Hôm nay,  

HUY

06/03/202600:00:00(Xem: 328)

Huy
Minh họa Đinh Cường  
  
Có những tình cảm không cần nói thành lời mà vẫn hiện hữu rất rõ trong tim. Có những tình yêu lặng lẽ, rất âm thầm nhưng vô cùng mãnh liệt. Tôi yêu em như thế, yêu theo cách lặng lẽ nhất mà một người có thể yêu; có lẽ và sẽ chẳng bao giờ em biết được những gì tôi giữ trong lòng.

Huy đến trong đời tôi như một làn gió mát giữa trưa hè, không ồn ào, không phô trương, nhưng khiến tôi xao động đến tận tâm đáy tâm hồn. Em có nụ cười dịu dàng, ánh mắt trong trẻo như mặt nước hồ thu, và giọng nói nhỏ nhẹ như tiếng chuông khẽ vang trong buổi chiều tĩnh lặng. Mỗi lần nhìn em lặng lẽ ngắm mưa ngoài cửa sổ, mái tóc nhẹ bay, lòng tôi lại dâng lên một cảm giác yêu thương ngập tràn.

Tôi giữ tình cảm ấy cho riêng mình, như giữ một bí mật thiêng liêng. Không phải vì tôi sợ bị từ chối, mà vì tôi sợ làm xáo động thế giới yên bình của em và tôi. Tôi sợ rằng một lời thú nhận vụng về sẽ khiến nụ cười ấy vụt tắt, khiến ánh mắt trong veo kia trở nên xa lạ. Dù sao, tình yêu của tôi với Huy lúc nào cũng như dòng nước ngầm chảy sâu dưới lòng đất, âm thầm nhưng bền bỉ.

Tôi không muốn và không dám cho em biết những gì tôi giữ trong lòng, để tôi cứ giữ kín nỗi buồn một mình; chỉ cần được nhìn thấy em bình yên, được thấy em cười, được ở gần em trong thinh lặng: vậy là đủ cho một trái tim yêu trong lặng lẽ. Tôi sẽ tiếp tục yêu Huy theo cách của riêng mình: kín đáo, dịu dàng, và vĩnh viễn không thành lời.

Huy không đẹp lộng lẫy lôi cuốn bao cặp mắt nhìn, nàng đẹp theo một cách rất riêng, rất hiền dịu, thứ sắc đẹp thấm vào lòng người ta như giọt mưa thấm vào đất khô cằn. Mỗi lần nàng cười, hai má lúm đồng tiền nhỏ xíu, xinh xắn đến nao lòng. Nụ cười ấy không rực rỡ như nắng, mà mềm như ánh trăng non, chỉ lần đầu nhìn thấy, tim tôi đã lạc nhịp.

Tôi đứng bên cuộc đời nàng bao năm, lặng lẽ, tử tế, chăm chút nàng từng điều nhỏ nhặt nhất, chỉ cần nàng vui là tôi vui; nhưng số phận chỉ để nàng tình cờ đi ngang đời tôi thoảng như cơn gió nhẹ mà để lại cho tôi một nỗi buồn rất sâu. Trái tim nàng không có ngăn nào để dành cho tôi.

Tôi hiểu, tình yêu đơn phương cũng có vẻ đẹp riêng của nó, không cần được đáp lại để tồn tại, chỉ cần một trái tim đủ kiên nhẫn để giữ gìn, đủ can đảm để chấp nhận rằng đôi khi, yêu một người chính là đứng phía sau ánh sáng của họ, lặng lẽ và chân thành.
 
oOo
 
Tên tôi nghe giống như tên của một đứa con trai, nhưng tôi lại là một đứa con gái nhút nhát, hay mắc cỡ, có phần hơi khép kín và thích chơi một mình. Sau này ba má tôi hay nhắc lại, khi mới chào đời, tôi trông xấu lắm, đầu trọc lóc, không có nhiều tóc, không giống con gái tí nào. Vì thế ông bà đặt cho tôi cái tên nghe rất là con trai: Huy.

