóm Mới.
 
Thời chúng tôi học ở trường trung học Nguyễn Trung Trực, cô hiệu trưởng vốn là cán bộ tập kết, cứ mỗi mùa Phục Sinh hay Giáng Sinh, đã ra thông báo trong toàn trường sẽ phạt nặng những học sinh nghỉ học vào ngày thứ sáu tuần Thánh mùa Phục Sinh và ngày hai mươi lăm tháng mười hai Chúa Giáng Sinh. Vậy mà hai ngày đó đến lớp cũng chỉ lưa thưa vài học sinh, xem ra lời đe dọa của cô hiệu trưởng không ảnh hưởng gì đến niềm tin của đoàn con Chúa trong hai ngày lễ quan trọng đó. Cứng đầu cứng cổ như thế, nên dân Xóm Mới ít khi được vào biên chế nhà nước, hoặc giới thanh niên khó được vào “Đoàn” vào “Đảng” vì lý do có đạo công giáo, cho nên khi có phong trào vượt biên, rất nhiều người con của Xóm Mới đành phải nuốt nước mắt, lìa xa xóm nhỏ yêu thương, lên đường tìm tự do.
 
Hơn một phần ba thế kỷ xa quê, mỗi lần nhớ về Xóm Mới là mỗi lần tim tôi rạo rực nỗi nhớ khôn nguôi. Nhớ những buổi trốn học cùng bạn bè, đi bộ từ trường ra chợ Xóm Mới, ngồi quán vỉa hè ăn bánh đúc chấm mắm tôm ngon tuyệt vời. Nhớ những đêm Giáng Sinh, ngồi uống cocktail ở quán ngã tư Xóm Mới, nghe nhạc Noel và ngắm thiên hạ náo nhiệt khắp các ngả đường. Nhớ ngôi trường cấp ba Nguyễn Trung Trực ngay xứ Hoàng Mai, nơi đã cho tôi một thiên đường tuổi trẻ tràn đầy hạnh phúc, mộng mơ.
 
Ở bất cứ nơi đâu trên quê hương, mỗi vùng đất cũng ít nhiều sản sinh ra những người con tài năng về một lãnh vực nào đó. Riêng mảnh đất Xóm Mới, cũng đã khiêm nhường có hai người con, có chút tài nhỏ bé, đóng góp cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.
 
Người thứ nhất là Đức Cha Pherô Nguyễn Văn Khảm. Ngài sinh vào tháng mười năm 1952 tại Hà Đông, di cư vào Nam năm 1954. Ngài đã từng học qua Tiểu Chủng Viện Cái Răng Cần Thơ, Đại Chủng Viện Thánh Toma Long Xuyên và Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn, và được thụ phong linh mục vào tháng 8 năm 1980. Cha đã có tám năm làm linh mục quản nhiệm tại hai giáo xứ Hà Đông và Hà Nội ở Xóm Mới. Thời gian này, Cha đã thu hút rất nhiều giáo dân, nhất là giới trẻ đến với nhà thờ bởi những bài giảng của Ngài thật lôi cuốn, hấp dẫn. Sau đó Ngài được chuyển qua làm phụ tá giáo xứ chánh tòa Sài Gòn, làm Cha giáo tại Đại Chủng Viện Thánh Giuse. Từ năm 2004 đến 2008, Ngài giữ chức giám đốc trung tâm Mục Vụ tổng Giáo phận Sài Gòn, rồi đảm nhận làm thư ký điều hành Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, trước khi được Giáo Hoàng Benedicto bổ nhiệm làm giám mục phụ tá Tổng Giáo phận Sài Gòn và ngày 15 tháng 11 năm 2008, Ngài được Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn tấn phong và hiện nay đảm nhận vai trò Giám mục Chính tòa Giáo phận Mỹ Tho.
 
Người thứ hai tôi xin kể đến là nhạc sỹ công giáo Phanxico. Anh tên thật là Nguyễn Đình Diễn, sinh năm 1957. Nghe nhạc của anh, người nghe dễ lầm tưởng anh là một linh mục, nhưng thật ra anh là giáo viên tiếng Anh ở một trường trung học, anh cùng gia đình hiện cư ngụ tại  xứ Lạng Sơn, Xóm Mới. Trước năm 1975, nhạc sỹ Phanxico có học trong chủng viện Don Bosco gần chợ Gò Vấp, nhưng vì hoàn cảnh nên sau đó đã lập gia đình, và sở thích viết Thánh Ca đã theo đuổi anh thành một đam mê không ngưng nghỉ.
Nhiều bài Thánh Ca của Phanxico rất phổ biến và đi vào lòng những tín hữu công giáo Việt Nam khắp nơi bởi nét nhạc dễ nhớ, lời ca dễ hiểu, tràn ngập lòng yêu mến Chúa, tôn vinh Đức Mẹ: Chúa Là Con Đường, Con Chỉ Là Tạo Vật, Mẹ Là Bóng Mát, Cầu Cha Cha Mẹ 2, Bước Chân Ngài, Sự Sống Thay Đổi, Dâng Niềm Cảm Mến, Khi Hoa Nở Miền Cana,và Tình Yêu Thiên Chúa (viết chung với Thế Thông) .v.v..
 
