Hôm nay,  

Ngứa

03/04/202600:00:00(Xem: 500)

ngua

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa.

 
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.

Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.

Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì.

Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.

Không phải theo cách nhớ thương. Mà theo cách người ta nghĩ đến một đôi giày đã mang quen, vẫn còn dùng được, vẫn không rách, nhưng mỗi sáng xỏ vào là có cảm gì đó không vui, có vẻ hơi nặng hơn hôm qua một chút.

Linh không làm gì sai. Đó chính là cái khó.

Nếu cô ấy làm gì sai thì đơn giản hơn nhiều. Nhưng Linh vẫn gọi anh mỗi tối, vẫn nhớ anh không ăn được hành, vẫn gửi những tin nhắn buổi sáng với dấu chấm than theo kiểu người thật lòng chứ không phải người đang cố gắng. Và Khoa đọc những tin nhắn đó với cảm giác của người nhận quà mà trong lòng biết mình sẽ không giữ nhưng lịch sự đủ để mỉm cười, rồi đặt xuống. Quên.

Em không làm gì sai cả. Câu đó sẽ là câu đầu tiên. Sau đó là gì? Là sự thật: anh chán, anh muốn chia tay, anh không xấu nhưng cũng không đủ tốt để ở lại. Giả yêu là việc anh không muốn làm, vừa mất thời giờ vừa tăng thêm khó chịu. Không biết người khác sao, khi giả yêu mà phải hôn là một việc, ớn. Anh đã nói những câu đó bốn lần rồi: công việc bận, hai đứa không hợp, anh không xứng đáng với em. Lần nào anh cũng tin vào chúng trong lúc nói. Điều đó có nghĩa là anh thành thật. Hoặc có nghĩa là anh giỏi tự thuyết phục đến mức không còn phân biệt được đâu là lý do, đâu là cái cớ.

Nhưng những câu nói đó bị nước mắt của Linh trôi đi. Nan giải. Anh muốn chuyện xấu nhưng muốn làm tốt. Ngày mai, anh phải dứt khoát hơn. Nói thẳng rồi quay lưng. Đừng kịp thấy nước ướt.

Nhưng quyết định đó không làm cho ý nghĩ dừng lại. Nó vẫn xoay. Xoay tròn. Rối quá. Người nóng lên. Rồi anh cảm thấy ngứa sau lưng.

Lúc đầu chỉ là một điểm nhỏ, giữa hai bả vai, đúng chỗ tay không với tới. Anh cựa mình. Ngứa hơn. Cái kiểu ngứa không chịu đứng yên một chỗ, gãi chỗ này nó nhảy sang chỗ khác, như thể nó biết anh đang đuổi theo.

Anh nhìn quanh, thấy cái nĩa ăn cơm trên bàn đầu giường, còn lại từ tô mì khuya hôm qua. Bốn móng nhọn, cán nhựa. Anh đưa ra sau lưng, cào.

Ừ. Đó rồi. Chà, đã quá.

Nhưng chỉ một lúc. Ngứa chạy. Lần này chạy nhanh và chạy chia nhánh ra khắp nơi.

Bỏ cái nĩa. Hai tay gãi nơi này, cào nơi kia, trước ngực, bã vai, sau mông, háng, nách, cườm tay, bắp chân, gãi cuồng loạn.

Tụt hết vải trên người. Gãi điên.

Não anh, không mời, không báo trước, bỗng bật lên hình ảnh cô Tư ở quê. Anh nhớ năm anh mười hai tuổi, đứng ngoài cửa buồng nghe người lớn nói chuyện bằng giọng thấp. Bà cũng bắt đầu như thế này. Ngứa sau lưng. Rồi lan ra. Rồi da bắt đầu dày lên ở những chỗ kỳ lạ, ngón tay bà mất cảm giác dần, không phải mất đột ngột mà mất từ từ, như ánh sáng tắt trong một căn phòng mà người ta quên không vào.

Nhà anh không ai nhắc tên bệnh. Chỉ nói cô bị bệnh ngoài da rồi im lặng theo cách người ta im lặng về những thứ làm xấu mặt dòng họ. Mãi lớn anh mới hiểu. Phong. Cùi.

Khoa gần như ngồi bật dậy.

Không. Vô lý. Thời đại này rồi.

Nhưng sợ hãi không cần lô-gic. Nó chỉ cần một khe hở nhỏ, rồi tự mình rót vào. Đêm hai giờ sáng, một mình, đang ngứa sau lưng và khe hở đó đủ rộng.

