Hôm nay,  

HUY

06/03/202600:00:00(Xem: 151)

Huy
Minh họa Đinh Cường  
  
Có những tình cảm không cần nói thành lời mà vẫn hiện hữu rất rõ trong tim. Có những tình yêu lặng lẽ, rất âm thầm nhưng vô cùng mãnh liệt. Tôi yêu em như thế, yêu theo cách lặng lẽ nhất mà một người có thể yêu; có lẽ và sẽ chẳng bao giờ em biết được những gì tôi giữ trong lòng.

Huy đến trong đời tôi như một làn gió mát giữa trưa hè, không ồn ào, không phô trương, nhưng khiến tôi xao động đến tận tâm đáy tâm hồn. Em có nụ cười dịu dàng, ánh mắt trong trẻo như mặt nước hồ thu, và giọng nói nhỏ nhẹ như tiếng chuông khẽ vang trong buổi chiều tĩnh lặng. Mỗi lần nhìn em lặng lẽ ngắm mưa ngoài cửa sổ, mái tóc nhẹ bay, lòng tôi lại dâng lên một cảm giác yêu thương ngập tràn.

Tôi giữ tình cảm ấy cho riêng mình, như giữ một bí mật thiêng liêng. Không phải vì tôi sợ bị từ chối, mà vì tôi sợ làm xáo động thế giới yên bình của em và tôi. Tôi sợ rằng một lời thú nhận vụng về sẽ khiến nụ cười ấy vụt tắt, khiến ánh mắt trong veo kia trở nên xa lạ. Dù sao, tình yêu của tôi với Huy lúc nào cũng như dòng nước ngầm chảy sâu dưới lòng đất, âm thầm nhưng bền bỉ.

Tôi không muốn và không dám cho em biết những gì tôi giữ trong lòng, để tôi cứ giữ kín nỗi buồn một mình; chỉ cần được nhìn thấy em bình yên, được thấy em cười, được ở gần em trong thinh lặng: vậy là đủ cho một trái tim yêu trong lặng lẽ. Tôi sẽ tiếp tục yêu Huy theo cách của riêng mình: kín đáo, dịu dàng, và vĩnh viễn không thành lời.

Huy không đẹp lộng lẫy lôi cuốn bao cặp mắt nhìn, nàng đẹp theo một cách rất riêng, rất hiền dịu, thứ sắc đẹp thấm vào lòng người ta như giọt mưa thấm vào đất khô cằn. Mỗi lần nàng cười, hai má lúm đồng tiền nhỏ xíu, xinh xắn đến nao lòng. Nụ cười ấy không rực rỡ như nắng, mà mềm như ánh trăng non, chỉ lần đầu nhìn thấy, tim tôi đã lạc nhịp.

Tôi đứng bên cuộc đời nàng bao năm, lặng lẽ, tử tế, chăm chút nàng từng điều nhỏ nhặt nhất, chỉ cần nàng vui là tôi vui; nhưng số phận chỉ để nàng tình cờ đi ngang đời tôi thoảng như cơn gió nhẹ mà để lại cho tôi một nỗi buồn rất sâu. Trái tim nàng không có ngăn nào để dành cho tôi.

Tôi hiểu, tình yêu đơn phương cũng có vẻ đẹp riêng của nó, không cần được đáp lại để tồn tại, chỉ cần một trái tim đủ kiên nhẫn để giữ gìn, đủ can đảm để chấp nhận rằng đôi khi, yêu một người chính là đứng phía sau ánh sáng của họ, lặng lẽ và chân thành.
 
oOo
 
Tên tôi nghe giống như tên của một đứa con trai, nhưng tôi lại là một đứa con gái nhút nhát, hay mắc cỡ, có phần hơi khép kín và thích chơi một mình. Sau này ba má tôi hay nhắc lại, khi mới chào đời, tôi trông xấu lắm, đầu trọc lóc, không có nhiều tóc, không giống con gái tí nào. Vì thế ông bà đặt cho tôi cái tên nghe rất là con trai: Huy.

