Hôm nay,  

Ngứa

03/04/202600:00:00(Xem: 477)

ngua

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa.

 
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.

Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.

Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì.

Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.

Không phải theo cách nhớ thương. Mà theo cách người ta nghĩ đến một đôi giày đã mang quen, vẫn còn dùng được, vẫn không rách, nhưng mỗi sáng xỏ vào là có cảm gì đó không vui, có vẻ hơi nặng hơn hôm qua một chút.

Linh không làm gì sai. Đó chính là cái khó.

Nếu cô ấy làm gì sai thì đơn giản hơn nhiều. Nhưng Linh vẫn gọi anh mỗi tối, vẫn nhớ anh không ăn được hành, vẫn gửi những tin nhắn buổi sáng với dấu chấm than theo kiểu người thật lòng chứ không phải người đang cố gắng. Và Khoa đọc những tin nhắn đó với cảm giác của người nhận quà mà trong lòng biết mình sẽ không giữ nhưng lịch sự đủ để mỉm cười, rồi đặt xuống. Quên.

Em không làm gì sai cả. Câu đó sẽ là câu đầu tiên. Sau đó là gì? Là sự thật: anh chán, anh muốn chia tay, anh không xấu nhưng cũng không đủ tốt để ở lại. Giả yêu là việc anh không muốn làm, vừa mất thời giờ vừa tăng thêm khó chịu. Không biết người khác sao, khi giả yêu mà phải hôn là một việc, ớn. Anh đã nói những câu đó bốn lần rồi: công việc bận, hai đứa không hợp, anh không xứng đáng với em. Lần nào anh cũng tin vào chúng trong lúc nói. Điều đó có nghĩa là anh thành thật. Hoặc có nghĩa là anh giỏi tự thuyết phục đến mức không còn phân biệt được đâu là lý do, đâu là cái cớ.

Nhưng những câu nói đó bị nước mắt của Linh trôi đi. Nan giải. Anh muốn chuyện xấu nhưng muốn làm tốt. Ngày mai, anh phải dứt khoát hơn. Nói thẳng rồi quay lưng. Đừng kịp thấy nước ướt.

Nhưng quyết định đó không làm cho ý nghĩ dừng lại. Nó vẫn xoay. Xoay tròn. Rối quá. Người nóng lên. Rồi anh cảm thấy ngứa sau lưng.

Lúc đầu chỉ là một điểm nhỏ, giữa hai bả vai, đúng chỗ tay không với tới. Anh cựa mình. Ngứa hơn. Cái kiểu ngứa không chịu đứng yên một chỗ, gãi chỗ này nó nhảy sang chỗ khác, như thể nó biết anh đang đuổi theo.

Anh nhìn quanh, thấy cái nĩa ăn cơm trên bàn đầu giường, còn lại từ tô mì khuya hôm qua. Bốn móng nhọn, cán nhựa. Anh đưa ra sau lưng, cào.

Ừ. Đó rồi. Chà, đã quá.

Nhưng chỉ một lúc. Ngứa chạy. Lần này chạy nhanh và chạy chia nhánh ra khắp nơi.

Bỏ cái nĩa. Hai tay gãi nơi này, cào nơi kia, trước ngực, bã vai, sau mông, háng, nách, cườm tay, bắp chân, gãi cuồng loạn.

Tụt hết vải trên người. Gãi điên.

Não anh, không mời, không báo trước, bỗng bật lên hình ảnh cô Tư ở quê. Anh nhớ năm anh mười hai tuổi, đứng ngoài cửa buồng nghe người lớn nói chuyện bằng giọng thấp. Bà cũng bắt đầu như thế này. Ngứa sau lưng. Rồi lan ra. Rồi da bắt đầu dày lên ở những chỗ kỳ lạ, ngón tay bà mất cảm giác dần, không phải mất đột ngột mà mất từ từ, như ánh sáng tắt trong một căn phòng mà người ta quên không vào.

Nhà anh không ai nhắc tên bệnh. Chỉ nói cô bị bệnh ngoài da rồi im lặng theo cách người ta im lặng về những thứ làm xấu mặt dòng họ. Mãi lớn anh mới hiểu. Phong. Cùi.

Khoa gần như ngồi bật dậy.