Nhưng càng lớn tôi càng xinh đẹp hơn. Tuổi trăng rằm, cái tuổi mà lòng tôi vẫn còn trong veo như giọt sương mai long lanh trên cành lá. Con đường hẻm nhỏ dẫn về nhà tôi, trong ánh nắng chiều oi ả tiếng ve sầu, dù không để ý, tôi vẫn biết có những bước chân im lặng, nhẹ nhàng của những đứa con trai lẽo đẽo theo sau, họ lặng lẽ như những cái bóng, chỉ sợ một tiếng động sẽ làm vỡ tan cái cảm giác mong manh được nhìn thấy tà áo dài trắng trong mơ; để rồi dừng lại, lén nhìn khi tôi đẩy cánh cổng nhỏ bước vào khoảng sân rực rỡ hoa Giấy trước sân nhà.

Trong lớp học, tôi thường thả hồn bay cao ra ngoài khung cửa sổ, ánh nắng buổi sớm đậu lại trên tóc tôi, khiến những sợi tơ mềm ánh lên mầu mật ong dịu nhẹ. Tôi vô tình không biết bao đứa bạn trai cùng lớp mãi ngắm nhìn quên cả nghe giảng bài; nhiều lần, tiếng phấn lách cách trên bảng đen cũng chợt ngừng lại, một ánh nhìn lỡ nhịp, một giây ngẩn ngơ rồi vội vàng quay đi của người thày giáo trẻ.

Tôi vẫn hồn nhiên như cánh hoa mới nở, trong tâm hồn trong trắng ấy, tình yêu vẫn là một điều gì đó mơ hồ như mây trời cuối hạ; mỗi buổi tan trường, con đường quen thuộc lại dài hơn với những bước chân lặng lẽ phía sau, và mỗi sáng đến lớp, những ánh mắt vụng về lại bối rối quay đi.

Trong sự bình yên, tràn đầy hạnh phúc tuổi hoa niên, tôi chưa bao giờ có một ước mơ bình thường như những đứa con gái cùng trang lứa; tôi vẫn tìm kiếm một điều gì đó có thể đánh thức trong tôi niềm say mê khó gọi thành tên. Tôi dịu dàng, nhưng lại không rung động trước những lời nói hoa mỹ, không thích những bài thơ tình kẹp trong trang giấy học trò thơm mùi lá Thuộc Bài, không hay nghe những tình khúc “Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ, chim non giấu mỏ, dưới cội hoa vàng.” của nhà thơ Phạm Thiên Thư, Phạm Duy phổ nhạc.

Trái tim tôi, tựa như cánh cửa khép hờ trước cơn gió nhẹ, chỉ thực sự mở ra khi một bình minh ngày mới, với tia nắng ấm áp cuộn trào sức sống mãnh liệt có thể tràn vào.

Tôi yêu một hình ảnh nam nhi lãng mạn, trong sáng, hào hùng pha chút mạo hiểm, và có thể chở che người con gái mình yêu. Tôi thích mẫu người đàn ông từng trải, gai góc, gương mặt phong sương, vết sẹo mờ nơi khóe mắt, có chút máu giang hồ, lãng tử; tôi tin đằng sau những vết hằn cuộc đời in trên gương mặt họ, là những ước mơ cháy bỏng mà tôi vẫn giữ kín cho riêng tôi, một khao khát phiêu lưu, tung cánh bay vào trời
 
oOo
 
Số phận đưa chúng tôi đi trên hai con đường song song với nhau, tưởng sẽ không chung một đích đến, nhưng đoạn cuối con đường, số phận nghiệt ngã đưa chúng tôi gặp lại nhau. Bao năm trôi qua, tôi đã tưởng trái tim mình đã ngủ yên, tình cảm tôi với nàng dù không thành nhưng vẫn theo tôi suốt một đời. Tôi trở về Việt Nam. Tôi kiếm về thăm Huy ở Thủ Đức. Tôi hẹn gặp Điệp, em gái của Huy ở một tiệm cà phê vắng khách trước khi tìm gặp nàng.

Ngày còn ở Mỹ, qua một người quen, tôi hay tin về Huy. Nàng hiện đang bệnh rất nặng và sống nghèo khổ ở Thủ Đức, nơi căn nhà cũ của cha mẹ mình, cùng đứa em gái và đứa con trai của Huy, đã trưởng thành. Cha mẹ nàng qua đời khá lâu, chỉ còn ba bóng hình âm thầm sống trong căn nhà cũ kỹ, bức tường rêu phong, loang lổ như chính thân phận của những con người trong căn nhà, trong thời cuộc này.