Nhưng càng lớn tôi càng xinh đẹp hơn. Tuổi trăng rằm, cái tuổi mà lòng tôi vẫn còn trong veo như giọt sương mai long lanh trên cành lá. Con đường hẻm nhỏ dẫn về nhà tôi, trong ánh nắng chiều oi ả tiếng ve sầu, dù không để ý, tôi vẫn biết có những bước chân im lặng, nhẹ nhàng của những đứa con trai lẽo đẽo theo sau, họ lặng lẽ như những cái bóng, chỉ sợ một tiếng động sẽ làm vỡ tan cái cảm giác mong manh được nhìn thấy tà áo dài trắng trong mơ; để rồi dừng lại, lén nhìn khi tôi đẩy cánh cổng nhỏ bước vào khoảng sân rực rỡ hoa Giấy trước sân nhà.

Trong lớp học, tôi thường thả hồn bay cao ra ngoài khung cửa sổ, ánh nắng buổi sớm đậu lại trên tóc tôi, khiến những sợi tơ mềm ánh lên mầu mật ong dịu nhẹ. Tôi vô tình không biết bao đứa bạn trai cùng lớp mãi ngắm nhìn quên cả nghe giảng bài; nhiều lần, tiếng phấn lách cách trên bảng đen cũng chợt ngừng lại, một ánh nhìn lỡ nhịp, một giây ngẩn ngơ rồi vội vàng quay đi của người thày giáo trẻ.

Tôi vẫn hồn nhiên như cánh hoa mới nở, trong tâm hồn trong trắng ấy, tình yêu vẫn là một điều gì đó mơ hồ như mây trời cuối hạ; mỗi buổi tan trường, con đường quen thuộc lại dài hơn với những bước chân lặng lẽ phía sau, và mỗi sáng đến lớp, những ánh mắt vụng về lại bối rối quay đi.

Trong sự bình yên, tràn đầy hạnh phúc tuổi hoa niên, tôi chưa bao giờ có một ước mơ bình thường như những đứa con gái cùng trang lứa; tôi vẫn tìm kiếm một điều gì đó có thể đánh thức trong tôi niềm say mê khó gọi thành tên. Tôi dịu dàng, nhưng lại không rung động trước những lời nói hoa mỹ, không thích những bài thơ tình kẹp trong trang giấy học trò thơm mùi lá Thuộc Bài, không hay nghe những tình khúc “Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ, chim non giấu mỏ, dưới cội hoa vàng.” của nhà thơ Phạm Thiên Thư, Phạm Duy phổ nhạc.

Trái tim tôi, tựa như cánh cửa khép hờ trước cơn gió nhẹ, chỉ thực sự mở ra khi một bình minh ngày mới, với tia nắng ấm áp cuộn trào sức sống mãnh liệt có thể tràn vào.

Tôi yêu một hình ảnh nam nhi lãng mạn, trong sáng, hào hùng pha chút mạo hiểm, và có thể chở che người con gái mình yêu. Tôi thích mẫu người đàn ông từng trải, gai góc, gương mặt phong sương, vết sẹo mờ nơi khóe mắt, có chút máu giang hồ, lãng tử; tôi tin đằng sau những vết hằn cuộc đời in trên gương mặt họ, là những ước mơ cháy bỏng mà tôi vẫn giữ kín cho riêng tôi, một khao khát phiêu lưu, tung cánh bay vào trời
 
oOo
 
Số phận đưa chúng tôi đi trên hai con đường song song với nhau, tưởng sẽ không chung một đích đến, nhưng đoạn cuối con đường, số phận nghiệt ngã đưa chúng tôi gặp lại nhau. Bao năm trôi qua, tôi đã tưởng trái tim mình đã ngủ yên, tình cảm tôi với nàng dù không thành nhưng vẫn theo tôi suốt một đời. Tôi trở về Việt Nam. Tôi kiếm về thăm Huy ở Thủ Đức. Tôi hẹn gặp Điệp, em gái của Huy ở một tiệm cà phê vắng khách trước khi tìm gặp nàng.

Ngày còn ở Mỹ, qua một người quen, tôi hay tin về Huy. Nàng hiện đang bệnh rất nặng và sống nghèo khổ ở Thủ Đức, nơi căn nhà cũ của cha mẹ mình, cùng đứa em gái và đứa con trai của Huy, đã trưởng thành. Cha mẹ nàng qua đời khá lâu, chỉ còn ba bóng hình âm thầm sống trong căn nhà cũ kỹ, bức tường rêu phong, loang lổ như chính thân phận của những con người trong căn nhà, trong thời cuộc này.

