Hôm nay,  

Đôi Mắt Xếch

14/01/202614:30:00(Xem: 1320)
minh hoa Đinh Cường
Minh họa: Đinh Cường

 

 

Khi quân Bắc tràn vào miền Nam, tôi còn độc thân và ở chung với cha mẹ và gia đình anh tôi. Tôi ở trong quân ngũ nên ít khi về nhà.

 

Sau 4 năm trong trại tù Cải Tạo, tôi trở về Vũng Tàu, tìm lại gia đình mình. Gia đình tôi đã thành cổ tích. Cha Mẹ tôi qua đời, anh em tôi thất lạc, ngôi nhà của chúng tôi đã thành nhà của một cán bộ cao cấp ngoài Bắc dọn vào. Tôi thành người tứ cố vô thân, tôi cố đi tìm gia đình anh tôi, nhưng tăm cá bóng chim. Người nói anh tôi bị bắt lại sau khi vượt biển không thành, người nói cả gia đình hình như đã sang tới Úc, có người lại nói chuyến tầu có gia đình anh tôi mất tích trên biển.Vì nếu bị bắt lại thì ở tù mấy tháng cũng ra. Sang đến Úc thì phải có tin về. Có người nói hình như anh tôi bỏ xót lại một đứa con nhỏ mới 7, 8 tuổi. Hôm cả nhà có người đến đón ra khơi thì thằng bé chơi ngủ lại ở nhà bạn, chủ thuyền không đợị được. Hứa là sẽ cho nó đi ngay chuyền sau. Nhưng chuyến sau không bao giờ có.

 

Tôi lang thang mãi cuối cùng một người bạn thân từ thời Trung Học cho tôi một cái ghế bố nhỏ kê bên chái hiên nhà anh, chái hiên khá rộng cho một cái ghế bố và một góc sát bếp có thể treo quần áo và hai cái thùng cạc tông đựng đồ cá nhân. Ngôi nhà trên thì cán bộ ngoài Bắc vào chiếm, cho gia đình anh, hai vợ chồng và hai đứa con gian nhà ngang sát bếp. Anh tử tế vừa chỉ bảo vừa giúp tôi thuê ngày (thuê ngày nào trả tiền ngày đó) một chiếc xích lô để kiếm sống. Tôi đã mất hết chẳng còn gì nhưng còn mạng sống là còn muốn tìm lại gia đình mình.

 

Tôi gặp thằng bé trong một buổi chiều nhá nhem tối, khi tôi ghé vào cái quán cơm bình dân để ăn bữa cơm chiều. Cái quán chuyên bán thức ăn cho người lao động, những anh xe ôm, anh xích lô, những thằng bé lem luốc, mồ côi tại chỗ, chạy đầy đường kiếm sống mà thường không biết chúng làm gì để kiếm sống. Thằng bé bước vào quán với những bước đi không vững, nó ghé sát bà bán quán, chìa tay ra một số tiền, chắc là vừa đủ cho một bát cơm hẩm không thịt, cá. Tôi nhìn cái lưng áo rách bươm của nó mà chạnh lòng, nó còn khổ hơn mình. Thằng bé nhận phần cơm quay ra, tôi chết sững khi chạm mắt mình vào đôi mắt nó, đôi mắt của anh tôi, tôi không thể nào nhầm được, đó là thằng con thứ hai của anh tôi, nó có đôi mắt giống hệt mắt của anh tôi… không thể nào nhầm được. Tôi nhớ khi người miền Bắc tràn vào Nam tôi bị đi cải tạo, cháu tôi lên 8. Bây giờ nó khoảng 11,12 tuổi, tên nó là Hòa.Thằng bé ngửng đầu lên chạm vào mắt tôi, nó sựng lại một giây, rồi cúi nhìn xuống đất, tay cầm bát cơm đi nhanh ra cửa. Tôi đứng phắt dạy chạy theo nó, nhưng hình như nó biết có người đuổi theo, nó trốn ngay vào một con đường hẻm nào đó gần nhất mà tôi tìm không ra.