Tôi vẫn nhớ đôi má lúm đồng tiền ấy đến day dứt. Nhớ nụ cười khiến tôi vừa hạnh phúc, vừa đau đớn. Có lẽ, suốt đời tôi đã yêu trong thầm lặng như thế này. Nhưng dù không nói thành lời, tình cảm ấy vẫn sống trong từng nhịp thở của tôi, mãnh liệt, dai dẳng, và khắc khoải như chính cuộc đời sau năm 1975: nghèo khổ mà kiên cường, đau đớn mà vẫn khát khao yêu thương.

Điệp kể tôi nghe về cuộc đời đầy nước mắt của chị mình, bắt đầu từ sau khi tôi đã vượt biển ra nước ngoài:

Ngày đó, mỗi lần buồn vui, Huy đều đến tìm tôi để thổ lộ tâm sự vì tôi biết lắng nghe nàng và đưa ra những lời khuyên rất chân tình.  Điệp biết tôi yêu Huy nhưng không dám nói, Điệp là chứng nhân duy nhất hiểu mối tình câm lặng tôi dành cho Huy dù nhiều lần Điệp đã khéo léo tỏ tình với tôi mà tôi vẫn không muốn biết vì tim tôi đã thuộc về Huy.

Chuyện là tôi và Ninh, thằng bạn thân, cả hai đều thích Huy và muốn tán tỉnh nàng. Tôi thầm lặng và không một xu dính túi, nên mặc cảm; Ninh lại gàn dở như một triết gia. Nó con nhà giàu ở thành phố về, thường dẫn tôi và Huy đi cà phê, và lúc nào nó cũng là người trả tiền. Tôi tin rằng nó là một đối tượng mà các cô gái đều yêu thích trong thời buổi khốn cùng sau năm 1975. Huy chắc cũng không ngoại lệ.

Nhưng trớ trêu thay, Huy không yêu đứa nào trong hai thằng tôi, Huy yêu Lâm, đứa em trai út của Ninh, thằng nhóc này có máu giang hồ, thua chúng tôi 6 tuổi và nhỏ hơn Huy 3 tuổi. Trong một dịp, Lâm từ thành phố, phải trốn về đây vì nó chơi dao và đâm một tay anh chị nào đó trọng thương. Công an đang truy nã gắt gao, nên nó phải lánh về nơi đây, chờ tình hình lắng dịu.

Chẳng hiểu bằng cách nào mà hai đứa nó vừa gặp nhau, đã yêu nhau. Trong thời gian đó, hai đứa biến đi đâu mất một thời gian ngắn khiến chúng tôi hoang mang. Tôi lo lắng cho em thật nhiều. Hỏi Điệp, Điệp lắc đầu không biết; đến nhà ba má nàng, họ cũng đang cuống cuồng đi kiếm. Rồi hai đứa lại trở về bình an như không có gì xảy ra. Tôi hỏi. Huy nói không có gì, chỉ đi là một chuyến đi xa ngẫu hứng.

Một hôm, Ninh cho tôi hay ba má nó đang lo đường vượt biển cho cả gia đình. Nó dặn dò tôi giữ kín vì nó cũng không rõ ngày nào sẽ khởi hành. Cho đến một ngày, nó không trở lại gặp tôi, tôi hiểu; lần lượt anh chị em nó đều biến mất, ba má nó đi chuyến sau cùng. Tôi ở lại, lòng trống rỗng, buồn ghê gớm, tủi phận nghèo. Huy lại càng buồn hơn. Mây đen như phủ kín đôi mắt trong veo ngày nào của em.

Rồi tôi cũng xoay sở tìm đường. Tôi rủ Huy theo, có một chỗ cho nàng, tôi hứa sẽ bảo bọc cho nàng khi qua đến bến bờ tự do. Sau nhiều ngày suy nghĩ đắn đo, Huy cho tôi hay nàng đã mang trong mình đứa con của Lâm, nàng cám ơn tình cảm đặc biệt tôi dành cho nàng, nhưng nàng không thể lợi dụng tôi để làm nhịp cầu qua bên kia. Nàng tâm sự, Lâm có hứa sẽ bảo lãnh nàng và con khi ổn định cuộc sống nơi xứ người.

