Hôm nay,  

Hạnh Phúc…

13/03/202600:00:00(Xem: 20)

hanh phuc
Brooklyn Bridge nhìn từ phía Manhattan. Ảnh: Nguyễn Q.

Cơn bão tuyết đã qua hơn tuần rồi mà hai bên đường và trong các vườn cây tuyết vẫn chưa tan vì còn lạnh quá, ngày nào cũng dưới zero độ. Nhưng nhờ vậy mà những bao rác tiếp tục chồng lên nhau trên các đống tuyết cao ngất ngưởng tới thắt lưng bên đường, chờ xe đến mang đi, không có mùi hôi. Đường sá đã khó đi quanh những công trình xây dựng không ngưng nghỉ nay lại có thêm những rào cản mới, cấm người bộ hành đến gần những toà cao ốc để tránh những mảng tuyết đã bắt đầu đóng thành băng đang rơi xuống.
 
Mùa đông năm nay lạnh hơn nhiều so với những năm trước, những ngày có gió “feels like” lạnh thêm mười, mười lăm độ nữa. Những ngày quên mang bao tay, mấy ngón tay nứt cả, vì thế mà mấy bài đàn mới đang tập tưởng đã gần xong nay vẫn còn lẩn quẩn mấy câu đầu, dù đã cố gắng tìm cách xoay xở. Ngày nào mấy ngón tay bên phải còn đau nhức thì dùng tay trái tập chord, ngày nào mấy ngón tay bên trái còn nứt thì dùng tay phải tập melody, hy vọng khi hai tay lành lặn sẽ ráp lại với nhau. Nhiều lúc nghĩ tại sao phải “tìm chi những chốn đoạn trường mà đi (Kiều)”, sao không dùng AI để tức khắc trở thành “nhạc sĩ” như nhiều người bạn đang làm và gởi cho nghe thường xuyên những bài hát họ sáng tác, có khi vài ba bài mỗi ngày, đủ thể điệu, nghe rất lung linh. Nhưng rồi nhớ tới câu hỏi của Diệu Hương, người bạn học cùng trường, phiến đá có linh hồn không (Phiến Đá Sầu), nên lại thôi. Mình muốn sống có linh hồn, có cảm xúc.
 
Buổi đầu đi học đàn, hãnh diện mở cho người thầy nghe bài Ướt Mi thu từ cái keyboard. Người thầy nghe xong nói “bài nầy cái keyboard làm hết rồi, anh có đàn gì đâu…”! AI là trí tuệ nhân tạo, là thông minh nhân tạo, chưa phải là cảm xúc nhân tạo mà âm nhạc hay những bộ môn nghệ thuật khác: thơ, hội hoạ … - mình nghĩ đơn giản thôi - là để chuyên chở và chia sẻ cảm xúc, vượt ra khỏi giới hạn của ngôn ngữ đời thường. Tại sao phải xa gần “áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc (NS)” cho mệt, cứ nói thẳng áo em màu vàng giống áo mấy bà Hoàng sang trọng quá nên anh yêu có phải rõ ràng hơn, ai cũng hiểu. Đưa cho AI câu  “áo nàng xanh”  thì AI chắc sẽ làm ra một giai điệu mượt mà với cả một ban nhạc đi theo, nhưng có kết nối được với “lá sân trường” không. AI có nghe trộm và “hiểu” được tiếng đàn của Bá Nha đang đi về đâu để dây đàn phải đứt?
 
