Hôm nay,  

Bên Kia

10/03/202602:57:00(Xem: 485)

Bên Kia 

Mưa xuống chậm.

Không phải kiểu mưa có gì để nói. Chỉ là mưa, đều, nhỏ, như thứ gì đã quyết định rơi và không còn lý do để dừng lại.

Tôi ngồi đây từ lúc nào không nhớ. Chiếc ghế mây - lưng tôi đã quen nó. Chăn đắp qua đầu gối không phải vì lạnh, chỉ vì có những thứ cần được phủ lên dù không biết để làm gì. Bàn tay tôi nằm trên đùi, hai bàn tay của người đã học cách không nắm chặt nữa, vì nắm chặt tốn sức mà sức thì không còn nhiều để tốn.

Hơi thở vào phải nhớ. Hơi thở ra thì tự đi.

Mùi đất bốc lên từ khu vườn nhỏ trước mặt, mùi kim loại loãng trong nước, mùi rêu bị đánh thức, mùi của những thứ sống dưới mặt đất đang nhận ra đây là lúc của chúng. Tôi ngồi hít mùi đó và không nghĩ gì. Không nghĩ không phải vì bình an. Là vì có những buổi chiều mà suy nghĩ trở thành việc quá lớn so với những gì còn lại trong người.

Rồi con cóc nhảy ra.

Nó chui lên từ khe gạch sát bồn hoa, chậm, như thể không phải nhảy mà được đất đẩy lên.

Tôi nhìn nó.

Da xù xì, sần, màu của bùn khô và rêu cũ. Không đẹp theo bất kỳ nghĩa nào người ta hay dùng chữ đẹp. Nhưng mưa rơi xuống lưng nó khác với mưa rơi xuống xi măng. Trên xi măng mưa vỡ ra và chảy đi. Trên lưng nó, từng giọt nằm lại một khoảnh khắc, như thể cần được hỏi xem có muốn vào không, rồi chậm chậm thấm xuống theo những rãnh nhỏ mà mắt thường không thấy.

Tôi từng đọc đâu đó rằng cóc uống nước qua da. Không có miệng uống. Không cần cúi xuống. Chỉ cần đứng trong mưa và để nước tự tìm đường vào. Da nó là cửa, là miệng, là phổi, là tất cả những gì cần thiết để tiếp nhận thứ trời cho.

Tôi nghĩ đến hai lá phổi của mình. Không phải bằng ngôn ngữ. Bằng cảm giác của chúng vào buổi sáng, nặng hơn buổi sáng trước một chút, nặng theo cách không đo được nhưng biết.

Con cóc không biết nó đang làm gì đẹp đến vậy.

Nó nhảy một cái, nhỏ, không đi đâu cả, chỉ để đặt chân xuống chỗ ướt hơn. Rồi đứng lại. Cái cổ họng phồng lên xẹp xuống theo nhịp mà tôi ngồi nhìn mãi không chán, không hiểu sao không chán. Có lẽ vì nhịp đó không hỏi gì. Không cần được kiểm tra, không cần được theo dõi, không cần kết quả để tiếp tục. Cứ phồng. Cứ xẹp. Cứ vậy.

Nó há miệng kêu một tiếng. Khàn, nhỏ, không vọng xa. Âm thanh đi được vài tấc rồi bị mưa nuốt mất. Nhưng nó đã kêu. Không phải để được nghe. Chỉ để rung lên trong chính lồng ngực nó, để cái rung đó xác nhận một điều gì đó mà không cần tên.

Tôi ngồi nghe tiếng kêu đó tan vào mưa và nghĩ, lờ mờ, có những thứ người ta làm không phải để đến đâu. Chỉ để làm. Chỉ để còn đang làm.


Bàn tay tôi trên đùi, không nắm, không buông, chỉ nằm.

Con cóc bắt đầu di chuyển về phía đường.

Từng cú nhảy ngắn, kiên nhẫn, như thể không gian trước mặt là thứ cần được thương lượng chứ không phải chinh phục. Nó dừng lại ở mép sân, nhìn qua bên kia đường, nơi có bãi cỏ hoang và mương nước đục mà từ đây tôi không thấy rõ nhưng biết là có.

Bên kia.