Thời gian qua mau, tôi có cuộc sống riêng của mình bên kia bờ đại dương. Tôi quên dần những kỷ niệm, quên mối tình của tôi với nàng. Tôi không hề biết gì về cuộc đời của Huy. Tôi không hề hay nàng đang chật vật với đứa con bị bỏ rơi, lo vất vả mưu sinh hằng ngày, chỉ im lặng gánh lấy phận mình như bao phụ nữ khác trong thời buổi khốn cùng.

Bằng giọng nghẹn ngào, Điệp tiếp tục câu chuyện về Huy. Nàng đã đi qua nhiều cuộc tình. Không phải vì buông thả, mà vì nàng mệt mỏi, cô độc, và khao khát được nương tựa vào một bờ vai nào đó giữa cuộc đời bấp bênh. Nhưng số phận đã không thương nàng, con vi khuẩn thời đại tìm đến.

Khi gặp lại Huy, tôi bàng hoàng, suýt nữa không nhận ra nàng. Dung nhan dịu dàng năm xưa vẫn còn đó, nhưng như một bông hoa đã bị gió mưa quật ngã tơi bời. Đôi má lúm đồng tiền không còn hiện rõ mỗi khi nàng cười; nụ cười giờ mỏng manh như khói. Làn da nàng nhợt nhạt, ánh mắt sâu hơn, buồn hơn, như chứa cả một biển ký ức lặng lẽ chìm sâu trong đáy mắt nàng. Vóc dáng nàng hao dần như ngọn đèn dầu cạn bấc.

Huy ngồi bên cửa sổ, nhìn ra khoảng trời xám, một tay đặt lên thành cửa, một tay hờ hững trên đùi. Tôi đứng ngoài hiên mà tim thắt lại. Tôi thấy rõ căn bệnh thế kỷ đang gặm nhấm nàng từng ngày, không ồn ào, dữ dội, chỉ âm thầm bào mòn sức sống như dòng nước lặng mài mòn tảng đá.

Mỗi lần ho nhẹ, nàng quay mặt đi, trán hơi nhăn lại vì đau, nhưng trong ánh mắt nàng, vẫn còn sự dịu dàng không mất đi, chỉ lắng sâu lại.

Tôi không dám đến gần hơn. Tôi sợ làm nàng buồn. Tôi sợ chính mình không chịu nổi khi nhìn người tôi từng yêu đang dần tàn úa như chiếc lá cuối thu. Nàng ngước lên nhìn tôi, má lúm đồng tiền vẫn còn đó, và nụ cười vẫn hiền dịu đến xót xa. Tôi đứng lặng rất lâu như tượng đá, thấy rõ thời gian đang âm thầm đem nàng ra đi khỏi thế giới này.

Đêm đó trở về, tôi không ngủ. Tôi nghĩ về Huy, về cô gái tôi từng yêu tha thiết với hai lúm đồng tiền ngày nào, về mối tình câm nín đã trôi xa, về người mẹ lặng lẽ ôm con trong căn nhà cũ, về số phận sao quá nghiệt ngã với nàng.

Tôi ước gì ngày xưa mình đủ can đảm để nói một lời, ước gì mình không nghèo, không yếu đuối, không im lặng, ước gì tôi có thể bảo bọc nàng khỏi tất cả những bão tố ấy. Nếu không có những khúc quanh trong cuộc đời và tôi đừng bỏ đi xa. Hằng ngàn câu hỏi mà không có câu trả lời khiến tôi trăn trở suốt đêm. Giờ chỉ còn niềm đau thương, khắc khoải về người con gái một thời tôi yêu mà cuộc đời đã quá đỗi bạc bẽo.

Tôi trở lại một lần nữa, không dám đối diện nàng, tôi gặp riêng Điệp, tận tay trao nàng một số tiền, dặn dò Điệp cố gắng săn sóc cho Huy trong những ngày còn lại, bắt Điệp phải hứa cho tôi hay về sức khỏe của Huy thường xuyên. Hai anh em ôm nhau, mắt rưng rưng lệ. Tôi về lại Mỹ, tiếp tục cuộc sống của mình, lòng dằn vặt, rối bời một cảm giác không yên.

