Hôm nay,  

Viết cho Hòa Bình

20/02/202600:00:00(Xem: 307)

Walk-For-Peace
 Mười chín nhà sư “đi bộ vì hòa bình” ghé Richmond ngày 3 tháng 2,
vạn dân đổ ra chào đón.
 
Từ hồi tiền sử con người sống có lúc cũng yên lành, sau đó dần dần cũng tranh giành quyền lợi vật chất và ảnh hưởng quyền lợi hơn thua với nhau nên dần dần càng về sau, họ không ở yên bên nhau nữa… mà sanh ra chống chọi nhau, chống đối hơn thua để sống… mạnh được yếu thua. Ngoài việc chống đối với nhau, còn phải chống đối với thú dữ… với thiên nhiên, từ đó cuộc sống là một cuộc chiến không ngừng, mệt mỏi… mệt mỏi quá thì mơ tưởng và mong ước hòa bình.
 
Nước Việt Nam chúng ta gần như là trải qua cả một thế kỷ lặn lội trong chiến tranh. Bây giờ thì tàn cuộc chiến, mà có hòa bình đâu? Vẫn rối loạn trong mọi tình huống.
 
César đã nói rằng muốn hòa bình phải sửa soạn chiến tranh. Không hiểu César nói câu này có thiệt đúng không? Hay là muốn hòa bình phải sửa soạn cho quốc gia một quân đội hùng mạnh để tự vệ?
 
Cho đến nay, gần như phần lớn các quốc gia trên thế giới đều đang sửa soạn chiến tranh trước thái độ hung hăng gờm gờm tấn công của ông tổng thống D. Trump. Đã bao nhiêu lần nhân loại sửa soạn chiến tranh để chờ đón hòa bình. Nhưng như là hòa bình đang trở thành giấc mơ xa vời của nhân loại… y hệt phần nào giấc mơ của một ngài tổng thống cứ dài cổ vẩn vơ trông đợi giải Nobel hòa bình!
 
Từ bao lâu nay, qua hai cuộc thế chiến tương tàn, từ các trại tập trung, lò sát sinh người của Đức Quốc Xã, những Goulas của Nga, sự tàn sát hàng loạt ở Cam Bốt, mồ chôn tập thể ở Huế với Giải Khăn Sô ở Nhã Ca chưa hề phai mờ, tất cả tạm đã qua đi nhưng cộng sản vẫn tồn tại ở Nga, Tàu, Việt Nam v.v… vậy là sao?  Là hòa bình không phải là chấm dứt của chiến tranh.
 
Hòa bình thưa không phải ở đầu môi chót lưỡi, hòa bình phải đến từ trong tâm, trong tim óc của mỗi con người của cả hai bên.
Thưa nói theo ý niệm của tôn giáo, hòa bình đến từ thiện tâm của con người. Nếu chấp nhận anh em như thể tay chân, hay tứ hải giai huynh đệ thì mới có hòa bình.
 
Tư tưởng tam vô của cộng sản chỉ là luận điệu tuyên truyền nhằm chối bỏ cái tôi rất hữu hạn của Marx. Nếu chấp nhận ngã chấp dù ít nhiều cũng không thế nào có sự tương giao giữa người với người.
 
Ngã chấp của cộng sản chì là ảo tưởng, vì một ngã lại trở về một ngã và chủ trương ý chí quyền lực làm nên ta.
 
Do đó Nietzsche đã viết rằng tất cả nhân bản, vật bản tự nhiên và nhân đạo mà con người nhân danh điều đó mà hành động đều làm trò điên loạn để nghĩ rằng ý chí và quyền lực ta làm nên ta.
 
Nietzsche phá bỏ sự lũng đoạn đó và tóm tắt lại: mọi sự đều là hư vô.
 
Quan điểm này đến rất gần với tôn giáo.
 
Hòa bình chỉ đến khi con người thế gian biết hòa thuận.
 
Khi nào con người biết thuận với trời, hòa với người như Mạnh Tử nói thì lúc đó nhân loại mới có hòa bình.
 
Hòa bình rất khó có trong thế giới loài người khi mà con người không nhân chi sơ tính bản thiện. Vì sao ư? Vì chúng ta còn đầy rẫy tham sân si. Vì cái tham sân si đó mà Đức Phật và chúa Giêsu luôn phải kêu gọi phật tử và con chiên phải dứt bỏ các thói xấu đó đi để tiến tới giải thoát hòa bình.
 