Tôi không biết bên kia với nó là gì. Không biết nó biết không. Có thể không có khái niệm bên kia trong người nó. Chỉ có mùi nước, mùi cỏ ướt, mùi của nơi da nó sẽ được thở đầy hơn. Cơ thể nó biết phải đi về hướng đó mà không cần hỏi tại sao, không cần biết có gì chờ, không cần tính xem đáng hay không đáng.

Tôi muốn nói với nó: ở đây thôi. Mưa bên này cũng vậy.

Nhưng tôi không nói. Vì biết nó không hiểu, và vì một phần rất nhỏ trong tôi nghĩ rằng có thể nó không cần hiểu, mới đúng.

Nó nhảy xuống đường.

Chiếc xe lao ra từ góc phố.

Không kịp nghĩ. Ánh đèn quét ngang, hắt lên lưng cóc một vệt sáng trắng chói rồi tắt ngay. Bánh xe lướt qua cách nó một gang tay, có thể chưa đến. Nước bắn tung, phủ kín thân hình nhỏ bé kia trong một giây.

Tôi không thở.

Tiếng xe mất dần về cuối phố. Mưa lại đều.

Con cóc đứng giữa đường, ướt hơn lúc nãy. Khựng lại đúng một nhịp, không hơn. Rồi tiếp tục nhảy.

Không ngoái lại. Không run. Không biết.

Nó không biết bánh xe vừa lướt qua. Không biết tôi vừa nín thở. Không biết khoảnh khắc đó tồn tại. Với nó, không có khoảnh khắc đó. Chỉ có mưa trước mặt, cỏ ướt bên kia, và da đang khát.

Nó nhảy thêm vài cái, dài hơn, về phía bãi cỏ hoang. Rồi biến mất giữa những thân cỏ tối. Chỉ còn vài vòng tròn nhỏ trên mặt nước mưa vừa tụ, lan ra, mờ dần, rồi mặt nước lại phẳng như chưa có con cóc nào từng đứng đó.

Tôi ngồi nhìn chỗ nó vừa mất đi.

Tay vẫn trên đùi. Chăn vẫn qua đầu gối. Hít vào vẫn phải nhớ, thở ra vẫn tự đi.

Ở đâu đó bên kia đường, trong bóng cỏ ướt, có một sinh vật nhỏ đang sống hoàn toàn, không thiếu một phần nào, không thừa một lo lắng nào.

Chỉ vậy thôi. Và chỉ vậy thôi đã là tất cả.

 

Tôi ngẩng mặt lên.

Để mưa rơi vào trán. Lạnh, nhỏ, không phân biệt.

Và trong khoảnh khắc đó, không từ đâu, một thứ gì đó bên trong tôi đặt xuống. Không phải vì xong. Không phải vì hiểu ra điều gì. Chỉ vì đã nắm lâu quá, tay mỏi, và mưa vẫn rơi.

Tôi ngồi đó và không nghĩ gì thêm nữa.

Chỉ ngồi.

Như con cóc đứng trong mưa.