Một người nhạc sĩ chuyên về hoà âm có làm một cái video rất hay giải thích về nhạc do AI làm ra và người nghe nên  rất “đối xử” với nó như thế nào. Anh nói vì AI sở hữu những đống dữ kiện khổng lồ nên nhạc AI nghe rất hay, đầy cung bậc, sống động, “đột phá” nhưng nhạc AI, trong lúc có thể gây nhiều cảm xúc cho những người làm ra nó, lại khó mang cảm xúc tới người nghe. AI không có tuổi thơ, không lớn lên với tuổi thơ…
 
Một người nhạc sĩ sáng tác kỳ cựu khác đã than thở trong một buổi phỏng vấn là ca sĩ Việt Nam bây giờ, trừ một vài người, hát không cảm xúc. Họ quá chú trọng tới việc luyện tập kỹ thuật, muốn hơn những ca sĩ khác bằng những nốt cao, những quãng ngân dài nên bỏ qua cảm xúc của bài hát để chuyên chở tới người nghe, nhưng không chừng đó lại hay, như triết lý của các công ty bán hàng hoá thành công: sản xuất và mang tới khách hàng những thứ họ muốn. Bây giờ người ta đi coi hát hay nghe hát? Hát bài Hẹn Hò, ca sĩ phải ngồi trên chiếc đò lắc qua lắc lại trên sân khấu khô rang không có nước trong khi Phạm Duy thơ mộng nói về một người ngồi bên kia sông im nghe nước chảy về đâu. Ông nhạc sĩ nầy còn kể ông còn năn nỉ một ca sĩ tự nhận là “ông hoàng nhạc Việt” đừng hát những bài của ông nữa mà tội nghiệp cho bài hát, và tội nghiệp cho ông.
 
**
 
Lạnh thì lạnh nhưng dần dần rồi cũng quen đi. Sáng nào thấy dự báo thời tiết nói trên zero độ là cứ nghĩ ồ hôm nay ấm quá. Nhưng cho dù có lạnh tới mấy cũng tìm cớ để khăn mũ ra đi. Vẫn thích đi! Ngày nào không đi được mười ngàn bước có cảm tưởng như thiếu nợ ai nhưng chưa trả, như đã hứa với ai điều chi nhưng chưa làm. Rất nặng nề.
 
Gặp anh hàng xóm bên trong thang máy. Hai nhà ở sát nhau mở cửa có thể đụng mà hơn hai tháng qua chỉ “thấy” nhau vài lần, ngoài tiếng cười nói vọng ra hành lang của hai đứa bé gái rất xinh đẹp lai Mỹ với Đại Hàn, liếng thoắng, ăn mặc rất sang trọng, thời trang, rất ưa nhìn. Ở góc quanh chừng ba mươi bước là nhà của một cô Việt Nam rất cao lớn, có chồng Mỹ, cả hai cùng là nha sĩ, tử tế và vui vẻ. Có lần được họ mời qua ăn tối, căn nhà rất rộng, đẹp, chiếm ngay cả một góc nên nhìn xuống thấy được đèn đuốc cả hai mặt phố. Họ có thêm phòng mạch ở San Francisco nên người chồng bay lên về mỗi tuần. Anh kể mỗi lần về lại nhà ở New York nầy, không muốn mất thì giờ, anh dùng trực thăng để đi từ phi trường JFK về bãi đáp dưới chân cầu Brooklyn rồi gọi xe đến đón về nhà mất thêm khoảng mười phút. Không như những người ở đây thường trả một trăm đồng cho taxi hay Uber khi đi phi trường. Hay như mình, kéo chiếc vali ra subway, trả hai đồng chín mươi xu tới trạm xe gần phi trường rồi thêm chín đồng cho AirTrain thả ngay ở terminal. Cứ mang vào cái headphone, nghe một cuốn sách hay hoặc năm ba bản nhạc, rồi nhìn quanh toa tàu là thấy, nghe không biết bao nhiêu điều thú vị, như xem một vở kịch dài bốn mươi lăm phút với không biết bao nhiêu diễn viên đến từ mọi nơi, đủ mọi lứa tuổi, đầy cá tính, lên xuống, sống động, trung thực. Không lo nạn kẹt xe hay xe bể bánh phải trễ chuyến bay như đã có lần xảy ra. Rất nhẹ nhàng thong dong.
 
