Chiếc Áo Của Ai

23/06/202016:32:00(Xem: 5382)

(Ngày soạn quần áo của Chi mang cho.)


blankblank


Em mất một trăm ngày

Hương còn đầm khăn áo 

Chị tung áo khắp nhà

Nỗi buồn không tiếng động


Nhớ em mặc áo này

Nhớ em quàng khăn ấy

Tiếng cười còn vướng lại 

Giữa hai đầu chéo khăn


Cầm lên lại bỏ xuống

Chiếc áo mầu tím than

Mầu tím như nốt nhạc

Rơi xuống buổi chiều vàng


Em đã nằm im lặng

Trong chiếc bình lặng im

Chị khua mặt hồ động

Nước không còn bóng chim


Chị không “đập cổ kính

Cất tàn y” xưa sau

Hương em trong ngực chị

Đọng tím một nỗi sầu


Lưỡng lự rồi cũng chọn

Một chiếc áo cất đi

Xếp cùng khăn áo chị

Như thủa bé nằm kề


Một trăm ngày rồi đấy

Rồi một năm, hai năm

Chị già thêm, chị lẫn

Ngu ngơ giữa áo khăn


Áo em và áo chị 

Ký ức thời gian phai

Một ngày tay sẽ hỏi

Ồ, chiếc áo của ai?


tmt

Ngày 23/6/2020



Ý kiến bạn đọc
24/06/202003:11:24
Khách
Nhạn vô di tích chi ý ..iAi ở ai đi ..xin cả hai bảo trọng
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
phân thân ̶ ̶ ̶ bạn nói phân thân / nhẹ nhàng tách rời khỏi xác / lênh đênh trên dòng chảy vô hạn / bềnh bồng trong bầu sinh quyển phi trọng lượng / như lạc vào một bức tranh chagall...
Trong thơ ta có gió / Để tháng ngày ngao du / Trong thơ ta có núi / Đứng bên bờ ưu tư...
Gerald McCarthy vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 17 tuổi, phục vụ tại Việt Nam trong hai năm 1966-1967, trong Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu Hoa Kỳ (1st Combat Engineer Battalion) tại Chu Lai và rồi tại Đà Nẵng. Sau một nhiệm kỳ trong quân ngũ, McCarthy đào ngũ, bị bắt vào một nhà tù dân sự rồi chuyển vào quân lao. Những bài thơ đầu tiên của ông gom lại ấn hành trong thi tập War Story, ghi lại các suy nghĩ với kinh nghiệm tại Việt Nam. Sau đó, ông tham gia các hoạt động phản chiến và in nhiều thi tập khác. Nhà thơ D.F. Brown sinh năm 1948 tại Springfield, Missouri. Ông phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 tới 1977, trong đó từng giữ nhiệm vụ lính cứu thương trong tiểu đoàn Bravo, 1/14th Infantry tại chiến trường Việt Nam các năm 1969–70. Năm 1984, Brown in tập thơ đầu tay, nhan đề Returning Fire, trong đó, bài thơ ngắn nhất có nhan đề ghi bằng tiếng Pháp “L’Eclatante Victoire de Khe Sanh” (Chiến Thắng Huy Hoàng tại Khe Sanh).
Mariupol | không phải Sài gòn | mà trái tim tôi nặng trĩu | có bất công không | tôi và trái tim | đã chồng bốn mươi bảy năm của nỗi đau trường kỳ lên vai Mariupol
nói lời giã biệt với một ly cà phê không đường | có cần gì mật ngọt | một ngày nào hồi tưởng | mỉm cười ta đã thử mọi hương vị của tình yêu | mối tình không đi tới đâu, dấu chấm than tất nhiên là những hớp cà phê đậm
sau bấy nhiêu năm / con dốc không già hơn / không nghèo hơn / không trơ trọi hơn / nó chỉ biến / nó chỉ mất / không để lại một dấu tích...
tháng tư / mùa xuân trở mình / lung lay những ký ức và phế thải ngủ quên...
Trở về rồi, Thầy có thấy gì không? / Đôi mắt em, trên hàng cây phượng đỏ / Khi đầu hè hoa trổ bông rực rỡ / Sợ ngày chia tay lá khép chờ mong...
Chuyện tích xưa, nơi kinh thành Xá Vệ / Cung điện nguy nga, lộng lẫy cõi nhân gian / Vua Tịnh Phạn, trên ngai vàng tối thượng / Hoàng hậu Ma Da, ngôi phượng các uy nghi...
Mẹ giờ ở phía mây bay / Có khi tịnh độ phương Tây niết bàn / Có khi hồn phách miên man / Lối về quê với hàng hàng sương giăng...