“Thương người như thể thương thân“ các đấng thượng đế khuyên bảo chúng ta hãy quên cái ngã phù phiếm cá nhân tham sân si, để siêu thoát hòa đồng trong cái đại ngã của nhân loại, vậy tóm lược hòa bình không phải là sửa soạn chiến tranh, mà là chuẩn bị tâm tư tính bản thiện, để thoát ra cái ngã tôi một mình, mà đi vào cái ngã chung cuộc với thân tình với tất cả anh em, bạn bè, quyến thuộc xung quanh ta!
Thưa bạn,
Có lẽ là C.T đang đại ngôn rồi đó, chẳng qua là đọc sách rồi tóm lược lại lơ mơ như thế đó, có chỗ đúng, có chỗ sai, xin quý bạn lượng tình miễn chấp cho. Đa tạ.
 
Mà C.T cũng nhiều lời lắm lẽ, tiện đây C.T xin mạo muội kể hầu bạn nghe một câu chuyện,  đúng có đúng, mà ngô nghê có ngô nghê, đến ngố, ngố một vẻ chân phương.
 
Số là C.T có một ông anh họ, con bác cả, anh tên là Thép. Anh Thép có duy nhất một người anh trai, còn rớt lại ngoài Bắc, sau cuộc di cư vĩ đại lánh nạn cộng sản 1954.
 
Anh ruột của anh Thép tên là Thiếc. Sau vài năm đi học trường lớp, thấy tên Thiếc kỳ quá và vô vị, anh xin bố sửa lại giấy khai sanh, mang tên là Thiết. Anh biểu là thiết tha hay thiết quân lực… cũng ok.
 
Anh Thép vô Nam với gia đình một người dì, em mẹ, lớn lên được nuôi ăn học đàng hoàng, tới tuổi động viên, bà dì đề nghị anh đi lính gần nhà và anh thuộc ngành cảnh sát.
 
Ở trong ngành cảnh sát, anh cũng được theo học các khóa chuyên môn, tâm lý chiến, quân sự căn bản và nghiệp vụ đặc biệt.
 
Sau 5, 7 năm sau đó, anh mang quân hàm đại úy của lực lượng cảnh sát bảo vệ vùng ven đô thị Saïgon… có lúc bảo vệ cả an ninh trong thành phố, vì có nhiều ngày, việt cộng đã nã đạn pháo kích lung tung ở nhiều nơi trong nội đô Saïgon. Ngay cả trung tâm. Mọi người hoang mang lo sợ vì chiến tranh đã tiến sát bên mình.
 
Tết năm ấy, năm 1968, việt cộng lại vi phạm lệnh ngừng bắn, gọi là hưu chiến, nhưng bầu không khí sát thương vẫn rờn rợn bao quanh.
 
Rồi nửa đêm, tiếng nổ đì đoành xen lẫn tiếng pháo mừng xuân Mậu Thân, thế rồi cả bầu trời rực lửa, súng và pháo, sau chỉ còn pháo và đạn nổ, trên không trung nổ, dưới đất nổ, ngang lưng trời nổ… những tiếng nổ long trời lở đất Saïgon Chợ Lớn!
Sáng ra người dân mới hay tin việt cộng phá lệnh hưu chiến tết, bằng cách lợi dụng bên ta sơ hở, chúng tấn công hỏa lực vào bộ tổng tham mưu, tòa đại sứ Mỹ, bộ chỉ huy cảnh sát, biêt khu thủ đô, trại nhẩy dù Hoàng Hoa Thám và nhiều cơ quan quân sự trọng yếu khác. Kể cả các biệt khu trọng yếu trong Chợ Lớn. Dường như mấy ngày sau thì quân lính Việt Nam Cộng Hòa kịp ứng chiến đẩy lùi cộng quân. Chúng tháo chạy một số, một số thương vong, rải rác gục ngã nằm trong đường phố Saïgon.
 
Trong miệt Chợ Lớn đường phố giăng giăng mắc cửi như hai bên còn quần thảo thêm mấy ngày sau đó.
 
Anh Thép bấy giờ là thiếu tá cảnh sát bảo an đô thành, anh cùng một số đồng đội đi truy lùng các phố xá nội đô kiếm tàn quân.
 
Khi toán của anh bất ngờ tới cửa Bắc chợ Bến Thành thì gặp hai xác người việt cộng nằm cong quẹo ngay cạnh một vòi nước công cộng…
 
Lật qua lật lại người, anh thấy họ bị thương nặng, máu ra nhiều, dường như bất tỉnh, vì còn thoi thóp thở. Họ chưa chết, có lẽ, anh Thép cúi nhìn gần hơn gương mặt một người nằm phía ngoài, anh buông tay, giựt mình lùi lại, một thoáng giây sửng sốt, lạ sao người này giống anh Thiết quá… nhứt là trên khuôn mặt xám xịt, có hai hàng lông mày rậm, mỗi đầu lông mày trụ một nốt ruồi nổi, đậm và đen!
 