Tôi vẫn nhớ đôi má lúm đồng tiền ấy đến day dứt. Nhớ nụ cười khiến tôi vừa hạnh phúc, vừa đau đớn. Có lẽ, suốt đời tôi đã yêu trong thầm lặng như thế này. Nhưng dù không nói thành lời, tình cảm ấy vẫn sống trong từng nhịp thở của tôi, mãnh liệt, dai dẳng, và khắc khoải như chính cuộc đời sau năm 1975: nghèo khổ mà kiên cường, đau đớn mà vẫn khát khao yêu thương.

Điệp kể tôi nghe về cuộc đời đầy nước mắt của chị mình, bắt đầu từ sau khi tôi đã vượt biển ra nước ngoài:

Ngày đó, mỗi lần buồn vui, Huy đều đến tìm tôi để thổ lộ tâm sự vì tôi biết lắng nghe nàng và đưa ra những lời khuyên rất chân tình.  Điệp biết tôi yêu Huy nhưng không dám nói, Điệp là chứng nhân duy nhất hiểu mối tình câm lặng tôi dành cho Huy dù nhiều lần Điệp đã khéo léo tỏ tình với tôi mà tôi vẫn không muốn biết vì tim tôi đã thuộc về Huy.

Chuyện là tôi và Ninh, thằng bạn thân, cả hai đều thích Huy và muốn tán tỉnh nàng. Tôi thầm lặng và không một xu dính túi, nên mặc cảm; Ninh lại gàn dở như một triết gia. Nó con nhà giàu ở thành phố về, thường dẫn tôi và Huy đi cà phê, và lúc nào nó cũng là người trả tiền. Tôi tin rằng nó là một đối tượng mà các cô gái đều yêu thích trong thời buổi khốn cùng sau năm 1975. Huy chắc cũng không ngoại lệ.

Nhưng trớ trêu thay, Huy không yêu đứa nào trong hai thằng tôi, Huy yêu Lâm, đứa em trai út của Ninh, thằng nhóc này có máu giang hồ, thua chúng tôi 6 tuổi và nhỏ hơn Huy 3 tuổi. Trong một dịp, Lâm từ thành phố, phải trốn về đây vì nó chơi dao và đâm một tay anh chị nào đó trọng thương. Công an đang truy nã gắt gao, nên nó phải lánh về nơi đây, chờ tình hình lắng dịu.

Chẳng hiểu bằng cách nào mà hai đứa nó vừa gặp nhau, đã yêu nhau. Trong thời gian đó, hai đứa biến đi đâu mất một thời gian ngắn khiến chúng tôi hoang mang. Tôi lo lắng cho em thật nhiều. Hỏi Điệp, Điệp lắc đầu không biết; đến nhà ba má nàng, họ cũng đang cuống cuồng đi kiếm. Rồi hai đứa lại trở về bình an như không có gì xảy ra. Tôi hỏi. Huy nói không có gì, chỉ đi là một chuyến đi xa ngẫu hứng.

Một hôm, Ninh cho tôi hay ba má nó đang lo đường vượt biển cho cả gia đình. Nó dặn dò tôi giữ kín vì nó cũng không rõ ngày nào sẽ khởi hành. Cho đến một ngày, nó không trở lại gặp tôi, tôi hiểu; lần lượt anh chị em nó đều biến mất, ba má nó đi chuyến sau cùng. Tôi ở lại, lòng trống rỗng, buồn ghê gớm, tủi phận nghèo. Huy lại càng buồn hơn. Mây đen như phủ kín đôi mắt trong veo ngày nào của em.

Rồi tôi cũng xoay sở tìm đường. Tôi rủ Huy theo, có một chỗ cho nàng, tôi hứa sẽ bảo bọc cho nàng khi qua đến bến bờ tự do. Sau nhiều ngày suy nghĩ đắn đo, Huy cho tôi hay nàng đã mang trong mình đứa con của Lâm, nàng cám ơn tình cảm đặc biệt tôi dành cho nàng, nhưng nàng không thể lợi dụng tôi để làm nhịp cầu qua bên kia. Nàng tâm sự, Lâm có hứa sẽ bảo lãnh nàng và con khi ổn định cuộc sống nơi xứ người.