Hơn một năm sau, tôi nhận thư của Điệp, vỏn vẹn vài giòng ngắn ngủi: “Huy bỏ nhà đi mất rồi. Không ai biết đi đâu. Đêm trước, chị ngồi ở cái bàn giữa nhà, ngọn đèn vàng hắt bóng chị lên tường. Chị ngồi đó bất động thật lâu, lâu hơn mọi ngày. Sáng ra, không thấy chị thức giấc như thường lệ, em vén màn, nhìn vào giường, chăn gối vẫn còn nguyên nếp gấp, không có dấu vết gì là chị đã nằm đây đêm qua”.
 
NGUYỄN VĂN TỚI. 2026
 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hải đảo Ga Lang vào thời điểm 1978. Hải âu bay rợp trời. Cơm xấy, cá khô, đậu hộp và là những món ăn quen thuộc của người việt tị nạn trên đảo. Cứ đến giờ là mọi người xếp hàng đi ăn, có khi không phải là đói mà vì cả thói quen, kể cả thói quen chờ đợi, chờ đợi được làm giấy tờ. Chờ đợi được ra đi đến một quốc gia nào đó… Mỹ, Pháp, Úc, Đức… đâu cũng được thôi. Quê hương Việt Nam đã rời bỏ đi rồi, thì nổi trôi đến đâu bám tới đó...
Vài tháng nay rất nhiều bạn bè thân hữu, và nhiều sinh viên, học trò cũ, những người đã từng ngồi chung giảng đường với Nhà Tôi điện thoại hay điện thư hỏi thăm chúng tôi nhưng chúng tôi không đủ sức khỏe cũng như thì giờ để đáp lễ từng người xin Quý Vi thông cảm và vui lòng tha lỗi. Cũng xin hết lòng cảm ơn Giáo Sư Tiến Sĩ Tr. H. Bích, người rất uyên bác văn chương kim cổ đã có nhã ý muốn nhuận sắc bài viết, nhưng biết Ông rất bận rộn nên tôi không dám làm phiền Ông.
Lúc đầu tôi không biết chị bị bệnh tâm thần. Về sau tôi được nghe kể về cuộc đời của chị từ một người phụ nữ Việt Nam khác, tên Loan, đã sống ở đây nhiều năm. Nhưng những chi tiết về cuộc đời ấy hầu như ngay tức khắc trượt ra khỏi trí nhớ của tôi, tôi chỉ còn nhớ người phụ nữ mắc bệnh ấy sống ở thành phố này có lẽ ít nhất cũng hai mươi năm, nhiều người bảo chị khá đẹp khi còn trẻ, bây giờ nhìn cũng vẫn hình dung được điều đó...
Bầu không khí trong phòng giam lúc nào cũng ngột ngạt khó chịu. Nỗi khó chịu ấy cứ liên tục bao trùm đến nỗi mọi người phải quen đi như một lẽ tất nhiên. Tôi càng khổ sở hơn nhiều vì đã vướng phải bệnh ghẻ mấy tháng nay. Ghẻ mỗi ngày mỗi lan ra trên tấm thân gầy còm của tôi kéo theo luôn cả sự tàn tạ về sức khỏe. Mới vài hôm đây tôi lại mắc thêm chứng tê bại, cử động tay chân rất khó khăn. Thuốc men quá thiếu, ăn uống cũng quá thiếu, tình trạng chữa trị đối với tôi thật là bi quan...
Mùa xuân 2023. Ngoài chuyện nhớ lại mùa xuân cách nay 48 năm với “Tháng Ba Gãy Súng” (1) và “Tháng Tư Mất Nước” (2) tôi còn nhớ đến nhiều chuyện khác nữa, nhớ nơi tôi sinh ra, nhớ nơi tôi lớn lên và học hành, nhớ nơi tôi từng công tác, nhớ Sài Gòn, nhớ Đà Lạt, nhớ Nha Trang, nhớ Cần Thơ, nhớ An Giang, nhớ đèo Hải Vân, nhớ sông Vàm Cỏ…và nhớ nhớ nhiều lắm. Nằm trong bộ nhớ của tôi còn có rất nhiều người bạn – bạn thân – bạn rất thân nữa. Một người bạn rất thân là Nguyễn Đức Quang, cùng xứ, cùng trường, cùng chơi Hướng Đạo, cùng hát Du Ca…