Anh nhớ lơ mơ ngày thơ ấu, khi còn mẹ, mẹ anh hay nói: «Thằng Thiết nhà này không sợ đi lạc, vì nó không lẫn vô đâu được với hai hàng lông mày có hai con ruồi bu.»
 
Anh bất động một giây, người cộng sự đụng vào tay anh và chợt lên tiếng:
 
Giờ làm sao, thiếu tá?
Mang họ vô, cả hai, vô phòng cấp cứu, nhà thương đô thành, quận nhứt, họ còn sống.
 
Buổi hôm đó, anh im lặng hơn thường lệ, đăm chiêu, cố giữ bí mật, lòng tự hứa, hôm sau sẽ một mình vô bệnh viện, tìm cô y tá Hồng, người quen thân, cố tìm ra sự thiệt…
 
Nhưng hôm sau anh Thép vừa vô bệnh viện thì vị y tá trưởng đã vội cho anh hay là sau hồi cấp cứu, cả hai cán binh việt cộng đó đã lanh chân lẻn trốn ra khỏi bệnh viện lúc đêm khuya. Không ai hay.
 
Anh Thép đang ngần ngừ… thì một người đồng sự đã thở dài:
 
Thôi cũng ổn, mình khỏi làm báo cáo tới báo cáo lui phiền toái.
 
Thời gian qua mau, ngày quốc nạn 30-4-75 xẩy tới, điêu linh cho cả một dân tộc, vấn nạn sầu cho cả một quốc gia.
 
Như bao người sĩ quan VNCH, anh Thép rời xa vợ, đi vô tù cải tạo.
 
Điều bất ngờ là có một năm sau anh được tha về. Bạn bè chẳng hiểu tại sao? Anh cũng lơ mơ không hiểu! Ngay vợ anh, chị Thép cũng chả hiểu tại sao. Chị có lần gạn hỏi chồng anh có khai anh là thiếu úy, chuẩn úy gì đó không? Khai man, nay mai chúng dò xét ra, bắt đi tù lại thì chết, cứ gọi là mút mùa Lệ Thủy!
 
… Anh ậm ừ, mà anh cũng chẳng hiểu mô tê tại sao, chẳng biết mình có nhìn lầm không, dù có sao thì lúc đó hai mắt ổng nhắm nghiền, bất động có biết mình là thằng Thép hay thằng sắt gì đâu.
 
… Anh dấu kín biệt chuyện hai cái nốt ruồi y hai con ruồi bu. Ngay cả với vợ anh cũng không hở chuyện, anh chỉ tự an ủi là trên cái cõi đời này, ta bà rộng lớn, người giống người là chuyện bình thường…
 
Vả lại anh cho là người cộng sản, họ không còn tình cảm, nói chi là anh em, gia đình, tổ quốc!
 
Mấy năm sau đó, anh phụ với chị, căng giây thung, bật bông goòng rải đều bông goòng làm mền bông… làm công nhân cho xí nghiệp làm chăn.
Ít lâu sau, trong những ngày xí nghiệp không còn bông làm chăn. Chị Thép tự tạo một cái tủ bán thuốc lá trong một góc phố, phía ngoài đường sát cổng Bom cũ, chợ Ông Tạ, chị ngồi bán suốt ngày, lúc chiều chiều bận về dọn dẹp lo cơm nước, thì có anh Thép ra ngồi bán thế chỗ. Anh vừa ngồi trông hàng vừa đọc truyện kiếm hiệp.
 
Thỉnh thoảng có một đồng chí công an tới viếng, hỏi sao anh không đi kinh tế mới? Anh giả lả trả lời… tôi đang đợi hồ sơ H.O cứu xét.
 
Lúc đó, thời thế đã đổi thay nhờ kinh tế thị trường khởi sắc, công an có vô khối chỗ kiếm ăn, dòm dỏ chi việc anh chị Thép ngồi bên tủ bán thuốc lá lẻ.
 
Nhưng rồi anh Thép và chị Thép vẫn trụ ở đó hoài hoài. Họ không đủ điều kiện đi H.O vì anh đi cải tạo có một năm. Chỉ một năm.
 