Tôi lủi thủi bỏ cả bát cơm tìm về chỗ trọ của mình. Cả đêm lăn qua lăn lại trên cái ghế bố, tôi không thể ngủ lại được. Nếu nó đúng là cháu mình thì sao nó phải chạy trốn, nó phải vui vì nó gặp lại được một người thân chứ? Cả trăm câu hỏi cứ trong đầu tôi, lăn qua lăn lại mãi, tôi vẫn không thể ngủ được, hình ảnh thằng bé với đôi mắt rất đẹp cứ hiện ra trước mặt tôi.Đôi mắt to và hơi xếch của anh tôi và cháu tôi chỉ hai người trong gia đình có. Cha tôi nói: Họ thừa hưởng đôi mắt của Ông Cố, nhưng ông Cố chúng tôi mất từ khi Cha tôi còn rất trẻ mà nhà tôi chỉ có hình ông Nội, chứ không có hình ông Cố.

Sau lần gặp đó thằng bé biến mất, không hề thấy nó tìm đến quán cơm. Tôi hỏi mấy thằng bé lang thang cũng cỡ tuổi nó về “một thằng bé có đôi mắt xếch” thì mấy đứa nhỏ này cũng không biết tại sao nó biến mất. Chúng cho biết là “thằng mắt xếch” đó ít chơi với chúng và thường đi một mình. Thỉnh thoảng lại biến mất, rồi lại hiện về, nhưng nó thích nhất là đi về phía biển. Hay Chú ra đó tìm thì may ra thấy nó.

 

Tôi cứ ngày ngày vừa chạy xe kiếm sống vừa ráo rác tìm cháu, thấy đứa trẻ nào trạc tuổi nó, tôi cũng cố vượt lên nhìn tận mặt, rồi thất vọng.

Từ chỗ tôi ra biển cũng gần một cây số, nếu tôi muốn đi tìm cháu, thì không thể ở đây được, mà ở đây thì không thể vừa đạp xe kiếm sống vừa tìm cháu.

Cuối cùng tôi trả xe, giắt một ít tiền còn sót lại, đi về phía biển. Muốn ra sao thì ra, phải đi tìm cháu đã. Bây giờ cả thế giới này chỉ còn hai chú cháu, tôi phải tìm cho ra, vì tôi không biết gia đình anh tôi có thoát được tới bờ bến an bình nào không, hay đã làm mồi cho cá?

 

Tôi đi về phía biển mất hai ngày, tôi may mắn kiếm được việc dọn dẹp bãi cho những quán ăn sát bờ biển. Nhờ chăm chỉ và sạch sẽ nên tôi không bị thất nghiệp. Các quán ăn giới thiệu tôi cho nhau.

 

Tôi vừa làm việc vừa để ý tìm cháu. Một hôm tôi đang lúi húi dọn rác, khi ngửng lên tôi thấy một cặp vợ chồng trẻ, chắc vừa ở xa tới, họ bước vào quán, theo sau có một thằng bé rách rưới xách cái vali to hơn người, đi xiêu vẹo, Tôi nhìn kỹ thì đúng là “thằng bé mắt xếch”. Tôi vội vàng nghiêng người đi một chút để nó không nhìn thấy tôi,rồi vơ đống rác vào thùng, xong tôi chuồn vào trong bếp, nhìn qua khe cửa và nhìn ngắm từng nét trên mặt nó: “Thằng mắt xếch, nó đúng là cháu tôi.

 

Cứ thế trong hai tuần liền tôi ngắm nghía nó làm việc qua khe bếp, đôi khi tôi bị la vì không nghe thấy tiếng chủ gọi. Tôi đi tìm cháu nhưng lại sợ cháu biết mình đi tìm sẽ chạy trốn như lần trước.

