Cà Phê Và Máu

20/02/202115:18:00(Xem: 3742)

20210216_131135 (2)
Minh hoạ Ann Phong

 

Hầu hết những ai thức dậy sớm

cần ly cà phê.

Buổi sáng

không ai uống nước mắm

dù rất ngon,

rất đặc thù Việt Nam.

Sở thích và tình quê thường mâu thuẫn.

 

Không có ly cà phê,

có thể buồn lòng, có thể buồn ngủ.

Không chăm sóc quê hương,

sẽ buồn cười,

như con cái ở nhà cha mẹ

tưởng lầm ở trọ miễn phí.

 

Có thể chúng ta ghiền cà phê,

không ghiền quê hương.

Cả hai đều đắng.

Một bên có thể pha đường.

Một bên cần pha máu.

Đứt tay đã đau.

Huống gì bứt ruột xé gan.

 

Những ai thức dậy sớm

vì đêm qua tình quê thao thức,

cần đổ máu hay cần ly cà phê?

 

Những ai thức dậy sớm

vì tiếng kêu dân tộc,

không phải khách trọ,

không miễn phí.

Hãy chăm sóc nơi đang ở.

Không ai có thể chết

vì nhỏ vài giọt máu.

 

Sở thích là nhận vào.

Quê hương là trao ra,

Một người chỉ có thể hoàn tất,

khi quê hương chính là sở thích.

Ngu Yên

 

Mời Đọc Tập Thơ:

Mê Sảng. (Thơ Tuyển về Quê Hương)

https://www.academia.edu/44720256/M%C3%AA_S%E1%BA%A3ng

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong thơ ta có gió / Để tháng ngày ngao du / Trong thơ ta có núi / Đứng bên bờ ưu tư...
Gerald McCarthy vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 17 tuổi, phục vụ tại Việt Nam trong hai năm 1966-1967, trong Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu Hoa Kỳ (1st Combat Engineer Battalion) tại Chu Lai và rồi tại Đà Nẵng. Sau một nhiệm kỳ trong quân ngũ, McCarthy đào ngũ, bị bắt vào một nhà tù dân sự rồi chuyển vào quân lao. Những bài thơ đầu tiên của ông gom lại ấn hành trong thi tập War Story, ghi lại các suy nghĩ với kinh nghiệm tại Việt Nam. Sau đó, ông tham gia các hoạt động phản chiến và in nhiều thi tập khác. Nhà thơ D.F. Brown sinh năm 1948 tại Springfield, Missouri. Ông phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 tới 1977, trong đó từng giữ nhiệm vụ lính cứu thương trong tiểu đoàn Bravo, 1/14th Infantry tại chiến trường Việt Nam các năm 1969–70. Năm 1984, Brown in tập thơ đầu tay, nhan đề Returning Fire, trong đó, bài thơ ngắn nhất có nhan đề ghi bằng tiếng Pháp “L’Eclatante Victoire de Khe Sanh” (Chiến Thắng Huy Hoàng tại Khe Sanh).
Mariupol | không phải Sài gòn | mà trái tim tôi nặng trĩu | có bất công không | tôi và trái tim | đã chồng bốn mươi bảy năm của nỗi đau trường kỳ lên vai Mariupol
nói lời giã biệt với một ly cà phê không đường | có cần gì mật ngọt | một ngày nào hồi tưởng | mỉm cười ta đã thử mọi hương vị của tình yêu | mối tình không đi tới đâu, dấu chấm than tất nhiên là những hớp cà phê đậm
sau bấy nhiêu năm / con dốc không già hơn / không nghèo hơn / không trơ trọi hơn / nó chỉ biến / nó chỉ mất / không để lại một dấu tích...
tháng tư / mùa xuân trở mình / lung lay những ký ức và phế thải ngủ quên...
Trở về rồi, Thầy có thấy gì không? / Đôi mắt em, trên hàng cây phượng đỏ / Khi đầu hè hoa trổ bông rực rỡ / Sợ ngày chia tay lá khép chờ mong...
Chuyện tích xưa, nơi kinh thành Xá Vệ / Cung điện nguy nga, lộng lẫy cõi nhân gian / Vua Tịnh Phạn, trên ngai vàng tối thượng / Hoàng hậu Ma Da, ngôi phượng các uy nghi...
Mẹ giờ ở phía mây bay / Có khi tịnh độ phương Tây niết bàn / Có khi hồn phách miên man / Lối về quê với hàng hàng sương giăng...
em tôi sanh 7 tháng 5 / thua tôi năm tuổi / năm năm cuộc đời / rừng màu em mãi rong chơi / đêm rung hương bố / ngày vung cọ màu...