Anh hàng xóm than phiền năm nay lạnh kỷ lục, hơn sáu mươi mốt năm qua, và mùa đông cũng dài quá. Mấy câu Anh nói làm nhớ tới Ông Cậu ở Boston. Sau năm bảy mươi lăm, Ông chọn Boston làm quê hương thứ hai, luôn nói Boston với ông là “love at first sight”, không bao giờ nghĩ có thể sống nơi nào khác ở Mỹ đây ngoài Boston. Mà làm sao không “love” Boston được nhất là với một người đã làm ngoại giao như Ông, học bên Tây, làm việc bên Anh, ham học, ham đọc, hiểu rộng. Boston có sông, có biển, có đủ bốn mùa, có lá vàng, có tuyết…với hơn bốn mươi đại học lớn nhỏ. Không khí “trí thức” đi đâu cũng bắt gặp, trong khuôn viên trường học đã đành mà ở chợ búa, tiệm ăn, quán cà-phê, trên những chiếc xe “T” chạy trong thành phố đầy sinh-viên, trẻ trung, sinh động, đầy sức sống…cùng nhau hướng tới tương lai. Nhưng rồi đến một năm ông hỏi vợ hình như mùa đông ở Boston càng năm càng lạnh hơn và càng dài hơn, hay là dọn về một xứ ấm. Rồi Ông dọn về Houston cho đến lúc mất.
 
Ngày nghe tin Ông mất quá đỗi bàng hoàng, như mất một người bạn thân thiết. Ông là tấm gương: từ tốn, khiêm cung, liêm khiết. Nhà Ông ở trước đây do chính phủ cấp, mọi chi phí do chính phủ trả, thế mà Ông la trách con cái nếu quên tắt đèn khi ra khỏi phòng tắm hay để quạt máy chạy khi không có ở nhà. Ở đây có biết bao nhiêu người nói nhiều về môi trường, biến đổi khí hậu nhưng không có thời giờ để vói tay tắt mấy ngọn đèn hay cái máy lạnh trước khi ra khỏi nhà. Họ quá bận rộn, có nhiều thứ quan trọng cần kíp phải làm, bận tâm chi những chuyện nhỏ nhặt!
 
Có lần gởi Ông coi tấm hình chụp ở Huế, lần đầu về lại sau mấy chục năm, rất thích nên phóng lớn treo trong sở làm để nhìn hằng ngày. Hình chụp, từ trên cầu Trường Tiền, một cặp vợ chồng già đang ngồi câu cá trên sông Hương trên một chiếc thuyền nhỏ trong một buổi sáng mai rất sớm, không có ai. Không có chi khác ngoài chiếc thuyền câu của hai người và mảng lưới thả giữa sóng nước rất tĩnh lặng của sông Hương trông mênh mông…Ông trả lời: “hình đẹp không phải vì ánh sáng, bố cục mà vì còn có con người”. Con người là đối tượng phục vụ của Ông khi dọn về Boston. Nghe thuở trẻ Ông là Công Giáo, nhưng càng về sau càng nghiêng về Phật Giáo nên đứng vững cả hai chân. Cả Bác Ái lẫn Từ Bi. Rất lạc quan, yêu mến cuộc đời, nhưng hiểu được sự ngắn ngủi vô thường, biết lúc nào nên buông bỏ. Có lần Ông nhờ tìm bản dịch bài Cáo Tật Thị Chúng của Thiền Sư Mãn Giác mà cả hai cùng rất thích. Bài kệ được Hoà Thượng Thích Thanh Từ dịch như thế nầy:

Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu, già đến rồi
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua – sân trước – một cành mai.
 
Ông viết hai câu cuối nguyên bản chữ Hán treo trên tường:
 
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
 
**
 
Mấy hôm trước người con hỏi ý kiến về chuyện nhà cửa. Nhiều biến số quá, làm sao biết quyết định nào là tốt, là hay để làm. Trung bình, mỗi người phải làm ba mươi lăm ngàn quyết định mỗi ngày, mà “mỗi ngả đường là mỗi ngả phân vân (BBT)”. Sai hay đúng, tốt hay xấu, may hay rủi, phúc hay hoạ… đan kết với nhau bất tận, biết đâu mà lường.  Vì đã tin như thế từ lâu nên trả lời bằng cách gởi đi chuyện Tái Ông Thất Mã với lời nhắn đây là kim chỉ nam để mình nhìn mọi việc trong đời. Người con text lại “I get it”.
 