 

Bẵng di vài hôm tôi không thấy nó làm công việc đón khách, sách hành lý nữa. Tôi hỏi bà chủ quán, thì bà nói:

- Thằng bé mắt xếch đó nghe đâu nó có gia đình vượt biên chết ở ngoài khơi nên nó lâu lâu lại bỏ việc vài ba ngày ra ngồi nhìn sóng biển gọi tên những người thân trong gia đình và ngủ ngay trên bãi. Muốn tìm nó thì cứ đi vòng về phía bãi sau, nơi đó trước kia người ta khởi hành ra biển.

Tôi xin bà chủ cho nghỉ hai ngày. Tôi ra bãi sau tìm cháu….

 

Vào một buổi chiều biển rất êm, những con sóng nhỏ vỗ nhẹ vào bờ rồi lại rút ra. Tôi nhìn thấy cái lưng gày gò trong chiếc áo cũ rách.Cái lưng quay vào bờ, cái đầu còn xanh tóc bù xù úp mặt vào hai đầu gối.

 

Tôi ôm cháu vào ngực mình bằng cả hai tay, ngực áo tôi đầm đìa thấm những giọt lệ chẩy ra từ đôi mắt xếch, đôi mắt của ông Cố, của anh tôi và của cháu.

Tôi hỏi cháu:

-       Tại sao con lại chạỵ trốn Chú?

-       Tại Chú giống Ba con và rồi Chú cũng sẽ bỏ con nên con không muốn mình lại bị bỏ thêm một lần nữa.  Nó vừa nói vừa khóc.

 

Tôi ôm chặt cháu vào lòng, nói:

-       Không, không bao giờ Chú bỏ con, Chú sẽ ở lại đây, trên bờ biển này mãi mãi với con và nếu có đi đâu thì hai chú cháu mình đi với nhau. Đừng khóc nữa.

 

Sóng cứ theo nhau xô mãi vào bờ.Thằng bé nắm chặt tay chú bằng cả hai bàn tay nhỏ. Đôi mắt xếch rất đẹp của nó, đầm đìa lệ.

 

