Hôm nay,  

Bên Kia

10/03/202602:57:00(Xem: 508)

Bên Kia 

Mưa xuống chậm.

Không phải kiểu mưa có gì để nói. Chỉ là mưa, đều, nhỏ, như thứ gì đã quyết định rơi và không còn lý do để dừng lại.

Tôi ngồi đây từ lúc nào không nhớ. Chiếc ghế mây - lưng tôi đã quen nó. Chăn đắp qua đầu gối không phải vì lạnh, chỉ vì có những thứ cần được phủ lên dù không biết để làm gì. Bàn tay tôi nằm trên đùi, hai bàn tay của người đã học cách không nắm chặt nữa, vì nắm chặt tốn sức mà sức thì không còn nhiều để tốn.

Hơi thở vào phải nhớ. Hơi thở ra thì tự đi.

Mùi đất bốc lên từ khu vườn nhỏ trước mặt, mùi kim loại loãng trong nước, mùi rêu bị đánh thức, mùi của những thứ sống dưới mặt đất đang nhận ra đây là lúc của chúng. Tôi ngồi hít mùi đó và không nghĩ gì. Không nghĩ không phải vì bình an. Là vì có những buổi chiều mà suy nghĩ trở thành việc quá lớn so với những gì còn lại trong người.

Rồi con cóc nhảy ra.

Nó chui lên từ khe gạch sát bồn hoa, chậm, như thể không phải nhảy mà được đất đẩy lên.

Tôi nhìn nó.

Da xù xì, sần, màu của bùn khô và rêu cũ. Không đẹp theo bất kỳ nghĩa nào người ta hay dùng chữ đẹp. Nhưng mưa rơi xuống lưng nó khác với mưa rơi xuống xi măng. Trên xi măng mưa vỡ ra và chảy đi. Trên lưng nó, từng giọt nằm lại một khoảnh khắc, như thể cần được hỏi xem có muốn vào không, rồi chậm chậm thấm xuống theo những rãnh nhỏ mà mắt thường không thấy.

Tôi từng đọc đâu đó rằng cóc uống nước qua da. Không có miệng uống. Không cần cúi xuống. Chỉ cần đứng trong mưa và để nước tự tìm đường vào. Da nó là cửa, là miệng, là phổi, là tất cả những gì cần thiết để tiếp nhận thứ trời cho.

Tôi nghĩ đến hai lá phổi của mình. Không phải bằng ngôn ngữ. Bằng cảm giác của chúng vào buổi sáng, nặng hơn buổi sáng trước một chút, nặng theo cách không đo được nhưng biết.

Con cóc không biết nó đang làm gì đẹp đến vậy.

Nó nhảy một cái, nhỏ, không đi đâu cả, chỉ để đặt chân xuống chỗ ướt hơn. Rồi đứng lại. Cái cổ họng phồng lên xẹp xuống theo nhịp mà tôi ngồi nhìn mãi không chán, không hiểu sao không chán. Có lẽ vì nhịp đó không hỏi gì. Không cần được kiểm tra, không cần được theo dõi, không cần kết quả để tiếp tục. Cứ phồng. Cứ xẹp. Cứ vậy.

Nó há miệng kêu một tiếng. Khàn, nhỏ, không vọng xa. Âm thanh đi được vài tấc rồi bị mưa nuốt mất. Nhưng nó đã kêu. Không phải để được nghe. Chỉ để rung lên trong chính lồng ngực nó, để cái rung đó xác nhận một điều gì đó mà không cần tên.

Tôi ngồi nghe tiếng kêu đó tan vào mưa và nghĩ, lờ mờ, có những thứ người ta làm không phải để đến đâu. Chỉ để làm. Chỉ để còn đang làm.


Bàn tay tôi trên đùi, không nắm, không buông, chỉ nằm.

Con cóc bắt đầu di chuyển về phía đường.

Từng cú nhảy ngắn, kiên nhẫn, như thể không gian trước mặt là thứ cần được thương lượng chứ không phải chinh phục. Nó dừng lại ở mép sân, nhìn qua bên kia đường, nơi có bãi cỏ hoang và mương nước đục mà từ đây tôi không thấy rõ nhưng biết là có.

Bên kia.