**
 
Tuần nay trời nắng ấm, sẽ tiếp tục dự tính còn “dang dở” từ cuối năm ngoái: đi subway tới Carnegie Cafe ăn một cái scone, uống một ly cappuccino, rồi đi bộ ba mươi ngả tư dọc theo Central Park phía Fifth Avenue tới NY Metropolitan Museum để coi Japanese Art vừa mới trưng bày lại hôm mùng mười tháng giêng sau một thời gian đóng cửa tân trang. Luôn thể, sẽ ghé lại coi có thêm món gì mới trong cái tủ kính đang trưng bày bảy cái bình rất nhỏ cuả Việt Nam.
 
Mấy mươi năm về trước thấy báo nói bà Jacqueline Kennedy có cái apartment  bốn triệu đô-la trên đường Fifth Avenue, đối diện với Central Park. Bốn triệu đô-la cho một cái apartment trong lúc một căn nhà mới rộng thênh thang ở Orange County lúc đó chỉ hai trăm ngàn. Rồi báo đăng tấm hình của bà dẫn chó đi dạo trong Central Park. Lúc đó đã lờ mờ nhận ra rằng thế thì mình - một người tị nạn, tàu chìm mà không chết, lúc lên bờ chỉ có tờ năm mươi đồng dấu trong thắt lưng, qua đây còn lại hai mươi đồng, tiếng Anh bập bẹ - cũng có thể đi trong Central Park như bà. Và chắc gì bà đã được những người vệ sĩ đi theo cho cái tự do được đi lang bang hết mọi ngõ ngách, dừng lại coi tranh của những hoạ sĩ tài năng chưa ai biết tới ở đây, đến từ mọi nơi trên thế giới, đang nôn nóng chen chân tìm chỗ đứng, hay ngồi xuống trên chiếc băng ghế dưới bóng mát của mấy cây maple nghe những người nhạc sĩ đường phố đánh đàn?
 
Khi ra khỏi museum thì chắc đã quá trưa, sẽ tìm cái gì ăn rồi đi tìm mua một đôi giày mới thay cho đôi đang mang đã quá mòn. Không biết nên đi tới cái xe Halal food cách đây chừng mười mấy ngã tư mà những người tài xế taxi phải sắp hàng, dù New York City có cả chục ngàn xe tương tự ở mỗi góc đường vì có cái nước sauce rất “đặc biệt”. Hay tới một tiệm ăn Việt Nam vừa mới mở chuyên về các món miền Trung mà một tờ báo danh giá ở đây và nhiều video nói tới: ba chị em Việt Nam nấu những món ăn NY City chưa bao giờ biết tới. Tới không phải vì nhớ bánh bèo, hến xúc bánh tráng, bún hến, bún bò, mì Quảng… mà vì cái tên: Mộc Mạc. Để tồn tại ở đây tiệm ăn nầy chắc phải độc đáo từ trong ra ngoài, nhưng có so được với cái quán nhà vườn ở làng Phú-Mộng, Huế, với chỉ mấy cái ghế gỗ thấp đặt dưới tàng cây. Bột làm bánh bèo, bánh nậm, bánh bột lọc tôm đất… chỉ khuấy lên rồi hấp sau khi gọi món, mang ra còn nghi ngút hơi với mùi bột gạo chín lẫn trong mùi thơm lá chuối.
 