Chị chỉ ôn tồn an ủi anh:
 
Thôi, mình về sống với em là vui rồi… an tâm rồi, mình không có con cái chi cần gì bon chen. Thêm nữa cộng sản bây giờ có cách kiếm ra nhiều tiền.
 
Tư bản đã thắng và vô sản thua to. Thua to!
 
Rồi bẵng đi, 20 năm sau, đến năm 1995-1996 gì đó. Bỗng nhiên anh Thép nhận được một thùng quà từ Úc gửi về địa chỉ anh chị ở ngõ cổng Bom, Ông Tạ. Người gởi là anh của anh đúng tên Nguyễn Chí Thiết. Anh mừng vì biết anh ruột mình còn sống, nhưng anh không quan tâm mấy đến thùng quà. Anh xin được giữ mối liên lạc gia đình thân tộc máu thịt, nhưng, anh giảng giải là anh đủ sống, anh Thiết hãy đê tiền tài đó lo cho các cháu học hành.
 
Thư qua tin lại, luôn là những lời thăm hỏi quan tâm và thân tình, không hề lộ vẻ cay đắng, oán trách ai. Anh lý luận với vợ là mình về sớm, không bệnh tật là may, để cho người kẹt hơn mình đi H.O… ông trời không quên ai và cũng không bỏ mặc kệ ai bao giờ. Ai có phước phần của người nấy…
 
Anh tự do chọn cho anh một cuộc sống tự tại an nhiên như ý anh. Anh đã thấy rõ cái tương đối của mọi sự vui sự buồn trong cuộc sống còn lại thường hằng của riêng anh và chị.
 
Anh đang có hòa bình trong một khoảng đời còn lại sau cuộc chinh chiến dài lâu!
 
Paris mùa xuân Bính Ngọ 2026
tưởng nhớ Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Chúc Thanh