Riêng tôi, khi còn ở trại tỵ nạn Thailand, những buổi chiều mưa tham dự thánh lễ, nhìn cây lá ướt ủ rũ ngoài hiên nhà thờ dưới màu trời buồn tênh của xứ tạm dung, đã hơn một lần nước mắt tôi tuôn rơi, nức nở nỗi cô đơn, nhớ nhà khi cùng ca đoàn hát bài dâng lễ của Phanxico:
 
“Dâng lên Chúa trái tim ươm mộng mơ
 Bao nhiêu lần đã khóc bên trời mưa …
 Dâng vui buồn sẽ đến, dâng sướng khổ qua rồi
 Dâng lên trời trót một kiếp con người!…”
 
Anh Phanxico, có phải anh được lớn lên trong mười ba xóm đạo của Xóm Mới, nơi mà việc phụng thờ Chúa là việc làm quan trọng nhất trong mỗi ngày, nơi trái tim anh hòa nhịp theo tiếng chuông sớm chuông chiều của xóm đạo, nơi mảnh đất nhỏ bé xinh đẹp có chợ Xóm Mới rộn ràng từng ngày, có cây cầu Tứ Quý dẫn ra xa lộ Đại Hàn những chiều gió lộng, có An Nhơn hướng đến An Phú Đông rợp bóng cây xanh mát …tất cả những điều đó đã nuôi dưỡng tâm hồn anh,  nâng cánh tâm hồn anh, để anh làm nên những bản Thánh Ca đầy chân tình, thiết tha như những người con của mảnh đất ấy?
 
Giờ đây chúng ta lại chuẩn bị đón một mùa Giáng Sinh nữa trong đời, tôi cũng đang nhớ da diết nơi chốn đó, nửa đêm tan lễ dòng người đổ ra các ngả đường, trở về nhà ăn tiệc đón Chúa Hài Đồng. Thấp thoáng đâu đó trên sân thượng nhà ai, những nam thanh nữ tú gặp gỡ quay quần, nghe tiếng hát của nữ hoàng sầu muộn Giao Linh trong băng nhạc Sơn Ca với nhạc phẩm bất hủ : “Một mùa sao sáng đêm Noel Chúa sinh ra đời/ Người hẹn cùng tôi ngày về khi đất nước yên vui …” mà bâng khuâng đón chờ Re-vi-on, để nửa đêm sương rơi ướt lạnh đôi bờ vai mà niềm vui vẫn lấp lánh trên khóe mắt, nụ cười.
 
Nhưng đó là hình ảnh của Xóm Mới hơn ba mươi năm trước, chẳng biết bây giờ cảnh cũ người xưa có còn đó hay cũng đã phai mờ theo tháng năm? Nhưng tôi biết chắc chắn rằng, Xóm Mới tháng 12 năm nay vẫn lung linh với đèn hoa như muôn thuở, từng góc phố, từng xóm đạo vẫn tràn đầy hồng ân Giáng Sinh, tiếp tục ghi vào tâm tưởng người dân những dấu ấn khó quên nếu như sau này, vì lý do nào đó, đành phải lìa xa vùng đất đã cũ, vẫn mang tên gọi là Xóm Mới.
 