Tiệm ăn Việt Nam ở đây ngày càng được biết tới với những cái tên rất hay cho những người muốn trải nghiệm. Tiệm Mặn Mòi của cặp vợ Việt chồng Mỹ được nhiều người biết và nói tới sau khi lên báo. Lần tới ăn, gọi món ốc nhồi, thiếu mùi sả và lại chấm với sauce chua ngọt. Nói với cô chủ mặc cái quần lãnh đen bóng loáng và áo bà ba tím món ốc nầy phải chấm với nước mắm gừng mới đúng. Trên đường về nghỉ lại thấy mình lố bịch. Ẩm thực là chuyện cá nhân, làm gì có chuyện đúng sai ở đây. Họ mở tiệm để sinh sống, để “thành công”, phải “vừa miệng” đa số khách hàng, đâu cần phải “đúng”. Như có người vắt chanh, đổ tương ớt lên miếng sushi, hay có người rất sành sỏi thức ăn Nhật nhưng vẫn hoà wasabi vào chén soy sauce để chắm miếng sushi mới thấy ngon dù biết đó là vi phạm khi ăn sushi. Như có người thích tiệm bún bò Huế, trở đi trở lại thường xuyên, chỉ vì dĩa rau rất tươi nhiều thứ: bắp chuối, giá, rau răm… Còn mình, khi thấy dĩa rau mang ra là năn nỉ họ mau mau mang đi cất dùm, để dành cho người khác. Không những không đụng tới mà không muốn thấy dĩa rau nầy bên cạnh tô bún với khoanh giò có da có thịt, mấy miếng gân, mấy miếng thịt bò bắp không tao ớt hay bỏ phẩm cho lên màu đỏ, chút hành tây, hành ngò, có múi chanh trên dĩa. Có người ăn phở muốn có giá sống…Mấy ai dám như chồng một người Nhật làm cùng sở có tiệm thịt gà rất nổi tiếng ở vùng Los Angeles. Có lần Jane Fonda đến ăn và muốn anh nầy bỏ da ra, anh làm theo. Trước khi “chị” Jane ra về anh đến nói với “chị” cách nấu thịt gà của anh là phải có da. Vì đây là lần đầu “chị” đến, anh làm theo yêu cầu, bỏ da đi. Nhưng lần sau nếu “chị” có trở lại anh sẽ không làm nữa và nếu điều đó có làm phật lòng “chị” thì “chị” không cần phải trở lại…
 
**
 
Đã tới lúc cần mua đôi giày mới để thay đôi đang mang đã mòn tới lớp trắng phía trong. Chắc phải làm theo lời bà Marie Kondo: cầm đôi giày lên, nhìn nó rồi tự hỏi “đôi giày nầy có còn mang tới niềm vui thích cho mình không?”. Nếu không, cám ơn nó rồi bỏ đi. Đôi giày đi bộ nầy xứng đáng được cám ơn, đã tám tháng qua theo mình đi khắp hang cùng ngõ hẻm: về Sài-Gòn, Nha-Trang, Đà-Nẵng, Huế, Quảng-Trị, Quảng-Bình, Kon-Tum, Pleiku, Vũng-Tàu, rồi Thẩm-Quyến, Trường-An, Fukuoka và bây giờ là New York City. Chắc trên cả ngàn cây số rồi, bằng Sài-Gòn ra Hà-Nội.
 
Cho tới gần đây không bao giờ nghĩ có thể bỏ ra một trăm bảy mươi lăm đô-la cho một đôi giày đi bộ cho tới khi cặp vợ chồng hàng xóm ở Orange County đem khoe đôi giày Hoka bà vợ mới mua. Như đi trên mây, bà nói. Vì thế mà mình cũng mua, dù đôi giày nhìn như hai chiếc xuồng rất kỳ cục. Nhưng cái “nhìn” có quan trọng không? Đẹp hay không đẹp, ai khen hay chê có làm cho chân không đau, cho hai cái bunion không sưng đỏ sau mỗi ngày đi bộ?
 
