Hôm nay,  

Bên Kia

10/03/202602:57:00(Xem: 515)

Bên Kia 

Mưa xuống chậm.

Không phải kiểu mưa có gì để nói. Chỉ là mưa, đều, nhỏ, như thứ gì đã quyết định rơi và không còn lý do để dừng lại.

Tôi ngồi đây từ lúc nào không nhớ. Chiếc ghế mây - lưng tôi đã quen nó. Chăn đắp qua đầu gối không phải vì lạnh, chỉ vì có những thứ cần được phủ lên dù không biết để làm gì. Bàn tay tôi nằm trên đùi, hai bàn tay của người đã học cách không nắm chặt nữa, vì nắm chặt tốn sức mà sức thì không còn nhiều để tốn.

Hơi thở vào phải nhớ. Hơi thở ra thì tự đi.

Mùi đất bốc lên từ khu vườn nhỏ trước mặt, mùi kim loại loãng trong nước, mùi rêu bị đánh thức, mùi của những thứ sống dưới mặt đất đang nhận ra đây là lúc của chúng. Tôi ngồi hít mùi đó và không nghĩ gì. Không nghĩ không phải vì bình an. Là vì có những buổi chiều mà suy nghĩ trở thành việc quá lớn so với những gì còn lại trong người.

Rồi con cóc nhảy ra.

Nó chui lên từ khe gạch sát bồn hoa, chậm, như thể không phải nhảy mà được đất đẩy lên.

Tôi nhìn nó.

Da xù xì, sần, màu của bùn khô và rêu cũ. Không đẹp theo bất kỳ nghĩa nào người ta hay dùng chữ đẹp. Nhưng mưa rơi xuống lưng nó khác với mưa rơi xuống xi măng. Trên xi măng mưa vỡ ra và chảy đi. Trên lưng nó, từng giọt nằm lại một khoảnh khắc, như thể cần được hỏi xem có muốn vào không, rồi chậm chậm thấm xuống theo những rãnh nhỏ mà mắt thường không thấy.

Tôi từng đọc đâu đó rằng cóc uống nước qua da. Không có miệng uống. Không cần cúi xuống. Chỉ cần đứng trong mưa và để nước tự tìm đường vào. Da nó là cửa, là miệng, là phổi, là tất cả những gì cần thiết để tiếp nhận thứ trời cho.

Tôi nghĩ đến hai lá phổi của mình. Không phải bằng ngôn ngữ. Bằng cảm giác của chúng vào buổi sáng, nặng hơn buổi sáng trước một chút, nặng theo cách không đo được nhưng biết.

Con cóc không biết nó đang làm gì đẹp đến vậy.

Nó nhảy một cái, nhỏ, không đi đâu cả, chỉ để đặt chân xuống chỗ ướt hơn. Rồi đứng lại. Cái cổ họng phồng lên xẹp xuống theo nhịp mà tôi ngồi nhìn mãi không chán, không hiểu sao không chán. Có lẽ vì nhịp đó không hỏi gì. Không cần được kiểm tra, không cần được theo dõi, không cần kết quả để tiếp tục. Cứ phồng. Cứ xẹp. Cứ vậy.

Nó há miệng kêu một tiếng. Khàn, nhỏ, không vọng xa. Âm thanh đi được vài tấc rồi bị mưa nuốt mất. Nhưng nó đã kêu. Không phải để được nghe. Chỉ để rung lên trong chính lồng ngực nó, để cái rung đó xác nhận một điều gì đó mà không cần tên.

Tôi ngồi nghe tiếng kêu đó tan vào mưa và nghĩ, lờ mờ, có những thứ người ta làm không phải để đến đâu. Chỉ để làm. Chỉ để còn đang làm.


Bàn tay tôi trên đùi, không nắm, không buông, chỉ nằm.

Con cóc bắt đầu di chuyển về phía đường.

Từng cú nhảy ngắn, kiên nhẫn, như thể không gian trước mặt là thứ cần được thương lượng chứ không phải chinh phục. Nó dừng lại ở mép sân, nhìn qua bên kia đường, nơi có bãi cỏ hoang và mương nước đục mà từ đây tôi không thấy rõ nhưng biết là có.

Bên kia.

Tôi không biết bên kia với nó là gì. Không biết nó biết không. Có thể không có khái niệm bên kia trong người nó. Chỉ có mùi nước, mùi cỏ ướt, mùi của nơi da nó sẽ được thở đầy hơn. Cơ thể nó biết phải đi về hướng đó mà không cần hỏi tại sao, không cần biết có gì chờ, không cần tính xem đáng hay không đáng.

Tôi muốn nói với nó: ở đây thôi. Mưa bên này cũng vậy.