Ngu Yên

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Có lẽ nhóm lao động Việt đầu tiên được thực dân Pháp đưa ra nước ngoài là nhóm được gởi qua đảo Réunion ở Ấn Độ Dương, một thuộc địa của Pháp từ thế kỷ XVII, hiện là một vùng hải ngoại của Pháp. Đảo này cũng là nơi mà vua Duy Tân và thân phụ là vua Thành Thái bị lưu đày vào đầu thế kỷ thứ XX...
Khi chuông đồng hồ báo thức vang lên là anh Bông thức dậy đầu tiên, đèn trong bathroom bật sáng choang cũng đủ làm cho anh tỉnh cơn ngái ngủ, thoát ra khỏi giấc mơ nếu có. Xong phần vệ sinh cá nhân anh vào phòng ngủ đánh thức Tabi và Betsy, hai đứa nằm ngủ lăn lóc trong đống chăn gối bừa bộn, anh phải bế từng đứa ra và dựng đứng lên cho nó tỉnh ngủ, con Tabi lại sụp xuống giường muốn ngủ tiếp. Anh dứt khoát lôi hai đứa con gái vào bathroom để đánh răng rửa mặt...
Huế, đi để mà nhớ chứ không phải ở để mà thương? Tại răng rửa hè? Bởi vì người Huế rất gay gắt, kiểu cách, quan liêu, đài các. Có phải không, thưa các Mệ? Nên người dân không dám làm điều gì "trái tai, gai mắt", không dám cặp kè, bồ bịch nhởn nhơ, ăn mặc "dị hợm". Nên chi, luôn là chiếc áo dài. Chị tiểu thương ở chợ Đông Ba, chị gánh bún bò, bánh canh Nam Phổ, chè hột sen... và cũng có các Mệ đi ngủ cũng mặc áo dài! Cái màn ni thì tôi chịu thua rồi, bó sát người, mần răng thoải mái được hè?
Nàng là nhỏ bạn thân cùng xóm cùng lớp với tôi, rất thích đi coi bói, hễ nghe “danh” của ông bà thầy bói nào là nàng tìm đến, nhất là từ khi nàng biết yêu. Tôi là người luôn được (bị) nàng rủ đi theo dù tôi đã cố từ chối, nhưng nàng năn nỉ quá, vả lại, mỗi khi xong việc, nàng dẫn tôi đi ăn gỏi đu đủ khô bò và uống nước mía, nên tôi đành… nhận lời...
Cô ngồi yên thật lâu. Trái tim nhiều ngăn của cô như đang chông chênh lỡ nhịp...
Cháu à, cuộc sống luôn đầy ắp những câu hỏi. Có những câu hỏi ta có thể trả lời được, nhưng cũng có nhiều câu hỏi ta không thể....
Hằng năm, khi trời ngả sang thu, gió bớt khô khốc, tôi lại muốn quay về. Huế đang mùa thanh trà. Bên vệ đường không xa cầu Truồi, nơi mặt tiền những ngôi chợ, trên con đường đồi dốc lên lăng Minh Mạng, màu xanh dịu nhẹ những quả thanh trà xếp thành hình nón hay bày la liệt đó đây khiến nắng hè như bớt chói chang...
New Orleans là một trong những thành phố cảng quốc tế quan trọng của Hoa Kỳ kể từ ngày lập quốc cho tới bây giờ, nằm ở phần cực nam của tiểu bang Louisiana. Có dân số khoảng trên dưới một triệu người, trong đó có một số đông người Việt Nam ta sinh sống tại những vùng ngoại ô thành phố, đa số là người Thiên Chúa giáo, nhưng tôi không biết đích xác số lượng là bao nhiêu...
Chàng đi làm về, thấy nàng ngồi thừ ở salon, tờ báo chương trình truyền hình trước mặt. Đứa con bên cạnh chăm chú chơi cái xylophone. Ti-vi đang sặc sỡ những đoạn phim quảng cáo. Chàng ngạc nhiên lắm. Thường ngày, nghe tiếng chàng lách cách mở khóa cửa, nàng hớn hở bế con ra đón. Thể nào nàng cũng chuyền con cho chàng bế và bắt chàng phải hôn con một cái thật kêu. Thế mà hôm nay, nàng dường như không biết chàng vào nhà...
Từ chiều qua chị Bông đã kiểm tra đếm những váy áo, những món đồ hiệu mua sắm từ bấy lâu nay vẫn để dành chỉ mặc khi ra ngoài tiệc tùng đình đám treo đầy nghẹt trong closet, gấp chồng chất để đầy mấy cái valy, chị Bông chọn ra những thứ nào có thể mặc được hằng ngày trong nhà thì mang ra xài gấp kẻo uổng phí...
A Woman’s Story là câu chuyện của Annie Ernaux "ảnh hưởng sâu sắc đến các bà mẹ và con gái, tuổi trẻ và tuổi già, ước mơ và hiện thực" (Kirkus Reviews). Sau cái chết của mẹ bà vì bệnh Alzheimer, Ernaux bắt đầu một cuộc hành trình đầy cam go xuyên thời gian, khi bà tìm cách nắm bắt một người phụ nữ thực sự. Ernaux viết: “Tôi tin rằng tôi đang viết về mẹ tôi bởi vì đến lượt tôi đưa bà vào thế giới.
Ai cũng có một cái tên để gọi. Trong giao tiếp, khi tự giới thiệu hay giới thiệu người khác, thường phải nhắc đến tên trước rồi mới nói tuổi tác, nghề nghiệp, chức tước, hoàn cảnh, địa chỉ, v.v… Tên đẹp hay xấu cũng phải giữ lấy mà dùng suốt cả đời. Nhớ thương nhau thì gọi tên. Ghét nhau, giận nhau cũng đem tên ra mà réo.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.