Thấy người bạn cùng hay đi bộ mang đôi giày mỏng đế nên nhiều lần nói Anh mua thử một đôi Hoka nhưng lần nào Anh cũng thoái thác, nói đôi giày đang đi còn tốt, được rồi. Biết là Anh đủ điều kiện mua vài trăm đôi, nhưng Anh không quen cho phép mình mua cho chính mình một đôi giày đi bộ đắt tiền như thế. Vậy mà những khi báo tin có những chỗ nầy chỗ kia bên Việt Nam cần giúp là anh zelle tiền ngay, mau hơn cả Amazon.com gởi hàng. Mỗi đóng góp của anh không những đủ mua một đôi Hoka, mà còn thêm nhiều thứ khác, như những miếng đệm cao cấp năm bảy chục đô-la một cặp chẳng hạn để đi cho thêm êm chân. Năm ngoái, nhờ anh và một người nữa giúp mà mời được năm mươi người bán vé số, chạy xe thồ…ở chợ Đông-Ba và chợ An-Cựu gặp nhau ăn bún buổi sáng rồi nhận một phong bì. Không đổi đời được ai nhưng ai cũng vui. Nói với họ gắng nghỉ làm một ngày, đưa vợ con ra ngồi bên sông Hương ăn chén chè gánh, uống ly nước bí…Cứ nghĩ biết đâu trong năm mươi người nầy có người là bà con của mình, có người là bạn học ngày xưa. Mà quả thật vậy, có một anh nhận ra mình là bạn học thời còn Trung-Học. Trước Noel, người bạn đi bộ nầy và cùng nhiều bạn khác lại giúp cho hơn sáu trăm em mồ côi ở Kon-Tum, Pleiku có một bữa ăn tối đêm Giáng-Sinh…
 
**
 
Nhiều người vẫn nói tiền bạc không mua được hạnh phúc, nhưng theo Ông Morgan Housel trong cuốn sách vừa xuất bản, The Art of Spending Money, nói như thế là chưa biết cách…tiêu tiền.
 
Cuốn sách đầu tiên của Ông, The Psychology of Money, nghe đâu đã dịch ra trên bốn mươi thứ tiếng, xuất bản đã lâu nhưng đến bây giờ vẫn còn nằm trên kệ của những cuốn sách bán chạy nhất trong các nhà sách ở đây. Thấy có bản dịch tiếng Việt trong mấy nhà sách ở Sài-gòn, Tâm Lý Học Về Tiền. Cuốn sách dù nói về tiền nhưng không dạy về đầu tư: nên mua chứng khoán, bỏ tiền vào trương mục tiết kiệm, đầu tư vào địa ốc, mua vàng hay dấu tiền dưới nệm…mà giúp người đọc hiểu tư duy của con người về tiền bạc. Không có đúng hay sai ở đây. Không thể phán xét cách sử dụng tiền bạc của người khác bởi vì đó là kết quả của một quá trình: sinh ra ở đâu, lớn lên trong gia đình, trong giai đoạn kinh tế xã hội như thế nào, học ở đâu, giao hảo với ai…Điều rất hợp lý, khôn ngoan với người nầy lại rất ngu xuẩn với người khác. Tại sao phải đứng sắp hàng hằng giờ, trả tám mươi lăm đồng cho một buffet mà rồi chỉ ăn cái đùi gà, quả trứng hay miếng pizza trong khi có thể bước qua bên kia đường ăn cùng những thứ đó, không phải sắp hàng và chỉ trả có năm đồng?
 
Có người hàng xóm làm nghề cho vay tiền mua nhà, mỗi năm đổi xe mấy lần. Một lần bắt gặp mình đang dừng lại trầm trồ chiếc xe rất đẹp, sang trọng anh mới mang về đậu trước nhà, anh bước ra giải thích: bây giờ làm nhiều tiền, nếu không dùng ngay thì khi không còn làm nhiều tiền làm sao mua xe mới mình muốn. Người tị nạn, lớn lên trong chiến tranh, qua bao nhiêu khốn khó… sẽ nghĩ khác: bây giờ làm có tiền phải để dành lỡ khi không làm ra tiền thì có mà sống.
 
Một buổi tối thấy có chiếc towing truck đến kéo mấy chiếc xe bóng loáng đi và rồi có người đến khiêng đồ đạc ra đường vì nghe mấy tháng không trả tiền thuê nhà.
 