Môt hộc tủ trong trí nhớ kín được kéo ra. Đêm đó, anh đang ngủ, giật mình dậy vì tiếng động. Bà cô Tư trần truồng vừa gãi vừa xối nước bên bờ giếng cho bớt ngứa. Cảnh hai tay vung múa, đôi chân nhún nhảy, tóc tai như bụi cây. Cô Tư trông kinh dị.

Khi độ kinh dị giảm xuống, thân thể của người phụ nữ tuổi ba mươi dưới ánh trăng lu nổi bật, hằn sâu trong tâm trí cậu trẻ.

Đây là lần đầu tiên Khoa nhớ cô Tư ngứa. Những lần trước anh nhớ thứ khác.

Não anh chạy theo đường ray của nỗi sợ với cái tốc độ mà bình thường anh dùng để lên kế hoạch, để thuyết phục, để quyến rũ: nếu đúng thì sao? Da sẽ dày lên. Ngón tay mất cảm giác. Khuôn mặt mà Linh thường vuốt ve mỗi tối, sẽ như thế nào? Công việc. Bạn bè. Những ánh mắt trên đường. Tất cả những thứ anh dùng để biết mình là ai. Nếu những thứ đó mất đi thì còn lại gì?

Câu hỏi đó đứng giữa bóng tối, Khoa không có câu trả lời.

Không phải vì câu hỏi quá khó. Mà vì anh chưa bao giờ nghĩ đến nó. Người ta không hỏi còn lại gì khi mọi thứ vẫn còn nguyên đó.

Anh cố nằm im. Ai đó bày, ngứa, càng gãi càng ngứa. Anh ráng nằm im. Hai chân móc vào nhau. Hai tay nắm chặt nhau. Lấy gân toàn thân.

Cơn ngứa tràn lên, thủy triều với đàn cua trên mặt da. Rồi đàn kiến cắn dưới làn da. Rồi bầy ong chíc vào những nơi hiểm. Anh lấy gân. Gồng cứng.

Đúng như họ nói, sau một hồi thịnh nộ, cơn ngứa phát tiết, nó từ từ dịu xuống. Chậm. Tưởng yên. Lại nổi lên tuy nhẹ hơn. Rồi dần.

Anh thở phào.

Đột nhiên, nhớ móng tay Linh khá dài, cứng và nhọn. Anh cười khẽ. Giá mà lúc ngứa có Linh bên cạnh. Cô sẽ căng, hoảng và gãi loạn xạ, gia nhập với hai tay của anh. Cô sẽ muốn ngứa giùm anh. Cô đã từng nói, cô muốn buồn giùm anh, khi anh thất nghiệp. A, con nhỏ này tốt bụng. Cảm giác ấm cúng khi hít hơi vào. Có lẽ, anh không nên nói lời chia tay.

Anh quyết định: sáng mai đi bác sĩ. Thử máu.

Quyết định xong, anh thở ra khá dài. Trong cái thở ra đó có một thứ gì đó hơi giống nhẹ nhõm, hơi giống xấu hổ.

Cảm giác nóng rát khắp người nhất là sau lưng và ngực.

Anh nhận ra móng tay mình dài.

Không phải dài bất thường. Chỉ là lâu không cắt, và trong bóng tối nhìn lại những mảng anh vừa cào lên da, những vùng đỏ, rướm hồng, không ngứa nữa nhưng hơi đau.  

Móng tay anh mọc âm thầm, anh không để ý. Nghĩ đến chuyện móng tay lén mọc. Rồi bất ngờ, chúng nó giải quyết chuyện ngứa. Không gì thừa. Không gì thiếu.

Đến lúc nên cắt móng tay. Anh mở ngăn kéo đầu giường. Không có cái cắt móng tay. Vào nhà tắm. Lục hộp đồ. Không có. Lục ngăn kéo bàn làm việc, túi áo khoác sau cửa, hộc tủ giày nơi không cất gì ngoài giày, ngăn bếp nơi không nấu ăn bao giờ, vẫn không có.

Phòng anh bừa bộn theo cái kiểu anh gọi là thoải mái: giày đây, sách đó, áo vắt qua lưng ghế, ly nước để lăn lóc trên bàn cà phê. Anh quen nhìn qua nó, đi qua nó, như người ta quen nhìn qua những thứ không còn thấy nữa vì thấy hoài. Nhưng lúc này, đang lục, anh nhận ra rằng mình không biết bất cứ thứ gì của mình ở đâu.