Không. Vô lý. Thời đại này rồi.

Nhưng sợ hãi không cần lô-gic. Nó chỉ cần một khe hở nhỏ, rồi tự mình rót vào. Đêm hai giờ sáng, một mình, đang ngứa sau lưng và khe hở đó đủ rộng.

Môt hộc tủ trong trí nhớ kín được kéo ra. Đêm đó, anh đang ngủ, giật mình dậy vì tiếng động. Bà cô Tư trần truồng vừa gãi vừa xối nước bên bờ giếng cho bớt ngứa. Cảnh hai tay vung múa, đôi chân nhún nhảy, tóc tai như bụi cây. Cô Tư trông kinh dị.

Khi độ kinh dị giảm xuống, thân thể của người phụ nữ tuổi ba mươi dưới ánh trăng lu nổi bật, hằn sâu trong tâm trí cậu trẻ.

Đây là lần đầu tiên Khoa nhớ cô Tư ngứa. Những lần trước anh nhớ thứ khác.

Não anh chạy theo đường ray của nỗi sợ với cái tốc độ mà bình thường anh dùng để lên kế hoạch, để thuyết phục, để quyến rũ: nếu đúng thì sao? Da sẽ dày lên. Ngón tay mất cảm giác. Khuôn mặt mà Linh thường vuốt ve mỗi tối, sẽ như thế nào? Công việc. Bạn bè. Những ánh mắt trên đường. Tất cả những thứ anh dùng để biết mình là ai. Nếu những thứ đó mất đi thì còn lại gì?

Câu hỏi đó đứng giữa bóng tối, Khoa không có câu trả lời.

Không phải vì câu hỏi quá khó. Mà vì anh chưa bao giờ nghĩ đến nó. Người ta không hỏi còn lại gì khi mọi thứ vẫn còn nguyên đó.

Anh cố nằm im. Ai đó bày, ngứa, càng gãi càng ngứa. Anh ráng nằm im. Hai chân móc vào nhau. Hai tay nắm chặt nhau. Lấy gân toàn thân.

Cơn ngứa tràn lên, thủy triều với đàn cua trên mặt da. Rồi đàn kiến cắn dưới làn da. Rồi bầy ong chíc vào những nơi hiểm. Anh lấy gân. Gồng cứng.

Đúng như họ nói, sau một hồi thịnh nộ, cơn ngứa phát tiết, nó từ từ dịu xuống. Chậm. Tưởng yên. Lại nổi lên tuy nhẹ hơn. Rồi dần.

Anh thở phào.

Đột nhiên, nhớ móng tay Linh khá dài, cứng và nhọn. Anh cười khẽ. Giá mà lúc ngứa có Linh bên cạnh. Cô sẽ căng, hoảng và gãi loạn xạ, gia nhập với hai tay của anh. Cô sẽ muốn ngứa giùm anh. Cô đã từng nói, cô muốn buồn giùm anh, khi anh thất nghiệp. A, con nhỏ này tốt bụng. Cảm giác ấm cúng khi hít hơi vào. Có lẽ, anh không nên nói lời chia tay.

Anh quyết định: sáng mai đi bác sĩ. Thử máu.

Quyết định xong, anh thở ra khá dài. Trong cái thở ra đó có một thứ gì đó hơi giống nhẹ nhõm, hơi giống xấu hổ.

Cảm giác nóng rát khắp người nhất là sau lưng và ngực.

Anh nhận ra móng tay mình dài.

Không phải dài bất thường. Chỉ là lâu không cắt, và trong bóng tối nhìn lại những mảng anh vừa cào lên da, những vùng đỏ, rướm hồng, không ngứa nữa nhưng hơi đau.  

Móng tay anh mọc âm thầm, anh không để ý. Nghĩ đến chuyện móng tay lén mọc. Rồi bất ngờ, chúng nó giải quyết chuyện ngứa. Không gì thừa. Không gì thiếu.

Đến lúc nên cắt móng tay. Anh mở ngăn kéo đầu giường. Không có cái cắt móng tay. Vào nhà tắm. Lục hộp đồ. Không có. Lục ngăn kéo bàn làm việc, túi áo khoác sau cửa, hộc tủ giày nơi không cất gì ngoài giày, ngăn bếp nơi không nấu ăn bao giờ, vẫn không có.

