Nguyên Thủy

08/07/202111:03:00(Xem: 4443)

VB-2014-N5
Minh họa: Nguyễn Việt Hùng

 


nguyên thủy là tiếng nói êm đềm

của hoa mùa xuân hé nụ

đầu ngày chưa ai hái

lời của trái tim buổi sáng thức dậy

thèm nghe một dịu dàng bên tai

 

nguyên thủy là kêu gọi trở về

nơi cánh đồng của những trong lành tươi mát

chưa nảy sinh những dị biệt

chân đi trên phù sa

ướt những tấm lòng xanh ngát bao la

 

nguyên thủy là màu sắc bức tranh

treo giữa cuộc đời

bên sáng bên tối

đôi khi là nghi hoặc

mong chờ được thánh hóa bởi niềm vui

 

nguyên thủy là đêm hào sảng

ngày tâm giao nhìn trăng tàn

địa cầu sóng sánh đáy ly

chiếc ghế lung lay không vững

chỉ có ánh mắt thật sự trao nhau

 

nguyên thủy là bầu trời đầy sao

nhắc nhở sự bền bỉ của ánh sáng

triệu năm không phai nhạt

chiếu lên mặt gầy và tóc bạc

ân cần tìm nhau góc thiên thu

 

thy an

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Con cúi đầu kính lễ Ân Sư, Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) mang theo kho tàng trí tuệ vô tận, lòng từ bi vô biên và hùng lực vô úy đã hiện thân vào thế giới này. Từ gia tộc Phạm thế mà chủng tánh Bồ-đề đã ăn sâu trong lòng đất khô cằn nơi miền Trung nước Việt, Thầy lớn lên trong chốn Già-lam tịnh địa. Nhờ thiện căn túc thế nhiều đời, Thầy được thế phát xuất gia nhập đạo từ thuở ấu thời theo bước chân siêu tuyệt của Như Lai, “đến mà không đến, đi mà không đi.”(1) “Ba cõi bất an như nhà lửa,”(2) đất nước chìm trong chiến cuộc điêu linh, Thầy không tiêu phí tuổi thanh xuân chỉ một lòng miệt mài kinh sử. Tri thức thường nghiệm thế gian không cản nổi chí cầu trí tuệ siêu việt của người Tăng sĩ trẻ cưu mang cốt cách xuất trần thượng sĩ.
Đó là tựa đề một bài viết của nhà thơ Phan Tấn Hải, và đây là kết của bài: “Chữ nghĩa không vô ích. Chúng ta trong cõi này hãy rủ nhau làm thơ, đọc thơ, ngâm thơ, in thơ, hát thơ… Nếu chúng ta không đủ sức nương vào thơ để ngộ nhập tri kiến Phật, và nếu chúng ta cũng không có đủ sức mạnh của hát thơ để chữa sản nạn như thời Vua Hùng Vương, ít nhất thơ cũng giúp chúng ta giảm được những đau đớn của trần gian này, kể cả khi buộc phải nghe tới bốn dòng thơ ly biệt tương tự của Cha Rồng và Mẹ Tiên thời lập quốc dân tộc Việt Nam (Ta là giống Rồng / Mình là giống Tiên / Thủy thổ khắc nhau / Không ở cùng được.) Nàng thơ ơi, hãy cứu lấy trần gian này. Hãy biến tất cả những trận mưa bom trên trần gian này thành các trận mưa thơ…” (Phan Tấn Hải, Thơ sẽ chữa lành thế giới
Quờ tay chạm tháng mười hai / Nghe ta lành lạnh, nghe ngày run run...
Anh còn nhớ một ngôi nhà cuối phố? Ngõ chè tàu xanh biếc lối đi quen...
Hơi lạnh đâu lén ùa về / Ngoài hiên tối đã tràn trề từ lâu...
Xác ai trong túi vải / Làm sao nhận ra nhau / Màu trắng một màu trắng / Ôi Mẹ, ôi Con đâu!
Đông đã mùa. Chiều lật bật / Cây thôi lá độ xưa vàng / Tà huy cũ. Xiêm y phơ phất...
Thơ của hai thi sĩ San Phi & Hoàng Xuân Sơn...
người chết không hót không bay không nhảy múa | con hạc mào đỏ* xếp cánh thôi mơ thôi thơ | con chó thất lạc buồn rầu
Cặp đùi này, chẳng hạn, là của em. | Vòng tay anh, trở lại ôm lấy bản thân | Ngón tay, bờ môi thu hồi | định quyền sở hữu.
Cách tân – truyền thống, sự tương phản nhờ đó thật rõ nét qua phong cách thơ, thi pháp, thi ảnh, cấu tứ, cảm xúc, trong thơ Nguyễn Thị Khánh Minh, Lưu Diệu Vân, ThụyVy, Hoàng Xuân Sơn, Nguyễn Hàn Chung, Ben Oh. Việt Báo trân trọng giới thiệu...
Ta về một cõi tâm không / Vẫn nghe quá khứ ngập trong nắng tàn / Còn yêu một thuở đi hoang / Thu trong đáy mắt sao ngàn nửa khuya / Ta đi dẫm nắng bên đèo / Nghe đau hồn cỏ rủ theo bóng chiều / Nguyên sơ là dáng yêu kiều / Bỗng đâu đảo lộn tịch liêu bến bờ / Còn đây góc núi trơ vơ / Nghìn năm ta mãi đứng chờ đỉnh cao