Anh đạp lên chiếc tất, trợt chân, ngã.

Không nặng. Hông đập xuống sàn gỗ, đau nhói một cái rồi lan ra thành âm ỉ. Anh nằm yên. Không phải vì đau quá không đứng được, vì cảm giác mệt mỏi. Nằm đâu cũng được.

Bên ngoài, thành phố vẫn sống. Tiếng xe xa, tiếng gió qua khe cửa sổ không đóng kín bao giờ vì anh chưa bao giờ để ý sửa. Trong căn phòng, mớ đồ đạc vừa lục tung nằm im như bằng chứng. Cái nĩa bốn móng nhọn vẫn trên giường.

Kỳ lạ, mọi thứ đều có vị trí của nó đúng vào không gian và thời gian. Cho dù chúng bị xáo trộn, bị xô đẩy, vất bỏ, kể cả con người, mà vẫn đúng chỗ. Tồn tại. Kể cả cơn ngứa, chọn xuất hiện đêm nay, mở lộ ra điều mà anh đã biết nhưng đêm nay thấy rõ thêm. Yêu không chỉ là cuồng nhiệt thân xác.

Anh bắt đầu xoay quanh sự kỳ lạ vừa khám phá. Một lát, ý nghĩ bắt đầu rối. Tại sao người ta lại muốn sắp đặt mọi thứ?  Hơi thở có cần phải sắp đặt hay lên kế hoạch không? Không cần sắp xếp gì cả, cứ trôi theo dòng chảy, đến đoạn cuối, anh sẽ ra sao? Hiện diện theo cách nào? Rối quá.

Rồi, mồ hôi. Người nóng lên. Cảm giác có thứ gì lăn tăn, một điểm nhỏ sau lưng, giữa hai bả vai. Bắt đầu.
 