Nhưng tôi không nói. Vì biết nó không hiểu, và vì một phần rất nhỏ trong tôi nghĩ rằng có thể nó không cần hiểu, mới đúng.

Nó nhảy xuống đường.

Chiếc xe lao ra từ góc phố.

Không kịp nghĩ. Ánh đèn quét ngang, hắt lên lưng cóc một vệt sáng trắng chói rồi tắt ngay. Bánh xe lướt qua cách nó một gang tay, có thể chưa đến. Nước bắn tung, phủ kín thân hình nhỏ bé kia trong một giây.

Tôi không thở.

Tiếng xe mất dần về cuối phố. Mưa lại đều.

Con cóc đứng giữa đường, ướt hơn lúc nãy. Khựng lại đúng một nhịp, không hơn. Rồi tiếp tục nhảy.

Không ngoái lại. Không run. Không biết.

Nó không biết bánh xe vừa lướt qua. Không biết tôi vừa nín thở. Không biết khoảnh khắc đó tồn tại. Với nó, không có khoảnh khắc đó. Chỉ có mưa trước mặt, cỏ ướt bên kia, và da đang khát.

Nó nhảy thêm vài cái, dài hơn, về phía bãi cỏ hoang. Rồi biến mất giữa những thân cỏ tối. Chỉ còn vài vòng tròn nhỏ trên mặt nước mưa vừa tụ, lan ra, mờ dần, rồi mặt nước lại phẳng như chưa có con cóc nào từng đứng đó.

Tôi ngồi nhìn chỗ nó vừa mất đi.

Tay vẫn trên đùi. Chăn vẫn qua đầu gối. Hít vào vẫn phải nhớ, thở ra vẫn tự đi.

Ở đâu đó bên kia đường, trong bóng cỏ ướt, có một sinh vật nhỏ đang sống hoàn toàn, không thiếu một phần nào, không thừa một lo lắng nào.

Chỉ vậy thôi. Và chỉ vậy thôi đã là tất cả.

 

Tôi ngẩng mặt lên.

Để mưa rơi vào trán. Lạnh, nhỏ, không phân biệt.

Và trong khoảnh khắc đó, không từ đâu, một thứ gì đó bên trong tôi đặt xuống. Không phải vì xong. Không phải vì hiểu ra điều gì. Chỉ vì đã nắm lâu quá, tay mỏi, và mưa vẫn rơi.

Tôi ngồi đó và không nghĩ gì thêm nữa.

Chỉ ngồi.

Như con cóc đứng trong mưa.