Tôi không biết bên kia với nó là gì. Không biết nó biết không. Có thể không có khái niệm bên kia trong người nó. Chỉ có mùi nước, mùi cỏ ướt, mùi của nơi da nó sẽ được thở đầy hơn. Cơ thể nó biết phải đi về hướng đó mà không cần hỏi tại sao, không cần biết có gì chờ, không cần tính xem đáng hay không đáng.

Tôi muốn nói với nó: ở đây thôi. Mưa bên này cũng vậy.

Nhưng tôi không nói. Vì biết nó không hiểu, và vì một phần rất nhỏ trong tôi nghĩ rằng có thể nó không cần hiểu, mới đúng.

Nó nhảy xuống đường.

Chiếc xe lao ra từ góc phố.

Không kịp nghĩ. Ánh đèn quét ngang, hắt lên lưng cóc một vệt sáng trắng chói rồi tắt ngay. Bánh xe lướt qua cách nó một gang tay, có thể chưa đến. Nước bắn tung, phủ kín thân hình nhỏ bé kia trong một giây.

Tôi không thở.

Tiếng xe mất dần về cuối phố. Mưa lại đều.

Con cóc đứng giữa đường, ướt hơn lúc nãy. Khựng lại đúng một nhịp, không hơn. Rồi tiếp tục nhảy.

Không ngoái lại. Không run. Không biết.

Nó không biết bánh xe vừa lướt qua. Không biết tôi vừa nín thở. Không biết khoảnh khắc đó tồn tại. Với nó, không có khoảnh khắc đó. Chỉ có mưa trước mặt, cỏ ướt bên kia, và da đang khát.

Nó nhảy thêm vài cái, dài hơn, về phía bãi cỏ hoang. Rồi biến mất giữa những thân cỏ tối. Chỉ còn vài vòng tròn nhỏ trên mặt nước mưa vừa tụ, lan ra, mờ dần, rồi mặt nước lại phẳng như chưa có con cóc nào từng đứng đó.

Tôi ngồi nhìn chỗ nó vừa mất đi.

Tay vẫn trên đùi. Chăn vẫn qua đầu gối. Hít vào vẫn phải nhớ, thở ra vẫn tự đi.

Ở đâu đó bên kia đường, trong bóng cỏ ướt, có một sinh vật nhỏ đang sống hoàn toàn, không thiếu một phần nào, không thừa một lo lắng nào.

Chỉ vậy thôi. Và chỉ vậy thôi đã là tất cả.

 

Tôi ngẩng mặt lên.

Để mưa rơi vào trán. Lạnh, nhỏ, không phân biệt.

Và trong khoảnh khắc đó, không từ đâu, một thứ gì đó bên trong tôi đặt xuống. Không phải vì xong. Không phải vì hiểu ra điều gì. Chỉ vì đã nắm lâu quá, tay mỏi, và mưa vẫn rơi.

Tôi ngồi đó và không nghĩ gì thêm nữa.

Chỉ ngồi.

Như con cóc đứng trong mưa.