**
 
Ai sống cũng truy tầm hạnh phúc cho riêng mình và không hạnh phúc nào giống hạnh phúc nào. Con công trống luôn muốn phô diễn cái đuôi đầy màu sắc rực rỡ của mình dù vì cái đuôi nặng nề nầy mà phải đi đứng khó khăn. Nhiều con chim khác chỉ muốn bay lượn trên trời cao dù không ai để ý tới vì đen đúa. Cuốn sách mới nầy, The Art of Spending Money, không dạy đời, không phán xét mà nêu lên không biết bao nhiêu ví dụ những người biết hạnh phúc của mình là gì và biết cách sử dụng đồng tiền mình có để “mua” hạnh phúc. Tiền bạc đem lại TỰ DO, và không thể có hạnh phúc đích thực nếu không có tự do.
 
Tiền bạc không mua được giấc ngủ ngon, không mua được sức khoẻ. Chưa nghe bác sĩ nào nói cứ thay chiếc giường full size bằng chiếc giường king size với mùng màn chiếu gối hàng hiệu, sang trọng, đắt tiền sẽ trị bệnh mất ngủ. Làm sao ngủ ngon được khi cái đầu thì đặt trên cái gối sang trọng đó mà trong lòng thì ngổn ngang trăm mối, đầy lo toan, tính toán…ngay cả về những chuyện không đâu. Và nếu không ngủ được thì sinh ra bệnh tật. Rốt lại, dùng đồng tiền mình có để đi bác sĩ, khám nghiệm tìm ra nguyên nhân của bệnh tật để… uống thuốc. Đêm nằm thay vì đếm tiền sẽ trằn trọc, thử dùng một khoản tiền để “mua”, để làm những điều giúp mang lại sự bình an, nhẹ nhàng trong lòng, vui vẻ với chính mình…coi có dễ có giấc ngủ ngon không.
 
Thay vì gắng làm hôm làm mai, lo lắng kiếm thêm tiền để góp nhặt rồi phải chăm sóc, cất đặt… những thứ  không mang lại giá trị cho đời mình - như nhiều người đã nói: mua những thứ mình không cần để gây ấn tượng với những người không quen biết - mà dùng tiền bạc đã có để chăm sóc bản thân, ăn uống lành mạnh, hoà nhập với thiên nhiên, sống thong dong giữa đời thì sức khoẻ cũng sẽ khá lên.
 
Tiền bạc không mua được thời gian, không mua được giờ thứ hai mươi lăm mỗi ngày, nhưng sự tự do nó mang lại giúp mình quản lý thời giờ tốt hơn, làm hai mươi bốn giờ mỗi ngày “dài” thêm ra, để làm được nhiều điều quý giá hơn, thêm hương hoa cho đời mình.
 
Có người hạnh phúc là những đôi giày, tác giả kể, có cả năm trăm đôi vẫn chưa đủ, vẫn muốn mua thêm. Có người hạnh phúc là đánh tennis hay hơn nên một vài tuần lại mua thêm một cây vợt mới tốt hơn, căng lại dây. Có người bỏ ra vài chục mỗi tuần mua vé số dù không biết đầu tháng có đủ tiền trả tiền điện không vì hạnh phúc hằng ngày của họ là được sống trong niềm hy vọng, hy vọng trúng số để đổi đời. Nhưng cũng có người hạnh phúc không phải là bỏ ra mấy trăm mua đôi một giày xịn Hoka cho chính mình để đi bộ cho êm chân mà là mấy tô bún và phong bì cho người khó khăn ở chợ Đông-Ba, cho bữa ăn đêm Noel của mấy trăm em mồ côi ở Kon Tum. Hay như một người quen, đến thời buổi bây giờ vẫn còn đeo cái earphones có dây để nghe nhạc trên xe lửa khi đi làm, trong lúc giúp một gia đình nghèo - ăn Tết chỉ có một dĩa kẹo và một bình nước trà trên bàn - rất nhiều năm nuôi hai người con ăn học. Bây giờ lại loay hoay tìm gia đình khác để tiếp tục giúp vì hai người đó đã xong rồi, người  anh là bác sĩ, người em đang học master, đã đi làm…Bao nhiêu cái Airpods, Apple Watch, Iphone đời mới cô nầy có thể mua mà không bỏ tiền ra mua, vì hạnh phúc là khi nghĩ tới, chuyện trò, gặp mặt những người mình giúp đổi đời.
 