Ngu Yên 
 

Cô bé bỗng nghẹn lời làm Bách ngạc nhiên, anh mở hẳn cửa bước ra ngoài chưa kịp hỏi thêm thì Chinh đã quay ngoắt đi y như lúc nãy để bước lên thang lầu, nhưng lần này cô đứng gần Bách quá, chùm tóc đuôi ngựa của Chinh vùng vằng đã hắt vào mặt Bách, sự dỗi hờn vô cớ làm Bách càng thêm ngạc nhiên...
Chuyện vợ chồng Hạnh-Bằng cãi nhau, rồi goánh nhau (thực ra là chị bị goánh), rồi lại huề nhau vui vẻ “như chưa hề có cuộc… goánh nhau” xảy ra như cơm bữa, riết rồi trong con hẻm này, chẳng ai còn để ý nữa...
Chuyến về quê của tôi chỉ là đi từ Nam ra Bắc, vì tôi là một cư dân của Sài An, tức là Sài Gòn, nói văn vẻ dựa hơi Tràng An một tí. Đối với tôi, thành phố hoa lệ một thời mà tôi đã sinh sống từ thuở thơ ấu đến ngày bạc tóc hôm nay vẫn mãi là Sài Gòn. Và chỉ là Sài Gòn thôi...
Hôm cô tự kết liễu đời mình, cô mặc chiếc áo lụa trắng ra chợ huyện như một thói quen. Ra chợ nhưng cô không mua thức ăn như mọi lần về nấu cho cô và gã bác sĩ bộ đội ăn tối. Đầu óc cô hoàn toàn trống rỗng như tờ giấy trắng tinh, hai chân cô như bị vô thức sai khiến, mắt cô nhìn nhưng chẳng hình ảnh nào đập vào trí óc, và các thứ âm thanh hỗn độn của một buổi họp chợ sáng nghe như những nhiễu âm không qua máy lọc...
Tương truyền đây là những lời thơ Nôm mà vua Quang Trung phê vào sớ tâu của dân làng Văn Chương. Tờ sớ khá dài, trong đó nêu lên sự hư hoại gãy đổ bia tiến sĩ ở văn miếu. Người dân đồ đoán văn miếu bị tàn phá là do quân Tây Sơn trong lúc đánh dẹp họ Trịnh đã gây ra vừa đưa thêm giả thuyết do Trịnh Khải cho người phá hoại để đổ vấy cho Tây Sơn. Điều đáng nói ở đây là khi nhận sớ, vua Quang Trung chẳng những không giận dữ mà còn đích thân dùng chữ Nôm để phê với thái độ cầu thị vô cùng đặc biệt của ngài...
Mấy người khác đều thay nhau thử bồng nhưng đứa trẻ nhất quyết không chịu và cứ một mực đòi sư Khánh Vân. Sư Khánh Vân gọi chú tiểu Công Sơn lại bế thử thì người ta lại ngạc nhiên thấy đứa nhỏ nín khóc chịu cho bồng. Mọi người đều cười...
Năm tôi lên mười, O Xưa đã trên ba mươi. Ở con đường Nam Giao, thành phố Huế, từ đầu dốc tới cuối dốc, O Xưa đi lên đi xuống hằng ngày giống như một cái bóng, vì hình như O không sống với người. O Xưa sống với ma, người chồng ma của O vô hình, ở đâu đó, trên cây, trong cỏ, trên lá, trong vòm trời, trong bóng mây, O kể lể vậy. Có thể nhìn thấy O Xưa vào buổi sáng, vào giờ công chức đi làm, học sinh đi học và các bà nội trợ Huế ngồi xúm xít bên gánh bún bò ngon nổi tiếng của mụ Dục, bên gánh cơm Hến của mụ Khế, gánh bánh canh từ Nam Phổ của mụ Cau. Buổi trưa, lúc O Xưa đi từ trên con dốc xuống, đầu đội nón thì mấy bà nội trợ đang ngồi lê đôi mách với nhau ở cái quán tre đầu một con hẻm.
Với tôi, tháng Hai là tháng mùa đông tàn phai, chuẩn bị tâm hồn phơi phới cho những ngày sắp tới. Các bạn tôi giãy nảy lên, xúm vào bảo tôi “nói thách” sớm quá, vì tháng Hai vẫn là mùa đông, nhiệt độ vẫn ở độ âm dưới zero, tuyết vẫn rơi bao la, vậy tàn đông cái nỗi gì!
Hôm thứ Ba vừa rồi, vợ chồng tôi đến ga NTG đón hai mẹ con người bạn vào chơi trên chuyến tàu Bắc-Nam SE7 dự kiến sẽ đến ga lúc 9h15 AM, Chúng tôi ngồi ở phòng đợi cùng với những hành khách đón tàu xuôi các ga phía Nam...
Tôi đạp xe về nhà với cõi lòng lâng lâng. Chẳng biết từ lúc nào tôi đã thương mến thầm anh Phượng hàng xóm, anh hơn tôi chừng 7, 8 tuổi, hát hay đàn giỏi, thỉnh thoảng buổi tối anh ngồi trước cửa nhà đàn hát, tiếng hát ngọt ngào của anh đã rót vào trái tim 16 tuổi trăng tròn của tôi những tình cảm bâng khuâng. Anh đi lính, xóm vắng anh, vắng cả những đêm khuya tiếng hát tiếng đàn...
Ở vùng quê người ta vẫn dùng một vài thứ lá như lá vối, lá "ngấy" (không phải lá ngái), lá bò bò, dây lá nhãn lồng (có nơi gọi lá mắm nêm) kiếm từ rừng rẫy về xắt ra, phơi khô trữ từng bao để nấu uống dần thay lá chè (trà). Nước các thứ lá ấy ai cũng dùng được, cả nhà sẽ uống suốt ngày...
Tôi sắp kể một chuyện thật ghê sợ, kể một cách không màu mè. Tôi chẳng mong đợi ai tin chuyện tôi kể cả. Quả vậy, có điên mới mong như vậy, vì chính những giác quan thật của tôi cũng phủ nhận sự hiển nhiên này. Phải.Tôi không điên và chắc chắn là tôi không nằm mơ. Nhưng ngày mai tôi không còn sống, và hôm nay tôi phải cất đi gánh nặng này trong tâm hồn. Mục đích trước mắt của tôi là trình bày một chuỗi các sự việc một cách rõ ràng, ngắn gọn, không bình luận. Bởi hậu quả của nó, những sự việc này đã làm tôi hoảng sợ, đã hành hạ tôi, đã hủy hoại tôi. Sau này có thể ai đó điềm tĩnh hơn, có đầu óc lập luận hơn tôi và không dễ bị kích động như tôi, sẽ hiểu được trường hợp của tôi không có gì khác hơn là luật nhân quả thông thường và rất tự nhiên.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.