Edmonton, Dec 2025
Kim Loan
 

Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời. Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông.
Đại Tá Hoàng Cơ Lân có tiếng là một cấp chỉ huy trong sạch, thanh liêm và ngay thẳng. Tại Trường Quân Y, Ông giúp cải tổ lại kỷ luật và quân phong của các sinh viên sĩ quan Quân Y hiện dịch, ra chỉ thị các sinh viên phải vào ngủ trong trại, ngoại trừ khi phải trực gác ở bệnh viện, phục hồi duyệt binh và chào cờ VNCH mỗi sáng thứ Hai tại Vũ Đình Trường, những sinh viên hiện dịch bị rớt 1 niên học YK bị cho ra khỏi trường Quân Y. Và có lẽ quan trọng nhất là không còn có chuyện những bác sĩ tốt nghiệp Hiện Dịch hay Trưng Tập thuộc thành phần COCC đã có nhiệm sở của mình trước khi danh sách các đơn vị do Cục Quân Y được phổ biến chính thức tại Trường Quân Y để toàn thể các Quân Y Nha Dược sĩ của toàn khóa chọn cùng một lúc.
Tôi cúp phone, thay vội bộ quần áo, chạy ra ngoài xe mà muốn kêu trời! Trong cái tiệm thuốc Shoppers Drug Mart này, ngoài nhóm nhân viên ở quầy bên ngoài bán Grocery và nhóm bán mỹ phẩm, thì trong quầy pharmacy, ngoài các dược sĩ là nhóm “assistant” (Dược tá) do tôi …cầm đầu vì tôi lớn tuổi nhất và kinh nghiệm làm việc lâu nhất, nên được đám Dược tá gọi là … “chị Đại” chớ thực ra tôi đâu có chức quyền gì, vì mỗi “ca” làm có một “boss” đó là người Dược Sĩ của ca làm đó . Vậy mà hễ có chuyện gì lớn, nhỏ, từ chuyện giải quyết khiếu nại của khách hàng, những khúc mắc giữa các groups trong tiệm, cho đến chuyện cá nhân lặt vặt, cứ không giải quyết được là chúng lại réo tên tôi.
Chỗ anh ngồi là gần cuối máy bay. Chung quanh anh là những người có vẻ mặt lạnh lùng, khép kín. Mắt họ nhắm nghiền, không ai muốn nhìn ai. Chỉ có anh là đang cố giương mắt nhìn khoảng không gian nhỏ xíu bên ngoài cửa sổ mà hai người ngồi bên cạnh đã án ngữ gần hết. Anh muốn nhìn một mảnh của quê hương lần cuối, như thể đó là hình ảnh của em, hình ảnh vừa tan biến cách đây mười mấy phút, khi anh quay lưng đi, lẫn vào dòng hành khách nối đuôi nhau bước vào khoang máy bay.
Cơn bão tuyết đã qua hơn tuần rồi mà hai bên đường và trong các vườn cây tuyết vẫn chưa tan vì còn lạnh quá, ngày nào cũng dưới zero độ. Nhưng nhờ vậy mà những bao rác tiếp tục chồng lên nhau trên các đống tuyết cao ngất ngưởng tới thắt lưng bên đường, chờ xe đến mang đi, không có mùi hôi. Đường sá đã khó đi quanh những công trình xây dựng không ngưng nghỉ nay lại có thêm những rào cản mới, cấm người bộ hành đến gần những toà cao ốc để tránh những mảng tuyết đã bắt đầu đóng thành băng đang rơi xuống
Em nhỏ hơn tôi đúng hai tuổi. Chúng tôi cùng chào đời vào tháng Ba, cách nhau hai ngày. Hồi nhỏ, chúng tôi trông sàn sàn nhau. Mạ chúng tôi thường may sắm cho hai đứa cùng lúc, từa tựa nhau. Tôi được bộ đồ có hình trái lê, em được hình trái táo. Nhưng em cũng có những ý thích riêng của mình. Mạ dẫn hai đứa ra hàng giày dép. Tôi chọn đôi dép màu ngà, không nổi, không chìm. Em chọn đôi dép quai màu hồng tươi chói chang, nổi bật trên bàn chân ham chạy nhảy, da dang nắng, đen thùi lui.
Tôi không biết bên kia với nó là gì. Không biết nó biết không. Có thể không có khái niệm bên kia trong người nó. Chỉ có mùi nước, mùi cỏ ướt, mùi của nơi da nó sẽ được thở đầy hơn. Cơ thể nó biết phải đi về hướng đó mà không cần hỏi tại sao, không cần biết có gì chờ, không cần tính xem đáng hay không đáng.
Có những tình cảm không cần nói thành lời mà vẫn hiện hữu rất rõ trong tim. Có những tình yêu lặng lẽ, rất âm thầm nhưng vô cùng mãnh liệt. Tôi yêu em như thế, yêu theo cách lặng lẽ nhất mà một người có thể yêu; có lẽ và sẽ chẳng bao giờ em biết được những gì tôi giữ trong lòng. Huy đến trong đời tôi như một làn gió mát giữa trưa hè, không ồn ào, không phô trương, nhưng khiến tôi xao động đến tận tâm đáy tâm hồn. Em có nụ cười dịu dàng, ánh mắt trong trẻo như mặt nước hồ thu, và giọng nói nhỏ nhẹ như tiếng chuông khẽ vang trong buổi chiều tĩnh lặng. Mỗi lần nhìn em lặng lẽ ngắm mưa ngoài cửa sổ, mái tóc nhẹ bay, lòng tôi lại dâng lên một cảm giác yêu thương ngập tràn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.