Trần Mộng Tú 

Cuối năm 2025 (Viết theo một giấc mơ)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hằng năm, khi trời ngả sang thu, gió bớt khô khốc, tôi lại muốn quay về. Huế đang mùa thanh trà. Bên vệ đường không xa cầu Truồi, nơi mặt tiền những ngôi chợ, trên con đường đồi dốc lên lăng Minh Mạng, màu xanh dịu nhẹ những quả thanh trà xếp thành hình nón hay bày la liệt đó đây khiến nắng hè như bớt chói chang...
New Orleans là một trong những thành phố cảng quốc tế quan trọng của Hoa Kỳ kể từ ngày lập quốc cho tới bây giờ, nằm ở phần cực nam của tiểu bang Louisiana. Có dân số khoảng trên dưới một triệu người, trong đó có một số đông người Việt Nam ta sinh sống tại những vùng ngoại ô thành phố, đa số là người Thiên Chúa giáo, nhưng tôi không biết đích xác số lượng là bao nhiêu...
Chàng đi làm về, thấy nàng ngồi thừ ở salon, tờ báo chương trình truyền hình trước mặt. Đứa con bên cạnh chăm chú chơi cái xylophone. Ti-vi đang sặc sỡ những đoạn phim quảng cáo. Chàng ngạc nhiên lắm. Thường ngày, nghe tiếng chàng lách cách mở khóa cửa, nàng hớn hở bế con ra đón. Thể nào nàng cũng chuyền con cho chàng bế và bắt chàng phải hôn con một cái thật kêu. Thế mà hôm nay, nàng dường như không biết chàng vào nhà...
Từ chiều qua chị Bông đã kiểm tra đếm những váy áo, những món đồ hiệu mua sắm từ bấy lâu nay vẫn để dành chỉ mặc khi ra ngoài tiệc tùng đình đám treo đầy nghẹt trong closet, gấp chồng chất để đầy mấy cái valy, chị Bông chọn ra những thứ nào có thể mặc được hằng ngày trong nhà thì mang ra xài gấp kẻo uổng phí...
A Woman’s Story là câu chuyện của Annie Ernaux "ảnh hưởng sâu sắc đến các bà mẹ và con gái, tuổi trẻ và tuổi già, ước mơ và hiện thực" (Kirkus Reviews). Sau cái chết của mẹ bà vì bệnh Alzheimer, Ernaux bắt đầu một cuộc hành trình đầy cam go xuyên thời gian, khi bà tìm cách nắm bắt một người phụ nữ thực sự. Ernaux viết: “Tôi tin rằng tôi đang viết về mẹ tôi bởi vì đến lượt tôi đưa bà vào thế giới.
Ai cũng có một cái tên để gọi. Trong giao tiếp, khi tự giới thiệu hay giới thiệu người khác, thường phải nhắc đến tên trước rồi mới nói tuổi tác, nghề nghiệp, chức tước, hoàn cảnh, địa chỉ, v.v… Tên đẹp hay xấu cũng phải giữ lấy mà dùng suốt cả đời. Nhớ thương nhau thì gọi tên. Ghét nhau, giận nhau cũng đem tên ra mà réo.
Nhớ lại những chuyện đó, tôi cũng hơi rùng mình, nhưng đã lỡ làm… “quân tử nhất ngôn”, nói rồi không thể nuốt lời chỉ vì... sợ ma (là người ai làm thế!). Vả lại, trên xe sẽ có tôi và chị, thì có gì phải lo!
Được tin Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng mất, tôi bỗng chợt thấy như mình vừa mất một cái gì thật quý báu, như... "Chực rớt cái gì dường thủy tinh..." (thơ Cung Trầm Tưởng) . Có một cái gì đang lóng lánh chợt tắt ngấm vào không gian. Thật vậy, chúng ta vừa mất đi một nhà thơ lớn, một vóc dáng thơ thật thân quen trong thế giới thơ ca mà tôi và nhiều người hằng yêu mến...
Cứ quanh cái thành phố San Jose này, ta thử đếm xem có bao nhiêu hội, bao nhiêu đoàn và bao nhiêu hội đoàn nhỉ? Chắc phải là nhiều lắm, nhiều như lá rụng mùa thu. Nay, nếu có ai muốn lập thêm một hội mới nữa ở đây thì dù nó có cái tên thật hấp dẫn như Hội Liếm Tem thì cũng chẳng sao, cũng chẳng có gì đặc biệt và cũng chẳng làm ai chú ý tới...
Đất Mơ vào thời hiện đại vô cùng rực rỡ, xe cộ như mắc cửi, máy bay bay giàn trời luôn. Những tưởng thế là cực thịnh rồi, nào ngờ giờ đây người ta còn chế ra nhiều thứ còn kinh khủng hơn, xe tự động chạy chẳng cần người lái, thiên hạ lên xe cứ ngả người ra mà hưởng thụ mặc cho xe chạy sao đó thì chạy. Máy bay cũng tự bay, thậm chí bay ra trận bỏ bom ì xèo rồi bay về chẳng cần phi công nữa. Người đất Mơ thông minh tinh anh phát tiết, thiên hạ không biết rồi mai này sẽ còn tiến bộ đến đâu nữa...
Vũ trụ trước mắt vẫn mới tinh y như vũ trụ những mùa xuân trước, y như vũ trụ những mùa xuân sau. Đọc hai câu thơ của Thầy Huyền Không khiến tôi miên man nghĩ tới tình cảm của con người trong bao thế hệ cũng vậy. Có những ân tình mà biết bao giờ trả cho xong? Tình Ông Bà, Tình Cha Mẹ, Tình Vợ Chồng, Tình Bạn, và bao thứ tình khác nữa...
Dăm bữa, nửa tháng tôi đem đàn ra từng tưng vài nốt. Đàn hoài không tiến bộ, tôi bèn đổ lỗi cho cây đàn. Thì vậy, vụng múa chỉ còn cách chê đất lệch chứ biết làm sao...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.