Thời gian qua mau, tôi có cuộc sống riêng của mình bên kia bờ đại dương. Tôi quên dần những kỷ niệm, quên mối tình của tôi với nàng. Tôi không hề biết gì về cuộc đời của Huy. Tôi không hề hay nàng đang chật vật với đứa con bị bỏ rơi, lo vất vả mưu sinh hằng ngày, chỉ im lặng gánh lấy phận mình như bao phụ nữ khác trong thời buổi khốn cùng.

Bằng giọng nghẹn ngào, Điệp tiếp tục câu chuyện về Huy. Nàng đã đi qua nhiều cuộc tình. Không phải vì buông thả, mà vì nàng mệt mỏi, cô độc, và khao khát được nương tựa vào một bờ vai nào đó giữa cuộc đời bấp bênh. Nhưng số phận đã không thương nàng, con vi khuẩn thời đại tìm đến.

Khi gặp lại Huy, tôi bàng hoàng, suýt nữa không nhận ra nàng. Dung nhan dịu dàng năm xưa vẫn còn đó, nhưng như một bông hoa đã bị gió mưa quật ngã tơi bời. Đôi má lúm đồng tiền không còn hiện rõ mỗi khi nàng cười; nụ cười giờ mỏng manh như khói. Làn da nàng nhợt nhạt, ánh mắt sâu hơn, buồn hơn, như chứa cả một biển ký ức lặng lẽ chìm sâu trong đáy mắt nàng. Vóc dáng nàng hao dần như ngọn đèn dầu cạn bấc.

Huy ngồi bên cửa sổ, nhìn ra khoảng trời xám, một tay đặt lên thành cửa, một tay hờ hững trên đùi. Tôi đứng ngoài hiên mà tim thắt lại. Tôi thấy rõ căn bệnh thế kỷ đang gặm nhấm nàng từng ngày, không ồn ào, dữ dội, chỉ âm thầm bào mòn sức sống như dòng nước lặng mài mòn tảng đá.

Mỗi lần ho nhẹ, nàng quay mặt đi, trán hơi nhăn lại vì đau, nhưng trong ánh mắt nàng, vẫn còn sự dịu dàng không mất đi, chỉ lắng sâu lại.

Tôi không dám đến gần hơn. Tôi sợ làm nàng buồn. Tôi sợ chính mình không chịu nổi khi nhìn người tôi từng yêu đang dần tàn úa như chiếc lá cuối thu. Nàng ngước lên nhìn tôi, má lúm đồng tiền vẫn còn đó, và nụ cười vẫn hiền dịu đến xót xa. Tôi đứng lặng rất lâu như tượng đá, thấy rõ thời gian đang âm thầm đem nàng ra đi khỏi thế giới này.

Đêm đó trở về, tôi không ngủ. Tôi nghĩ về Huy, về cô gái tôi từng yêu tha thiết với hai lúm đồng tiền ngày nào, về mối tình câm nín đã trôi xa, về người mẹ lặng lẽ ôm con trong căn nhà cũ, về số phận sao quá nghiệt ngã với nàng.

Tôi ước gì ngày xưa mình đủ can đảm để nói một lời, ước gì mình không nghèo, không yếu đuối, không im lặng, ước gì tôi có thể bảo bọc nàng khỏi tất cả những bão tố ấy. Nếu không có những khúc quanh trong cuộc đời và tôi đừng bỏ đi xa. Hằng ngàn câu hỏi mà không có câu trả lời khiến tôi trăn trở suốt đêm. Giờ chỉ còn niềm đau thương, khắc khoải về người con gái một thời tôi yêu mà cuộc đời đã quá đỗi bạc bẽo.

Tôi trở lại một lần nữa, không dám đối diện nàng, tôi gặp riêng Điệp, tận tay trao nàng một số tiền, dặn dò Điệp cố gắng săn sóc cho Huy trong những ngày còn lại, bắt Điệp phải hứa cho tôi hay về sức khỏe của Huy thường xuyên. Hai anh em ôm nhau, mắt rưng rưng lệ. Tôi về lại Mỹ, tiếp tục cuộc sống của mình, lòng dằn vặt, rối bời một cảm giác không yên.

Hơn một năm sau, tôi nhận thư của Điệp, vỏn vẹn vài giòng ngắn ngủi: “Huy bỏ nhà đi mất rồi. Không ai biết đi đâu. Đêm trước, chị ngồi ở cái bàn giữa nhà, ngọn đèn vàng hắt bóng chị lên tường. Chị ngồi đó bất động thật lâu, lâu hơn mọi ngày. Sáng ra, không thấy chị thức giấc như thường lệ, em vén màn, nhìn vào giường, chăn gối vẫn còn nguyên nếp gấp, không có dấu vết gì là chị đã nằm đây đêm qua”.
 
