Thơ Nguyễn Đức Sơn

20/12/201910:12:00(Xem: 10238)
bia 1
Hình bìa.

THƠ VÀ ĐÁ

 

Đá hát

Ngàn thâu

Tóc râu

Ta nhịp

Thơ hát

Đá át

Hồn sa

Bát ngát

 

****

 

RẰM

 

Đá nhập thơ

Nhảy trờ trờ

Trời nguyệt mở

 

****

 

VẠN CỔ

 

Đá chọi thơ

Thơ chọi đá

Sáng mịt mờ

Cõi quá lạ

 

****

 

ĐÁ HÁT

 

Đá ca

Trăng tà

Thiên ma

Bách chiết

Khuya nghe đá hát

Đòn roi thấm rát

Bất tận hồn mơ

Bốc cao tiếng sát

 

****

 

MỘNG

 

Nhà đá

Trăng tà

Vạn cổ

Hồn ta

 

****

 

ĐÊM NAY

 

Qua khe cửa sắt nhà tù

Tôi thấy trăng mù

Nín thở

 

****

 

THIÊN CAO

 

Mây bạc về đâu

Bên trên cửa sổ

Ta đợi ngoài thâu

Chuyến đi quá đắt

 

****

 

TRĂNG và MỘNG

 

Thôi trăng

Đừng vào thăm ta

Mộng đã chín ngoài xa

Vạn dặm

 

****

 

BÀI THƠ HY VỌNG

 

Thơ ca

Không đồng nghĩa

Với kêu la

Trối chết

Đồng hóa

Với trời đất bao la

Thơ ca

Có tiếng la

Từ đó

Từ đó

Giọt lệ phải sa

Cho thiên hà

Lấp ló

 

****

 

SAO

 

Núi sinh ra

Họa hoằn lắm

Mới

Có chỗ mềm

Nhưng

Cũng đủ

Cho kẻ xấu

Ngày đêm

Chê trách

 

****

 

TÔI KHÔNG HIỂU

 

Những trái tim

Trăm năm chao đảo

Nói gì

Với cái đầu

Ngàn năm

Trụ giữa giông bão

 

****

 

SỐNG

 

Cùng với thơ

Chẳng lẽ

Chỉ còn có

Một cách

Là đứng một chân

Trên núi

 

****

 

CHIỀU

 

Gò đống

Ngang qua

Ma

Một lũ

Đang ngồi cú rủ

Không thấy đứa nào hỏi

Trái đất

Mới hay cũ

Dẫu sao thì

Người

Đang sống

Phải nhào với

Ma

Một đống

 

****

 

GIỜ ĐỢI HÀNH QUYẾT

 

Cứ hỏi

Thật

Trời xanh

Khi

Các anh

Chưa bóp cò

Thì

Tự do

Đã gục

 

****

 

MAI KIA TỪ GIÃ CÕI ĐỜI

 

Mai kia từ giã cõi đời

Đừng nghe

Cái cẳng từng rời cái chân

Cái xa nhập với cái gần

Cái lạ lẫm

Cái thiết thân một rồi

Không có đứng

Không có ngồi

Không trên

Không dưới

Bồi hồi là sao

Không nghiệt ngã

Không ngọt ngào

Trần gian trở lại

Ta chào chính ta

 

 

*****

 

Nguyen Duc Son _Truong Dinh Uyen minh hoa
Nguyễn Đức Sơn, nhìn bởi HS Trương Đình Uyên



Vài dòng tiểu sử nhà thơ Nguyễn Đức Sơn

 

Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn quê gốc làng Thanh Lương, huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế.  Ông sinh ngày 18 tháng 11 năm 1937 tại làng Dư Khánh, tỉnh Ninh Thuận.  Nguyễn Đức Sơn bắt đầu sáng tác thơ với bút hiệu Sao Trên Rừng. Ông làm thơ rất sớm, xuất bản nhiều tập thơ và truyện ngắn từ đầu thập niên 60 cho tới năm 73. Ông là một trong bốn thi sĩ thường được gọi là “Tứ trụ thi ca” của miền Nam Việt Nam (ba người kia là Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên.) Sơn Núi là tên gọi thân mật khi hàn huyên với bạn bè. Hiện vợ chồng Nguyễn Đức Sơn sống ở đồi Phương Bối, xã Lộc Châu, thành phố Bảo Lộc.

 

Các tác phẩm đã xuất bản:

 

Tập truyện:

  • Cát Bụi Mệt Mỏi (An Tiêm, 1968)
  • Cái Chuồng Khỉ (An Tiêm, 1969)
  • Xóm Chuồng Ngựa (An Tiêm, 1971)
  • Ngồi Đợi Ngoài Hành Lang (chưa in)

 

Thơ:

  • Hoa Cô Độc (Mặt Đất, 1965)
  • Bọt Nước (Mặt Đất, 1966)
  • Lời Ru (Mặt Đất, 1966)
  • Đêm Nguyệt Động (An Tiêm, 1967)
  • Vọng (An Tiêm, 1972)
  • Mộng Du Trên Đỉnh Mùa Xuân (An Tiêm, 1972)
  • Tịnh Khẩu (An Tiêm, 1973)
  • Du Sỹ Ca (An Tiêm, 1973)
  • Thơ và Đá (Văn Học Press, 2019).