Ngu Yên

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chúng tôi cũng đã đến rặng Thiên Sơn, như chàng chinh phu của Lê Thương nhưng ở phía bên này của miền Trung Á, xứ Kyrgyzstan. Không vất vả cưỡi ngựa hay lội bộ hàng năm trời, nhưng phải chuyển ba chuyến bay và mất gần 30 giờ. Từ Seattle, một thành phố ven biển Thái Bình Dương, phía Bắc nước Mỹ, chúng tôi bay qua New York, theo ngả Thổ Nhĩ Kỳ, chờ ở Istanbul khá lâu để bay tiếp đến thủ đô Bishkek của xứ Kyrgyzstan...
Dưới đây là hai phân đoạn trong cuốn tiểu thuyết “Đường về thủy phủ” của nhà văn Trịnh Y Thư, với bối cảnh là cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Với phong cách viết phân mảnh thành từng khối của nhà văn, độc giả có thể đọc hai phân đoạn này như một truyện ngắn. Việt báo trân trọng giới thiệu.
Tạ Đình Tới kết hôn với chị Nghiêm Thị Bình đã được hơn mười năm. Anh là một công chức. Chị làm nhân viên bưu điện thành phố. Anh chị có với nhau bốn đứa con ba gái, một trai, đủ nếp đủ tẻ...
Làm thế nào để giải nghĩa về cái chết? Những điều nằm bên ngoài tất cả mọi sự hiểu biết của nhân gian, nhưng lại nằm bên trong những bí ẩn muôn đời của vị Thượng Đế ở mãi trên trời cao kia. Lại càng không thể bàn tán gì, khi cơn đau ốm, bịnh hoạn đó đang không phải là của chính mình...
Trời đã xế chiều, chúng tôi cũng chuẩn bị trở về Hà Nội. Vừa ra khỏi cổng thành Cổ Loa, Thi xuống xe và sà ngay vào một quán bên đường mua mấy cái bánh gai gói bằng lá chuối khô được xâu vào với nhau bằng sợi lạt. Thi nói mua về để tối nay ra sân ăn bánh, uống trà...
Ông cụ Hồi mở cửa tiễn khách. Cũng là bạn hàng xóm thôi, nhưng gần nhà mà xa cửa ngõ. Hai khu vườn đâu lưng, cửa ngoài thì nằm ở hai con đường khác, đi bộ cũng mất mười lăm phút. "Bác về nghe. Khi rảnh sang chơi." "Lóng rày hai cái chưn tui yếu lắm rồi bác. Muốn nhờ con cháu nó đưa đi thì sợ phiền bác ơi. Mình qua đây nó khác bển nhiều lắm."
Gần năm giờ chiều Nghi đã nghe nóng ruột. Thời gian ở đây chậm như con rùa bò, Nghi nhìn lên tường nơi có treo cái đồng hồ to tướng, những cây kim như đứng lại. Nghi nhớ lời hẹn hò với Hường trước khi anh đi làm, sáu giờ rưỡi gặp em nghe, sáu giờ rưỡi anh đi làm về là gặp em liền, đợi anh về ăn cơm với em...
Cuối tháng mười đất trời phương ngoại vàng lên rực rỡ, muôn sắc màu nhuộm thắm cỏ cây. Những mảng màu đẹp không sao tả nổi, những buổi hoàng hôn càng làm cho sắc màu đã đẹp lại càng đẹp hơn. Đi dưới tán lá rừng rực rỡ, những khoảng trống bên trên long lanh nền trời xanh ngăn ngắt, dưới chân lá xào xạc đùa vui như con trẻ...
Hôm nọ tôi có dịp chạy về khu neighbourhood cũ, đi ngang qua căn nhà cũ mà bồi hồi xuyến xao bao nhiêu kỷ niệm. Lúc ấy gia đình chúng tôi mới từ thủ đô Ottawa chuyển về thành phố này, các con còn bé nên việc tìm một căn nhà có đủ tiêu chuẩn gần trường học, gần nhà thờ, gần chợ Việt chợ Tây cũng hơi khó. Cuối cùng thì căn nhà tạm ưng ý được chúng tôi lựa chọn vì mới được xây, dù là ở dưới phố khá ồn ào chen chúc...
Chẳng bao lâu, chúng tôi đã tới trước cửa thành phía nam tức cửa Nam, cửa chính của thành Cổ Loa. Trước cửa thành có sông Hoàng Giang chảy bao bọc, ôm lấy thành từ hướng đông nam, qua nam, rồi vòng sang hướng tây nam của thành để làm “hào thiên nhiên” bảo vệ thành ở vòng ngoài...
Ngày thứ tư. Một ngày trước khi lên máy bay trở về thành phố của mình, nàng lăn ra ốm. Cảm thôi, nhưng cảm nặng. Bắt đầu bằng một đêm không ngủ nghẹt cứng mũi và hôm sau dật dờ và mệt như ngàn tảng đá đè nặng lên người. Chắc chắn không thể lết lên máy bay nổi vào hôm sau...
Tôi lớn lên từ khu xóm gần hồ Tịnh Tâm. Trong xóm tôi ở toàn các ông Giáo, ông Trợ, ông Phán, ông Nghè, ông Thông được ghép tên thật phía sau, và người ta thường gọi như thầy Trợ Hiếu, bác Phán Quỳnh, v.v... Tôi xin kể về gia đình bà Thông Hợp và gia đình thầy Giáo Mạnh...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.