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chiếc ghe vượt biển nhỏ xíu, mỏng mảnh của chúng tôi vậy mà chất lúc nhúc đến hơn 80 thuyền nhân, chẳng khác nào một cái lá lạc loài trên đại dương mênh mông, không biết đâu là bờ bến. Đoàn người rời bỏ quê hương tụm năm tụm ba, rải rác khắp thuyền, co ro trong cái lạnh ngoài khơi xa tít tắp, đầu óc hoang mang với trăm ngàn ý nghĩ...
Hôm ấy, trên facebook Group của nhóm cựu thuyền/ bộ nhân ty nạn Thailand, có xuất hiện bài post của Đức, chụp hình vợ chồng Đức đang tiễn con gái tại sân bay Tân Sơn Nhất đi qua Dallas Hoa Kỳ định cư theo chồng mới cưới. Ôi, chàng Đức chung chuyến tàu của tôi. Nhiều người quen cũ vào để lại những comments chúc mừng, cũng là những người tôi biết mặt biết tên, tôi liền vào tham dự, góp vui...
Người ta nói: “Hết quan là hoàn dân” và chỉ mong có vậy, đừng hết quan hoàn…tàn phế” thì buồn quá! Hôm nay lão Dụng đã tự ngồi dậy được. Lão không nhớ là mình đã nằm như khúc gỗ mục, bất động bao lâu rồi! “Mới đó mà đã lại sang một năm mới. Thời gian bây giờ có nghĩa gì đâu chứ!”: Lão lẩm nhẩm một mình!...
Trong một căn phòng motel nhỏ sạch sẽ gọn gàng chăn ga gối trắng, trên giường phủ một tấm trải lớn có thể dùng làm chăn đắp màu lông chuột, một người phụ nữ nằm khóc, và người đàn ông đang ra sức dỗ dành. Cô gái mếu máo “Anh à, anh X đã bỏ đi rồi!”...
Những ngày cuối tháng tư quân trường Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung vẫn đang cắm trại, chồng tôi chưa về, nhưng trước khi đi anh đã bảo tôi ở nhà có gì thì bám theo cha mẹ và các em để đùm bọc lẫn nhau. Gia đình cha mẹ tôi ở gần nên hai nhà như một...
Tôi bồn chồn liếc mắt nhìn đồng hồ, rồi lại nhìn chừng về phía hội trường đầy ấp hơi người và ồn ào tiếng cười nói. Đã hơn tám giờ mà chương trình vẫn chưa bắt đầu. Chưa bao giờ tôi thấy khó chịu về chuyện giờ giấc như lúc nầy. Thấp thoáng trong đám đông, tôi thấy Khánh đang chạy đôn đáo chừng như kiểm điểm sự có mặt của một số khách “nồng cốt”, để bắt đầu chương trình...
Tiếng hát Cẩm Vân trong trẻo, vút cao, nghèn nghẹn đầy xúc cảm. Tôi buông thả Mi7 và chuyển vội La thứ như chưa muốn ngừng những âm vang cuối. Nốt dứt đoạn ngân dài, tất cả lặng yên, bên ngoài có tiếng gió đêm Sài Gòn vội về, bất chợt...
Tố Như tiên sinh đã để lại cho hậu thế câu thơ tháng ba đẹp như tranh trong truyện Kiều, “cỏ non xanh tận chân trời/ cành lê trắng điểm một vài bông hoa…” Đọc xong câu thơ thì nửa số người đọc đã nhắm mắt lại để hình dung ra bức tranh mùa xuân vẽ bằng thơ; với hai màu xanh, trắng vào tay hoạ sĩ, chúng ta có bức tranh chiêm ngưỡng bằng mắt, nhưng với nhà thơ chúng ta có bức tranh trong trí tưởng tuyệt vời… Tôi nói với ông bạn mê thơ đang ngồi chung bàn cà phê mà mọi người đang nói chuyện thời sự nên không phù hợp với một sáng tháng ba trời mát lạnh vì mưa đêm qua rả rích tới sáng, anh em rủ nhau ra ngoài trời ngồi uống cà phê cho mấy ông bạn còn hút thuốc được thỏa mãn thú tính. Thế là những ông đã giã từ làn khói mỏng bị những ông còn hút thuốc giận cho, rồi cãi nhau.
Đầu tháng Tư, hoa tulip đã vội gõ cửa mọi nhà sau giấc đông miên ngắn ngủi. Mùa Xuân cũng theo hoa tulip trở về, mở ra khúc giao mùa. Trong gió Xuân đầu mùa còn lạnh, ngoài xa trên cánh đồng rừng quê muôn vạn búp non đang nẩy lộc đâm chồi. Cỏ non, cây rừng già vẫn mạnh mẽ vươn lên tràn đầy sức sống. Đàn cá hồi thức giấc bắt đầu vượt thác trở lại quê hương nguồn cội...
Một thời gian ngắn sau Hiệp Định Genève tháng 7, 1954, gia đình chúng tôi rời Phủ Cam dọn vào ở trong khuôn viên trường Đồng Khánh. Măng chúng tôi dạy môn Nữ Công Gia Chánh, và có lẽ vì là một quả phụ với 6 con, nên được Bà Hiệu Trưởng Nguyễn Đình Chi, ưu ái giúp đỡ cho gia đình được sống trong 2 căn phòng trên lầu Ba (bên phải, nếu từ cổng trước nhìn vào). Cùng ở trên lầu Ba sát cạnh gia đình chúng tôi là gia đình của bà quả phụ Trần Thi, mà chúng tôi thường kêu là Dì Hoàn vì Dì là bạn của Măng tôi từ khi 2 người học chung với nhau tại trường Đồng Khánh trong thập niên 30. Gia đình Dì cũng đông không kém gia đình tôi – 7 người. Dì ít cười và có vẻ nghiêm khắc. Các nữ sinh nghỉ trưa tại trường rất sợ gặp “Bà Thi”, dễ bị Bà la rầy hay cho “kỷ luật”, nhất khi bị bắt gặp đi lang thang trong hành lang thay vì phải ở trong phòng học.
Hạo chỉ có cậu Tân là người cậu duy nhất. Mẹ Hạo là chị cả trong gia đình có bốn người con. Mẹ, dì Hiên, cậu Tân và dì út Hậu. Cậu Tân vốn là một nông dân chính hiệu. Hình như cậu học mới qua bậc tiểu học là cậu bỏ cây bút để cầm cái cày, cái cuốc. Đến năm cậu trên bốn mươi, cậu đã có bảy người con, bốn trai, ba gái. Có lẽ cậu thấy cuộc sống làm một người nông dân quá cực hay sao mà cậu nhảy ra tham gia chánh quyền. Cậu được bầu làm xã trưởng...
Những chuyến xe ngập ngừng, chậm chạp lăn trên con đường gập ghềnh để chuyên chở đoàn người đi thăm cha, anh, em, con, chồng ở khắp nơi trong những trại tù, nơi mà lớp người mới gọi là "Trại Học Tập Cải Tạo" nghe ngược ngạo, chua chát nhiều đắng cay. Từ Quốc Lộ 1, phải đi khoảng chừng 2 cây số, trên một con đường mòn, xuyên qua rừng cây gỗ quý cẩm lai là đến trại tù cải tạo Hàm Tân...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.