Ai nói nhiều tiền bạc để làm gì và tiền bạc không mang tới hạnh phúc?
 
**
 
Mùng hai Tết đi bộ xuống chợ Tàu mua ít thức ăn luôn thể thử cái tiệm mì kéo tay mà lúc nào đi ngang cũng thấy vài chục người sắp hàng chờ trước cửa. Chắc phải có gì đặc biệt lắm người ta mới chịu khổ như thế, hay chỉ vì mấy cái video The best noodles in NY City” trên Youtube.
 
Mới mùng hai Tết nhưng trời lại mưa nên không thấy những đoàn múa lân như năm ngoái, dù những dãy đèn lồng vàng đỏ vẫn còn treo khắp nơi và trên đường ướt sũng xác giấy kim tuyến đủ màu. Chỉ có chợ búa, các cửa hàng thịt cá rau ráng là mở cửa. Chợ Tàu ở đây vô cùng lớn, tôm cá thịt thà tươi ngon mà còn rẻ hơn ở Orange County, tiếc là ít khi thấy cá nục, cá ngừ, cá thu, cá bông lau… Người Tàu ăn uống khác mình.
 
Mấy năm trước lên đây gặp lúc Century 21, một department store rất lớn, đang thanh lý hàng hoá vì phá sản nên mua được cái áo jacket màu đen rất vừa ý, lại còn giảm giá tới tám mươi phần trăm. Đem ra khoe với mấy người bạn đến chơi nhưng không nghe ai nói chi cả nên không vui. Nghĩ bụng mấy người nầy tiền bạc thì rất nhiều mà óc thẩm mỹ thì ít, áo như vậy mà không nghe ai khen. Hôm nay chợ Tàu ít người, không ai thúc đẩy sau lưng, cán chân, hích cùi chỏ hay thình lình xuất hiện trước mặt mình trong khi đang sắp hàng mua sắm, vì thế mà có thêm thì giờ nhìn quanh. Mấy người bán thịt, bán cá, bán rau ngoài đường, mấy người khiêng hàng ngoài xe vô tiệm.. ai cũng mặc cái áo jacket đen giống của mình.
 
*
Nguyễn Q.
 
New York City
Tháng Hai, 2026
*Ảnh trong bài do tác giả chụp.
  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…
Đợi, và đợi. Có đến khoảng gần một trăm người xếp hàng đợi. Mới có năm giờ sáng thôi! Trời Đà Lạt đổ sương xuống nghe ướt tóc, ướt vai. Phòng bán vé còn đóng kín cửa. Sáu giờ mới bán vé. Biết vậy rồi, nhưng đám đông người này vẫn đến sớm chờ đợi. Chẳng qua là số xe có giới hạn, mình đến sớm mới mong có xe đi, nếu không thì phải về và trở lại vào ngày mai. Người ta nhìn nhau, như ngầm nói qua đôi mắt rằng đến sớm chắc ăn hơn. Mà không chừng có người đã ngủ đêm trước phòng bán vé để được xếp hàng phía trên cùng.
Tháng 7 trời xanh cao, mùa lên hâm nóng. Mặt đất nung nhiệt ngấm ngầm địa chấn, như muốn cùng người rung vang lời ngân quá khứ. Tháng 7 gọi về hàng phượng đỏ thắm rung rinh chùm nở, thứ lung linh ảo mờ, gần gụi mà xa thẳm, “mù không lối vào...” (TCS). Vang vang trong gió, lời trẻ thơ láng giềng vọng lại đùa vui tiếng nước...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.