Từ ngày ông bà cha mẹ rời miền Bắc 1954, mãi gần 70 năm sau, ngày 18 tháng hai, năm 2023, khi tôi cũng gần nửa đời người, mới lần đầu tiên được về thăm quê cha đất tổ. Đáp xuống sân bay Nội Bài vào xế trưa. Hà thành bận rộn đông đúc hơn là tôi đã mường tượng. Sau buổi chiều dạo quanh Hồ Tây, thăm các phố phường, thưởng thức vài đặc sản của Hà Nội, chúng tôi lên xe có giường nằm để ngủ qua đêm, bắt đầu cuộc hành trình trở về cội nguồn của… yêu thương. Xe chạy suốt đêm. Nhìn ra ngoài chỉ toàn một màu đen xen kẽ những chấm đèn vàng. Mọi người trên xe ai cũng có vẻ ngủ say,… Riêng tôi thì lòng lại cứ nôn nao bồi hồi khó tả!
Có thể nói ai cũng có lần nói lái ở trong đời, đôi lúc chỉ vô tình thôi. Nếu bạn buột miệng nói “đi giữa trời nắng cực quá” hoặc khi đèn điện không sáng mà bạn nói “điện sao lu quá chừng”, người nghe sẽ cho là bạn nói tục, có oan cũng đành chịu vì, dù bạn không cố ý nhưng nắng cực, điện lu nói lái nghe tục thật. Tương tự như thế, hãy cẩn thận đừng nói dồn lại, dồn lên, đồn láo, đồn lầm…
Không biết có phải do được học tập và làm việc trong môi trường lập trình điện toán nên tôi cứ nghĩ rằng mọi việc xảy ra trên thế gian này đều được an bài qua việc lập trình sẵn. Có người cho rằng sự lập trình sẵn này là định mệnh, là do ông trời sắp đặt hay do thượng đế an bài. Tuy nhiên, sau khi được tiếp cận với giáo lý nhà Phật, tôi cho rằng không ai lập trình sẵn cho cuộc đời mình, tất cả đều do nhân duyên.
Cách nay mười năm tôi có một chuyến sang Nhật Bản vào mùa xuân. Chọn đi vào dịp này là để xem anh đào ngoài chuyện viếng các thắng cảnh nổi tiếng như núi Phú Sĩ, Kim Các Tự, các đền đài, cổ thành, hào lũy… qua các thời trị vì của các tướng quân cũng như thăm một số thành phố như Tokyo, Kyoto, Kobe, Nagoya, Osaka…
Hễ mỗi lần nghe nói ai mới qua định cư xứ tự do, mà họ bày tỏ lòng biết ơn, cảm kích với quê hương thứ hai, tôi cũng thấy mát lòng mát dạ sao á!
Được biết đến nhiều nhất về một tiểu thuyết về chế độ nô lệ –Uncle Tom’s Cabin (Túp Lều của Chú Tom), xuất bản năm 1852 – tác giả Harriet Beecher Stowe, nhà văn người Mỹ gốc Âu tích cực ủng hộ chủ nghĩa bãi nô...
Thuở xưa, theo lệ thường, những cô gái được tuyển vào cung bao giờ cũng phải được các vị nữ quan hoặc các viên thái giám dạy dỗ qua một hai khóa về lễ nghi để biết phép tắc cư xử trong cung, để ôn lại bổn phận người đàn bà, v.v... Một phụ nữ từ dân giả được tuyển vào cung, dần leo lên tới địa vị quốc mẫu lẽ nào lại không trải qua những khóa giáo dục đó? Khi đã được giáo dục mà không chịu theo phép tắc, hành động vượt lễ nghi đến nỗi gây tai tiếng trong dân gian thì khó ai chấp nhận được. Những động lực thúc đẩy mấy người “đàn bà yếu đuối” ấy dám đạp đổ cả lễ nghi của triều đình thường là tình yêu, tình dục, lòng tham... Liệt kê những phụ nữ này vào hạng “lộng hành phép nước” chắc hẳn không oan!
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.