Phòng anh bừa bộn theo cái kiểu anh gọi là thoải mái: giày đây, sách đó, áo vắt qua lưng ghế, ly nước để lăn lóc trên bàn cà phê. Anh quen nhìn qua nó, đi qua nó, như người ta quen nhìn qua những thứ không còn thấy nữa vì thấy hoài. Nhưng lúc này, đang lục, anh nhận ra rằng mình không biết bất cứ thứ gì của mình ở đâu.

Anh đạp lên chiếc tất, trợt chân, ngã.

Không nặng. Hông đập xuống sàn gỗ, đau nhói một cái rồi lan ra thành âm ỉ. Anh nằm yên. Không phải vì đau quá không đứng được, vì cảm giác mệt mỏi. Nằm đâu cũng được.

Bên ngoài, thành phố vẫn sống. Tiếng xe xa, tiếng gió qua khe cửa sổ không đóng kín bao giờ vì anh chưa bao giờ để ý sửa. Trong căn phòng, mớ đồ đạc vừa lục tung nằm im như bằng chứng. Cái nĩa bốn móng nhọn vẫn trên giường.

Kỳ lạ, mọi thứ đều có vị trí của nó đúng vào không gian và thời gian. Cho dù chúng bị xáo trộn, bị xô đẩy, vất bỏ, kể cả con người, mà vẫn đúng chỗ. Tồn tại. Kể cả cơn ngứa, chọn xuất hiện đêm nay, mở lộ ra điều mà anh đã biết nhưng đêm nay thấy rõ thêm. Yêu không chỉ là cuồng nhiệt thân xác.

Anh bắt đầu xoay quanh sự kỳ lạ vừa khám phá. Một lát, ý nghĩ bắt đầu rối. Tại sao người ta lại muốn sắp đặt mọi thứ?  Hơi thở có cần phải sắp đặt hay lên kế hoạch không? Không cần sắp xếp gì cả, cứ trôi theo dòng chảy, đến đoạn cuối, anh sẽ ra sao? Hiện diện theo cách nào? Rối quá.

Rồi, mồ hôi. Người nóng lên. Cảm giác có thứ gì lăn tăn, một điểm nhỏ sau lưng, giữa hai bả vai. Bắt đầu.
 