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tới rồi mùa thu | Vẫn còn nắng. chưa thấy mù | Sẽ bưng mấy chậu phù du vô nhà
Chúng ta đang trôi đi đâu?! xuất hiện như một tập nhật ký chữ nghĩa, không phải để giải thích, cũng không để an ủi. Nó gợi nhiều hơn là nói, buộc độc giả phải cắm cúi dò trong đống chữ khúc khuỷu để tìm lấy một mảnh ánh sáng. Thơ của Bùi Chát không đi bằng cảm xúc bộc phát. Nó đi bằng những mâu thuẫn đẩy nhau, bằng chữ tự mổ xẻ chính nó. “Không phải cảm xúc / Mà chính là ngôn ngữ / Sinh ra thơ.” Câu thơ trông như một định nghĩa, thực chất lại là một phủ định, một cuộc đảo chính. Tình cảm ở đây không biến mất, mà bị kéo ra sau, thành phụ phẩm của thao tác chữ. Sự lạnh lẽo ấy làm cho thơ anh sáng rực, như ánh thép lóe trên lưỡi dao.
Nắng vạm vỡ leo bám lưng trưa, Ci sei tu… Em ở đó… Mùa hè nào đã đi qua. Đi qua như một tích tắc đời. Connie Francis Al di là cao vút giữa ngày, gọi nắng xuống cho đầy chiều chưa tới. Khi môi mấp máy điệu hờ tháng 9. Khi màu hoàng hổ trườn trên chiếc lá thu còn sót chút lục xanh. Như môi người còn đọng thanh xuân. Như mọi điều đã đi qua rớt lại mối diên trì...
Người ta đã tháo đi những bóng đèn | Không có ánh sáng | Nên không gây những tiếng động ban đêm | Khi chim ấp trứng | Những cái trứng | rất đỗi bình thường
Ngày 15 tháng 9 năm 2025, Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ công bố Arthur Sze là thi sứ ‘Poet Laureate’ thứ 25 của Hoa Kỳ. Ông là thi sĩ gốc Á đầu tiên giữ vị trí này, sẽ chính thức ra mắt trong buổi đọc thơ tại Washington vào tháng Mười. Tin này đến - giữa thời buổi chữ nghĩa bị giản lược thành khẩu hiệu, bị cuốn theo dòng truyền thông ồn ã, chớp nhoáng - như một tín hiệu ngược dòng: thơ vẫn còn giữ vững chỗ đứng riêng của nó, như thân xác vẫn còn linh hồn.
Nguyên Yên, một trong những nhà thơ đương đại nổi tiếng ở hải ngoại. Cô chưa in một tập thơ nào, chỉ xuất hiện trên một số trang web như Việt Báo, Văn Việt, Hợp Lưu, Blog Trần thị Nguyệt Mai, Phố Văn… Ngoài những bài viết về thời sự, bình luận ký tên thật Nina Hòa Bình Lê với cái nhìn sắc bén và nhân ái, người đọc còn được biết đến Thơ của cô, với bút danh Nguyên Yên. Một tiếng thơ gây ngạc nhiên bởi ý tưởng, hình ảnh độc đáo, giản dị, mạnh mẽ, trữ tình. Tôi thực sự bị dòng thơ này lôi cuốn.
Bây giờ | mỗi sáng tôi vào Việt Báo | Đọc những câu chuyện về cuộc đời xa xưa của Đức Phật thay cho những Tin Tức Thời Sự về nước Mỹ | Trong những câu chuyện về Đức Phật | Tôi không nghe thấy tiếng súng | Tôi không nghe thấy hận thù | Tôi không nghe thấy bất công | Và không nghe thấy cả những điều ngu dốt kỳ thị.
Người sẽ tiếc vì treo tôi trên chiếc thòng lọng | Tôi ngu gì tự ải | Thoát đi như bóng đêm | Trên bến | Con thuyền
Vì tình yêu như bơ trét giữa ổ bánh. Trét ít thì khô. Trét nhiều thì nhão. Trét đúng phận người, vừa trơn vừa thơm, hương vị mỗi miếng tình. Thịt nguội, chả lụa, em đừng để dành quá lâu, dễ bị hỏng.
Theo đại thi hào R.Tagore "Cũng như nụ cười và nước mắt, thực chất của thơ là phản ánh một cái gì đó hoàn thiện từ bên trong". Theo tác giả cổ đại Ovid (khoảng năm 43 trước Công Nguyên) thì: “Có ít nhiều sự thoải mái trong cơn khóc”. Thi sĩ Colley khẳng định: “Lời nói để khóc và nước mắt để nói” Thi sĩ người Pháp Alfred de Musset có câu thơ: “Cái duy nhất còn lại cho tôi ở trên đời/ Chính là những lúc đã đôi lần nhỏ lệ”. Thi sĩ người Anh Robert Herrick: “Giọt lệ chính là ngôn ngữ cao quý của đôi mắt” .Nhà thơ trẻ Nepal, Santosh Kalwar tâm sự: Tôi đã mỉm cười ngày hôm qua. Tôi đang mỉm cười ngày hôm nay và khi ngày mai đến, tôi sẽ mỉm cười. Vì đơn giản, cuộc sống quá ngắn để ta khóc về mọi thứ – Và ai đó đã cho rằng: Không có gì đẹp hơn một nụ cười đã trải qua những giọt nước mắt.