NGUYỄN VĂN TỚI. 2026
 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Câu chuyện ngày nay kể về một chuyện ngày xưa, một ngày của thuở hồng hoang loài người; hằng triệu năm trước, khi một mảnh đất trên địa cầu, sau cơn địa chấn, tách ra và trôi dạt về phương Nam, ngày càng xa thẵm và nó trôi đến phía cực Nam của trái đất, dừng lại một nơi chốn tận cùng, rồi một biên giới được dựng lên bởi bức tường Băng Tuyết vĩnh viễn. Trên mảnh đất xa xôi, ngàn năm cô đơn ấy, một loài chim Cánh Cụt ríu rít sống bên nhau, yêu thương che chở nhau cho đến chết vì nhau.
Lúc tôi đậu thanh lọc, được chuyển từ trại “cấm” sang trại tự do, tinh thần vui vẻ, tôi không có ý định tiếp tục công việc ở post office mà muốn thử công việc mới, làm thiện nguyện 3 jobs không hề mệt mỏi . Sáng sớm dạy lớp English Vỡ Lòng cho người lớn tuổi tại trường ESL, sau đó chạy “show” qua trường Việt Ngữ dạy Tiếng Việt cho các em nhỏ, và thời gian còn lại trong ngày làm việc là dành cho Văn Phòng Cao Ủy Định Cư.
Tôi đang đổ xăng, bỗng có người thanh niên tiến đến nên tôi cảnh giác xem anh ta muốn gì? Anh ấy không có thái độ gây hấn hay gì hết, ngược lại là nụ cười xã giao dễ mến và và hành lễ khoanh tay là điều đã hiếm thấy ở giới trẻ Việt trên nước Mỹ bây giờ.
Nhân tuần lễ kỷ niệm 49 ngày Khánh Trường rời cuộc thế gian, tờ Ngôn Ngữ số đặc biệt tháng Hai dành trọn số báo tưởng niệm người họa sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà báo tài hoa Khánh Trường, do nhà thơ Luân Hoán và bạn hữu nhóm Ngôn Ngữ ưu ái thực hiện. Mời đọc bài viết của Trần Yên Hòa trích nhà phê bình văn học Thụy Khuê như một nén nhang tưởng nhớ người họa sĩ/nhà văn tài hoa.
Có thể nói cuộc đời của những du học sinh thời VNCH như tôi trải qua khá nhiều truân chuyên từ dạo ấy, sau tháng Tư đen 1975, từ khi cộng sản Bắc Việt thống trị Nam Việt Nam. Khác với quyết định đi tìm Tự Do, đi tìm sự sống trên cái chết qua hình thức vượt biên vượt biển của đồng hương sau 1975, chúng tôi may mắn hơn, đơn thuần chỉ phải chọn lựa một trong hai: về Việt Nam hay ở lại nước ngoài. Nếu quyết định về VN thì phải cúi đầu phục tùng nhóm sinh viên đoàn kết và toà đại sứ Việt Cộng. Còn ngược lại nếu quyết định ở lại nước ngoài thì phải chấp nhận xa quê hương, xa gia đình, bạn bè anh em và không biết khi nào mới gặp lại!
Văn hóa phương Tây, rắn vừa là biểu tượng trong lĩnh vực y khoa vừa là nguồn cảm hứng trong hội họa, kiến trúc và văn học. Văn hóa Hy Lạp bắt nguồn từ vị thần cổ đại Hermes, sứ giả của các vị thần. Thần Esculape được coi là ông tổ của ngành y dược. Biểu tượng của Tổ Chức Y Tế Thế Giới WHO (World Health Organization) con rắn quấn quanh cây gậy Esculape cầm. Cục Quân Y VNCH có thêm đôi cánh trên thanh kiếm.
Hồi năm sáu tuổi tôi vẫn hay theo chúng bạn ra chơi trước đình làng Thanh Thủy. Nơi đó có mấy cây sanh cổ thụ rất lớn luôn tỏa bóng râm mát mẻ cả đoạn đường bến chạy qua làng. Bên kia con đường bến là hồ Vọng Nguyệt, một cái hồ trông như vuông vức, rộng chừng nửa mẫu tây, dân địa phương vẫn quen gọi là hồ làng...