Ngu Yên

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Thuỷ Triều nhắn tin, mời gia đình tôi dự thánh lễ giỗ đầu của Cô Chúc. Vậy mà đã giáp một năm ngày Cô Chúc về với Chúa! Thời gian tựa thoi đưa. Vừa qua một cái Tết con mèo khá lạnh. Ngoảnh đi ngoảnh lại, ai còn, ai mất?
Chiếc máy bay Airbus A333 của hãng Turkish Airlines đáp xuống phi trường quốc tế Tribhuvan cách thủ đô Kathmandu ở Nepal 3 km vào một buổi tối đầu tháng tư. Đây là phi trường quốc tế duy nhất ở đất nước này. Gió tháng tư vẫn còn mát lạnh, thổi vào mặt làm tôi tỉnh ngủ sau một chuyến bay dài...
Hồi ấy, những ngày nghỉ học tôi hay theo cha tôi vào rẫy để làm phụ một số việc vặt. Tôi thích lắm, vì đó là cơ hội để tôi có thể mặc tình bắt chuột bắt chim. Chỉ trong tháng đầu kỳ nghỉ hè tôi đã bắt được cả chục tổ chim và một con rùa nữa...
Mấy nay thiên hạ xì xầm bàn tán về lão Tạ nhưng chẳng ai biết rõ nguồn gốc lão ta. Người thì bảo lão từ phương đông đến, kẻ thì nói lão bên tây qua bởi vì họ thấy phảng phất trong mớ chữ nghĩa của lão có bóng dáng đông lẫn tây. Lắm kẻ còn vẹo mồn nói mân nào cũng có mặt lão, tây đông đề huề, bắc nam lủ khủ, đạo đời nhập nhằng. Tuy nhiên tất cả chỉ là đồn đoán vu vơ, ngay cả cái danh xưng của lão cũng khiến người ta thắc mắc...
Những ngày cuối năm âm lịch, bận rộn nhiều việc: dọn dẹp nhà cửa, trang hoàng bàn thờ, mua sắm, lo cúng lễ, chuẩn bị phong bì lì xì... nhưng tâm trí tôi vẫn nhớ về người anh thứ hai của mình. Tất cả tái hiện và trôi đi trong dòng nhớ miên man về những cái Tết đã qua trong đời từ khi mình có nhận thức lúc ở quê cũng như khi ra phố bên gia đình và mãi sau này khi làm ăn xa, đón Tết với vợ con...
Không phải lỗi của tôi. Vì vậy, tôi không thể gánh chịu. Tôi chẳng những không làm chuyện này mà còn không biết nó xảy ra như thế nào. Không mất hơn một giờ, sau khi họ kéo con bé ra khỏi giữa hai chân, lúc đó, tôi mới nhận ra có điều gì đó không ổn. Thực là sai lầm. Nó đen đến nỗi làm tôi kinh sợ. Đen nửa đêm, đen Sudan. Tôi có màu da ít đen, tóc đẹp, gọi là vàng lợt, và bố của Lula Ann cũng vậy. Không ai trong gia đình có màu da gần giống màu này. Tar là người gần giống nhất mà tôi có thể nghĩ đến, nhưng tóc của nó không hợp với da. Khác hẳn - thẳng nhưng xoăn, giống như tóc của những bộ lạc khỏa thân ở Úc. Có thể nghĩ con bé là một nhân vật tổ tiên đầu thai, nhưng đầu thai cái quái gì? Các người nên gặp bà tôi; bà theo phe người da trắng, kết hôn với đàn ông da trắng, không bao giờ nói lời nào với bất cứ con cái của bà.
Khi ta làm chuyện gì không phải ta đều sợ người khác chê cười. Tiếng lành đồn gần, tiếng dữ đồn xa. Nhưng cũng có khi ta ngẫm việc đời thì phó mặc, cười hở mười cái răng. Cười hở mười cái răng thì hở cũng hơi nhiều thật, nhưng khi cười có ai kìm hãm được niềm vui bộc lộ. Cười thì cứ thoải mái cho nó muốn hở bao nhiêu cái thì hở, cho thấy nụ cười gắn liền với hàm răng...
Cô bé bỗng nghẹn lời làm Bách ngạc nhiên, anh mở hẳn cửa bước ra ngoài chưa kịp hỏi thêm thì Chinh đã quay ngoắt đi y như lúc nãy để bước lên thang lầu, nhưng lần này cô đứng gần Bách quá, chùm tóc đuôi ngựa của Chinh vùng vằng đã hắt vào mặt Bách, sự dỗi hờn vô cớ làm Bách càng thêm ngạc nhiên...
Chuyện vợ chồng Hạnh-Bằng cãi nhau, rồi goánh nhau (thực ra là chị bị goánh), rồi lại huề nhau vui vẻ “như chưa hề có cuộc… goánh nhau” xảy ra như cơm bữa, riết rồi trong con hẻm này, chẳng ai còn để ý nữa...
Chuyến về quê của tôi chỉ là đi từ Nam ra Bắc, vì tôi là một cư dân của Sài An, tức là Sài Gòn, nói văn vẻ dựa hơi Tràng An một tí. Đối với tôi, thành phố hoa lệ một thời mà tôi đã sinh sống từ thuở thơ ấu đến ngày bạc tóc hôm nay vẫn mãi là Sài Gòn. Và chỉ là Sài Gòn thôi...
Hôm cô tự kết liễu đời mình, cô mặc chiếc áo lụa trắng ra chợ huyện như một thói quen. Ra chợ nhưng cô không mua thức ăn như mọi lần về nấu cho cô và gã bác sĩ bộ đội ăn tối. Đầu óc cô hoàn toàn trống rỗng như tờ giấy trắng tinh, hai chân cô như bị vô thức sai khiến, mắt cô nhìn nhưng chẳng hình ảnh nào đập vào trí óc, và các thứ âm thanh hỗn độn của một buổi họp chợ sáng nghe như những nhiễu âm không qua máy lọc...
Tương truyền đây là những lời thơ Nôm mà vua Quang Trung phê vào sớ tâu của dân làng Văn Chương. Tờ sớ khá dài, trong đó nêu lên sự hư hoại gãy đổ bia tiến sĩ ở văn miếu. Người dân đồ đoán văn miếu bị tàn phá là do quân Tây Sơn trong lúc đánh dẹp họ Trịnh đã gây ra vừa đưa thêm giả thuyết do Trịnh Khải cho người phá hoại để đổ vấy cho Tây Sơn. Điều đáng nói ở đây là khi nhận sớ, vua Quang Trung chẳng những không giận dữ mà còn đích thân dùng chữ Nôm để phê với thái độ cầu thị vô cùng đặc biệt của ngài...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.