Ngu Yên 
 

Mẹ tôi, con gái quê Sơn Tây, sống cùng thời với thi sĩ Quang Dũng, nổi tiếng với bài thơ “Đôi Mắt Người Sơn Tây”. Mẹ đi lấy chồng, gia tài vỏn vẹn một con lợn nái. Mẹ kể mỗi khi ăn no, nó lại nằm ịch ngay giữa nhà, ụt ịt chờ mẹ xoa bụng. Bà ngoại mua để mẹ nuôi, lớn lên bán được số tiền to làm vốn xem như của hồi môn lúc ra riêng...
Vấn là bạn sách đèn thân thiết với Thạnh từ thuở bé. Cha Thạnh với mẹ Vấn cũng là anh em cô cậu ruột. Do vậy, anh chị em Thạnh dù lớn hay nhỏ đều là vai trên của Vấn. Vấn lại rất hiền lành nên cả nhà Trúc đều thương mến. Suốt tuổi học trò Vấn vẫn hay đến nhà Thạnh, nơi đầy đủ tiện nghi cho hơn ở nhà để cùng Thạnh học hành...
Ngày cuối tuần nào cũng như ngày hội, đường phố khu thủ đô tỵ nạn nầy đông khách lạ lùng. Thiên hạ các vùng chung quanh đổ xô đến, thi đua cùng với du khách từ những tiểu bang khác về. Nam thanh nữ tú thướt tha. Áo quần màu mè đủ vẻ đủ dáng. Những tiếng cười dòn tan yêu đời khắp chốn...
Chiếc xe hơi chạy trên con đường hẹp, uốn lượn, hai bên là những cánh đồng lúa mì hầu hết đã được gặt xong, đây đó những bó rơm, cỏ khô được cuộn tròn nằm rải rác, những cánh rừng thưa xanh ngắt, những bụi cỏ lau màu tím hồng phất phơ trong gió, những trang trại với hàng chục con cừu, bò, và cả ngựa đang thong dong gặm cỏ, những căn nhà, quán rượu, nhà thờ…hầu hết được xây bằng đá đã xỉn màu vì thời gian, với những cửa sổ bằng kính có khung sơn trắng và kiến trúc đặc thù của vùng Yorkshire...
Kéo dài được hai năm, cuối cùng thì hắn cũng quyết định bỏ trường để về nhà đi buôn. Đây là một việc cân não mà hắn đã dằn vặt vật vã suốt một thời gian dài. Hắn là sinh viên giỏi, vốn được tuyển thẳng vào trường sư phạm, thật tình mà nói thì hắn muốn vào Bách Khoa chứ chẳng phải sư phạm, chọn sư phạm vì được miễn học phí nên miễn cưỡng chấp nhận...
Em yêu dấu: Anh sẽ kiến giải câu nói thời danh của Marcel Proust (*) để qua đó em có thể cầm nắm được trái tim nóng bỏng của anh trên tay. Marcel Proust nói rằng "Tình yêu là đem không gian đổi lấy thời gian”...
Suốt cả tuần nay Tokyo chỉ có một ngày nắng, hôm nay mưa đã tạnh thì khăn gói về vùng Kyoto/Osaka. Hai tuần nữa khi về lại đây thì những cây đào mượt mà nầy chỉ còn những cành cây cằn cỗi, phủ đầy rêu, trơ trụi. Vì thế mà chuôi kiếm của người samurai thường khắc cánh hoa đào để biểu tượng cho cuộc đời hào hùng, đẹp đẽ mà ngắn ngủi, đầy bất trắc.
Thành phố đầu tiên chúng tôi dự tính đến thăm là Thành phố Philadelphia, một thành phố đã từng là thủ đô của Hoa Kỳ trong thời kỳ đầu lập quốc mà nay nó đã trở thành cố đô. Sau đó chúng tôi sẽ đi thăm một vài di tích lịch sử, văn hoá và thắng cảnh đặc biệt của Tiểu bang Pennsylvania nếu thời gian cho phép...
Thầy ngồi trên kia, sau cái bàn rộng, chỉ có một quyển sách mỏng trước mặt và không thấy ông mở ra. Như thói quen, ông không viết bài, viết dàn bài trên bảng, phấn với bảng ít khi ông dùng tới, có thể tất cả đã được sắp xếp chuẩn bị chu đáo và có lớp lang trong đầu ông. Đúng vậy, ông vẫn từ tốn nói theo những ý nghĩ dường như vẫn có sẵn trong tâm trí. Ông nói không vấp váp, từ từ, lôi cuốn và thuyết phục. Ông có một « schéma » trình tự đi tới, đi tới không hề áp đảo...
Sau 1975 những người còn ở lại miền Nam Việt Nam không biết những ai đã nghĩ ra và những ai đã là người đầu tiên ra khơi vượt biển đi tìm tự do, để cho dòng người đi sau tiếp nối không bao giờ ngừng nghỉ nếu các trại tị nạn không đóng cửa chấm dứt chương trình cưu mang những người vượt biển. Ai cũng mơ ước, cũng tính đường đi tìm tự do tùy theo hoàn cảnh khả năng tài chính của mình. Bao nhiêu người đã may mắn đến bến bờ và cũng bao nhiêu người bất hạnh bỏ xác ngoài biển khơi!
Ở xóm tôi, từ đầu xóm đến cuối xóm, hầu như nhà nào cũng có người đi vượt biên. Nhưng không phải ai cũng may mắn đến bờ tự do, bởi nếu đếm số người “đi không về và cũng không bao giờ đến” ở xóm cũng cỡ hai chục mạng người, trong đó có cô bạn rất thân yêu của tôi và một gia đình mất một lúc sáu người, đó là gia đình Bà Già Gân...
Tôi nhớ dạo còn nhỏ, ba tôi thường hay kể về chuyện “chạy giặc” cho anh em tôi nghe. Đại khái là vào những năm 1944-1945 ở Đà Lạt cũng rơi vào tình trang chiến tranh như mọi nơi khi sự hiện diện của hai quân đội Pháp lẫn Nhật trên mảnh đất Hoàng Triều Cương Thổ của nhà Nguyễn...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.