Phải chi khách đến thăm vườn hồng hơn trăm giống quý đủ màu sắc của ông Chu hằng ngày là khách mua hoa thì chắc thu nhập của gia đình ông đỡ hơn. Ông nghèo, nhưng cái máu nghệ sĩ của ông lại mạnh mẽ hơn chuyện tiền bạc, lại gặp bà vợ hết mực chiều chồng, nên cứ nghe đâu có giống hồng lạ là bằng mọi cách phải có cho bằng được. Năm ba ký gạo đắp đổi hằng ngày đã khó, mà có những giống người ta đổi cả tấn lúa ông cũng lắc đầu.
Không nhớ từ bao giờ đã không còn ngồi xuống bàn trà, tay bốc miếng mứt hạt sen bỏ vô miệng, vị ngọt tươm ra không quá gắt như ăn miếng mứt bí, vị ngọt nhẹ, thanh, kích thích vị giác bởi hương sen quyện ngọt điệu đà, tới khi nhai cái hạt sen đã ấm ấm trong miệng nên không còn cứng cũng không quá mềm như khoai lang luộc. Độ dẻo của hạt sen khi đã sên mứt rất mê hoặc và cũng đâu có gì vội để nuốt đi cho mau, cứ ngậm mà nghe hương vị đất trời tinh khiết của hương sen xông lên khoang mũi làm cho người thưởng thức lâng lâng cảm giác xuân đã về. Có thể nói món gì có hạt sen góp mặt cũng ngon như món vịt tiềm có nhân bên trong là thịt bằm, nấm mèo, táo tàu, gia vị nhiều thứ, nhưng những hạt sen luôn khêu gợi những đôi đũa gắp vì hấp dẫn và ngon lạ miệng. Nhưng đã nhiều năm không ăn mứt hạt sen sao vẫn nhớ khá rõ hương vị độc đáo của hạt sen trong món ngọt ăn chơi ngày tết, hay món mặn ăn tiệc đều ngon.
Cậu Hà người Bắc di cư năm 1954, cậu di cư có một thân một mình khi còn trẻ, nên cậu cũng không có nhiều phương tiện được học hành nhiều. Khi lớn lên ở miền Nam, lối chừng 19, 20 tuổi khoảng năm 1965-1966, cậu từ giã học đường đăng lính, cậu đi lính Việt Nam Cộng Hòa ngành Biệt Động Quân. Sau chuyển qua Thám Báo. Cậu đóng quân như ở miền đồng ruộng, lúc bấy giờ còn loáng thoáng xa xa, ít dân cư, tiếp giáp một bên Đồng Ông Cộ, miệt Gò Vấp, Gia Định.
Chị nhớ lại, vào một buổi sáng ngày cuối tháng 1 năm 1973, khi Chị đi lấy bản tin ở bên Macv về cho AP, chị thấy sao hôm nay văn phòng đông thế. Ký giả của AP và cả của NBC News bên cạnh cũng chạy qua chạy lại, Chị nghe ông chánh văn phòng nói: Viêt Nam sắp ngưng bắn rồi, sắp hòa bình rồi…” Văn phòng Associated Press xôn xao, từ ông chánh văn phòng đến các ký giả, nhân viên của AP đều hứng khởi với cái tin “Nóng bỏng” này. Chị thấy các phóng viên của các hãng thông tấn, hãng truyền hình ngoại quốc chạy hối hả sang nhau và chạy qua cả đài phát thanh Quân Đội Việt Nam để cập nhật tin tức viết bài…
Chị đi bằng xe hàng. Là dân Đà Lạt gốc Huế nên chị gọi xe đò là “xe hàng”. Đi xe hàng, tức là xe đò, là xe chở người và cả hàng chứ không chở riêng hàng. Tiếng Việt hay như vậy đó! Đến Gò Công rồi đi xe lam vào Đồng Nguơn. Ấp Đồng Nguơn. Không phải đây là lần đầu tiên chị được thấy cảnh đồng quê. Đồng quê miền nam hầu như đâu đâu cũng giống nhau. Nhưng có đi nhiều mới thấy mỗi nơi có một chút khác. Phải thế không? Hay chính là cảm giác của chị mỗi lần một khác?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.